Guanxi vs networking: Distinctive
configurations of affect- and cognition-
based trust in the networks of Chinese vs
American managers
Guanxi vs mạng lưới: những khía cạnh khác nhau của
niềm tin dựa trên cơ sở cảm tính và lý tính của những nhà quản
lý Trung Quốc và Mỹ
Roy Y J Chua
1
, Mchiael W Morris
2
và paul Ingram
2
1
Havard Business School, Boston, USA
2
Columbia University, Columbia Business School, New York, USA
Địa chỉ thư:
Người dịch: Nguyễn Xuân Quang
Đại học Ngoại thương Hà Nội
Tóm tắt
Nghiên cứu này tìm hiểu giả thuyết về sự khác biệt giữa các nhà quản lý
người Mỹ và người Trung Quốc trong các mối quan hệ tín nhiệm tồn tại trong
mạng lưới nghề nghiệp của họ. Một cuộc điều tra hệ thống về tự kỉ trung tâm
(lấy mình làm trung tâm) cho thấy niềm tin dựa trên tình cảm (niềm tinh cảm
tính) và dựa trên nhận thức (niềm tin lý tính) gắn liền với các nhà quản lý
người Trung Quốc hơn so với những nhà quản lý người Mỹ. Điều này phù
hợp với giả thuyết về chủ nghĩa tập thể gia đình của người Trung Quốc. Ngoài
quán được biết tới như mạng lưới phương tây (Wellman, Chen và Dong,
2001). Nghiên cứu hiện nay mới đi được nửa chặng đường trong quá trình
hình thành các khái niệm khoa học xã hội phương Tây và các phương pháp
nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt giữa văn hóa Trung Quốc và văn hóa Mỹ về
hình thái của niềm tin trong mạng lưới nghề nghiệp của các nhà quản lý.
Chúng ta cho rằng việc kinh doanh của người Trung Quốc so với của
phương Tây được phân biệt rõ rệt bởi niềm tin trong các mối quan hệ kiểu gia
đình (family-like), nơi các mối liên hệ tình cảm gắn liền với những trao đổi
mang tính công cụ; và nơi, sự tin tưởng vào một ai đó phụ thuộc phần lớn vào
sự gắn bó của người đó trong hệ thống chung. Chúng tôi phát triển giả thuyết
từ ý tưởng chủ nghĩa tập thể gia đình của người Trung Quốc, hình thành nên
sự khác biệt giữa niềm tin xuất phát từ trái tim (dựa trên cơ sở tình cảm: niềm
tin cảm tính) và niềm tin xuất phát từ cái đầu (dựa trên cơ sở nhận thức: niềm
tin lý tính). (Lewis & Weigert, 1985; McAllister, 1995). Một cách cụ thể,
chúng tôi điều tra mức độ mà hai kiểu niềm tin này gắn bó với nhau trong các
mối quan hệ kinh doanh đối với các nhà điều hành người Trung Quốc so với
các nhà quản lý người Mỹ. Chúng tôi cũng kiểm chứng sự khác biệt văn hóa
trong (a) đặt niềm tin cảm tính vào một người khác liên hệ như thế nào với
việc nhận được các nguồn lực kinh tế và tình bạn trong mối quan hệ và (b)
niềm tin lý tính dành cho một ai đó dựa trên mức độ gắn kết của người đó
vào mạng lưới chung. Chúng tôi tập trung phân tích vào sự tin tưởng, vì nó là
nhân tố vô cùng quan trọng đối với trao đổi xã hội hiệu quả và thường được
viện dẫn trong cả mạng lưới xã hội lẫn trong nghiên cứu guanxi. Các tiếp cận
của nghiên cứu này cho phép chúng ta làm sáng tỏ một cách thường xuyên
những khác biệt đã được bàn tới trong hệ thống mạng lưới nghề nghiệp của
người Mỹ và người Trung Quốc bằng cách làm rõ cấu trúc xã hội của niềm tin
khác biệt giữa hai nền văn hóa trên như thế nào.
CÁC MÔ HÌNH VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ TIN TƯỞNG
Sự tin tưởng dựa trên cảm xúc và dựa vào nhận thức
Nghiên cứu về niềm tin đã phân biệt những đặc tính xác định và đặc
Vậy chính xác là những tiêu chuẩn nào
2
đã làm nên sự khác biệt trong
mối quan hệ gia đình Trung Quốc? Yang (1998) đưa ra 4 đặc điểm xác định
quan trọng về chủ nghĩa tập thể gia đình:
(1) sự phụ thuộc lẫn nhau
(2) cấu trúc quyền lực theo cấp bậc
(3) sự thống trị của mối quan hệ gia đình đối với các mối quan hệ
khác và
(4) sự ưa thích mô hình gia đình mở rộng
Chúng ta hãy cùng xem xét lần lượt từng đặc điểm trên
Đặc điểm đầu tiên của mối quan hệ gia đình là các thành viên trong gia
đình phụ thuộc lẫn nhau về nguồn lực và sự hỗ trợ, từ lao động tới tài chính.
Đồng thời, mối quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng và vợ,
giữa anh chị em ruột thường rất gắn bó mật thiết về mặt tình cảm, chỉ có tình
yêu trai gái và tình bạn thân thiết mới có thể sánh được. Do vậy mối quan hệ
gia đình có xu hướng kết hợp sự gần gũi tình cảm với những mối quan tâm vật
chất. Những mối quan hệ trong một gia đình được khác biệt hóa cao dựa trên
thứ bậc, mỗi thành viên trong gia đình có đảm nhiệm vai trò và trách nhiệm
cụ thể. Ví dụ, dù cho tình cảm hiện hữu rõ nét trong các mối quan hệ gia đình,
sợi dây tình cảm giữa cha mẹ - con cái được khác biệt hóa rõ nét so với tình
cảm anh chị em trong gia đình. Thứ ba, mối quan hệ tương tác trong gia đình
thường chiếm ưu thế so với những hình thức tương tác xã hội khác. Phần lớn
người Trung Quốc đều dành rất nhiều thời gian quan hệ với các thành viên
trong gia đình trong các bữa ăn cùng nhau và các buổi gặp mặt gia đình đều
đặn. Mối quan hệ gia đình được ưu tiên hơn nhiều so với các mối quan hệ
ngoài gia đình. Thứ tư là người trung Quốc có xu hướng hình thành mạng lưới
gia đình mở rộng. thậm chí nếu như họ không sống cùng một mái nhà, người
Trung Quốc vẫn thích sống gần các thành viên trong gia đình và thăm nom
nhau thường xuyên, giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết. Mô hình mạng lưới gia
thành tích đạt được (track record), quan trọng là các đối tác kinh doanh phải
có một mối quan hệ tình cảm. Ít mối quan hệ kinh doanh của người Trung
Quốc phát triển mà không đi đôi với trao đổi cảm xúc xã hội ví dụ như cùng
ăn, tặng quà hoặc quan hệ xã hội với gia đình của nhau. Do đó các mối quan
hệ kinh doanh tin cậy lẫn nhau có xu hướng kết hợp các nhân tố công cụ
(instrumental) và tình cảm: sự tin tưởng dựa trên cảm tính và lý tính do đó có
thể có hòa quyện vào nhau trong hệ thống quan hệ giữa các nhà quản lý Trung
Quốc.
Mặc dù sự hòa trộn giữa mối quan hệ tình cảm gần gũi với công việc
cũng xảy ra trong văn hóa Mỹ nhưng tồn tại những căng thẳng đáng kể làm
biến dạng hai hình thức quan hệ này (Zelier, 2005). Một ảnh hưởng kế thừa
của đạo tin lành (Weber, 1904/1930) cho rằng mối quan hệ về mặt cảm xúc
trong kinh doanh là không chuyên nghiệp. Các quyết định đưa ra tại công sở
phải được chi phối bởi các tiêu chuẩn phi cá nhân về hiệu suất và hiệu quả.
Đồng thời, các quy tắc về tình bạn của phương tây có nói tới quy tắc tình bạn
đích thực là không vụ lợi (không tính toán tới những lợi ích công cụ/phương
tiện (instrumental) (Silver, 1990). Do vậy một mối quan hệ trong đó hòa trộn
công việc và tình cảm thân thiết có nguy cơ vi phạm các quy tắc của phương
Tây về công việc và tình bạn. Ví dụ, trong nghiên cứu của mình về các nhà
quản lý khách sạn người Úc, Ingram và Roberts (2000: 418) đã chỉ ra rằng
“khi họ có bạn trong số những người quản lý khách sạn khác thì những quản
lý khách sạn đó không còn là bạn thân nhất của họ nữa. Nhân tố công
cụ/phương tiện có lẽ đã hạn chế họ về phương diện tình cảm. Nếu tính công
cụ và tình cảm trong cùng một mối quan hệ tạo căng thẳng cho người Mỹ, họ
có thể giảm bớt khả năng tạo dựng niềm tin cảm tính và lý tính với cùng một
người. Do vậy chúng ta cho rằng mặc dù niềm tin cảm tính và lý tính có thể
cùng xảy ra trong những mối quan hệ kinh doanh của người Mỹ (McAllister,
1995) thì những điều này phổ biến hơn đối với các doanh nhân Trung Quốc
trong hoàn cảnh quy chuẩn của chủ nghĩa tập thể gia đình.
Giả thuyết 1: Sự tin cậy trên cơ sở cảm tính và lý tính có thể gắn bó
với (overlaid with) tình cảm thân thiết gắn bó. Do vậy, đối với các nhà quản
lý Trung Quốc, sự tồn tại của sự phụ thuộc kinh tế trong một mối quan hệ có
thể làm tăng sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm.
Giả thuyết 2a: Sự hiện diện của mối quan hệ phụ thuộc về mặt kinh tế
liên quan tích cực hơn tới sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm đối với các nhà
quản lý Trung Quốc so với các nhà quản lý người Mỹ.
Môi quan hệ bạn bè và sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm
Sự tin cậy trên cơ sở tình cảm có xu hướng liên quan tới mối quan hệ
bạn bè hơn là các mối quan hệ phi bạn bè trong mạng lưới hoạt động của các
nhà điều hành quản lý (Chua, Ingram & Morris, 2008). Tuy nhiên, chúng tôi
cho rằng sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm xoay quanh quan hệ bạn bè của
người Trung Quốc ở mức thấp hơn so với người Mỹ. Một đặc điểm của chủ
nghĩa tập thể gia đình được phản ánh trong 3 mối quan hệ gia đình trong các
mối quan hệ chính yếu của đạo Khổng (quan hệ cha-con, vợ - chồng, anh trai-
em trai) đều là quan hệ thứ bậc. Những quan hệ thứ bậc kiểu này gần gũi về
mặt tình cảm theo một cách khác biệt so với mối quan hệ bạn bè. Trong khi
người Mỹ có thể kết bạn với một giáo viên được mọi người yêu quý hoặc một
người địa vị cao hơn thì người Trung Quốc lại có nhiều khả năng phát triển
mối quan hệ tình cảm với những người này mà không kết bạn với họ. Tình
cảm này có thể bao gồm sự ngưỡng mộ và sự tôn trọng, tôn kính chứ không
phải là sự cảm thông và đồng cảm như trong tình bạn (Morris, Podolny, &
Sullivan, 2008). Tương tự như vậy, một người Trung Quốc sẽ ít có khả năng
coi một người địa vị thấp hơn là bạn. Tóm lại, tình bạn chỉ là (is but one of)
một trong nhiều nguồn phân biệt (differentiated sources) để từ đó phát triển
sự tin tưởng trên cơ sở tình cảm trong văn hóa Trung Quốc. Hơn nữa, nếu
quan hệ gia đình thống trị các mối quan hệ khác thì quan hệ bạn bè thường ít
được coi trọng hơn so với tình cảm gia đình, do vậy, sẽ tương đối khó để dự
báo khả năng hình thành niềm tin trên cơ sở tình cảm từ mối quan hệ bạn bè.
(hence should be comparatively less predictive of affect-based trust).
Trái lại, các quy tắc trong văn hóa Mỹ không nhấn mạnh vai trò
giúp từ phía những người này.
Hơn thế, những alter có tính gắn kết được coi là đáng tin cậy.
Một alter càng có nhiều quan hệ gắn kết trong mạng lưới của ego thì chi phí
xã hội của alter tác động lên ego càng cao. Với việc các quy phạm trong chủ
nghĩa tập thể gia đình của Trung Quốc khiến các nhà quản lý trở nên nhạy
cảm hơn với sự ủng hộ xã hội tiềm năng từ những người khác trong mạng lưới
của họ (Tong & Yong, 1998; Xiao & Tsui, 2007; Yang, Van de Vliert, & Shi,
2005) thì sự gắn kết sẽ có hiệu quả cao hơn đối với người Trung Quốc giống
như một hình thức bảo hiểm xã hội. Do đó, mối quan hệ gắn bó của alter có
thể làm tăng nhận thức của ego về độ tin cậy của các alter. Nhận thức về độ
tin cậy và năng lực tăng cường của alter sẽ làm tăng niềm tin trên cơ sở nhận
thức/lý tính của ego đối với alter đó.
Trái lại, trong văn hóa Mỹ người ta nhấn mạnh vào các thành tích
và thành công cá nhân (Oyserman & Markus, 1993; Triandis, 1995). Mặc dù
những doanh nhân người Mỹ cũng viện đến sự giúp đỡ từ phía những người
khác, ít có khả năng họ nhờ tới các mối quan hệ của các cộng sự. Ngoài ra,
bởi vì chủ nghĩa cá nhân làm cho người mỹ bớt lo lắng về sự tán thành của xã
hội hơn so với người Trung Quốc (Markus & Kitayama, 1991; Oyserman,
1993), sự gắn kết của các alter có lẽ không hiệu quả bằng hình thức bảo hiểm
xã hội chống lại tình trạng ly khai (against defection). Do vậy, tác động của
mối quan hệ gắn kết lên nhận thức về độ tin cậy sẽ không mạnh như vậy. Tóm
lại, chúng ta dự đoán rằng sự gắn kết của alter sẽ có tác động tích cực hơn
nhiều tới niềm tin trên cơ sở nhận thức của người Trung Quốc so với người
Mỹ.
Giả thuyết 3: Mức độ gắn kết của một alter trong hệ thống của ego sẽ
làm tăng sự tin tưởng trên cơ sở nhận thức của ego ở mức độ lớn hơn đối với
người Trung Quốc so với người Mỹ.
Khi bàn về chủ đề sự gắn kết thì cũng cần xem xét mối liên hệ giữa sự
gắn kết và niềm tin trên cơ sở tình cảm. Dựa trên quan điểm của Coleman
(1990) cho rằng mật độ cao thúc đẩy tính thống nhất, do vậy có thể tồn tại
(14%) và phát triển kinh doanh (14%).
Quy trình
Những đối tượng tham gia nghiên cứu (các ego) hoàn thành một cuộc
điều tra hệ thống trong đó yêu cầu họ liệt kê tới 24 mối quan hệ (các alter) mà
họ cho là quan trọng nhất trong mạng lưới nghề nghiệp của mình. Những
alters này không hạn chế ở những người tại nơi làm việc của họ. Với mỗi mối
quan hệ được liệt kê, các đối tượng tham gia nghiên cứu được yêu cầu cung
cấp chi tiết bản chất của mối quan hệ đó (ví dụ: mức độ thường xuyên gặp gỡ
quan hệ và thời gian quen biết). Những người tham gia này cũng phải chỉ rõ
liệu có bất kì mối liên hệ nào tồn tại giữa những người họ đã liệt kệ là có quan
hệ hay không.
Các thước đo
Niềm tin cảm tính và lý tính. Các thước đo của niềm tin trên cơ sở tình
cảm (cảm tính) và trên cơ sở nhận thức (lý tính) được phỏng theo những thang
điểm sử dụng trong nghiên cứu của McAllister (năm 1995). Đối với niềm tin
cảm tính, các đối tượng tham gia phải chỉ rõ 5 thang điểm (1=không một chút
nào, 5=ở mức độ cao) về mức độ họ cảm thấy thoải mái khi tìm tới mỗi đối
tượng mà họ đã liệt kê là có quan hệ với mình nhằm (1) chia sẻ những rắc rối
và khó khăn cá nhân và (2) chia sẻ những mơ ước và hy vọng của bản thân.
Những thang điểm sẽ cho thấy mức độ cảm xúc bị phụ thuộc và bị tổn thương
trước một người khác ra sao. Đối với niềm tin lý tính, các đối tượng tham gia
chỉ rõ 5 thang điểm như trên về mức độ tin cậy của một đối tượng thuộc danh
sách các mối quan hệ trong việc (1) hoàn thành nhiệm vụ mà anh ta/hoặc cô ta
hứa sẽ thực hiện và (2) có kiến thức và năng lực để thực hiện nhiệm vụ.
Những thang điểm này sẽ nắm bắt mức độ sẵn sàng phụ thuộc vào người khác
trên cơ sở bằng chứng. Chúng ta chỉ sử dụng hai thang điểm đánh giá đối với
mỗi loại niềm tin phần lớn là nhằm giảm thiểu sự mệt mỏi của những người
tham gia: trong những cuộc điều tra hệ thống, những người tham gia phải trả
lời một loạt các câu hỏi như nhau với số lần bằng với số mối quan hệ họ đã
liệt kê ra trước đó. Tuy nhiên, với việc các thang điểm được lựa chọn đã được
(2) tình bạn và các hoạt động giải trí xã hội;
(3) thông tin hoặc lời khuyên nhằm hoàn thành nhiệm vụ; và
(4) thông tin về chỉ dẫn nghề nghiệp và các cơ hội.
Mặc dù các giả thuyết của chúng tôi chỉ tập trung vào sự độc lập kinh tế
và gắn kết của tình bạn, chúng tôi nhận được 2 loại hình trao đổi nổi bật khác
do những nhân tố này là phổ biến trong tương tác quản lý. Nội dung của
những ràng buộc của mạng lưới được nắm bắt thông qua việc sử dụng những
mã giả, có nghĩa là, được đánh dấu “1” nếu dạng cụ thể của nguồn lực đang
được hấp thụ và 0 nếu ngược lại. Bốn hạng mục trên không có tính loại trừ
nhau, do đó một alter sẵn có có thể đưa ra nhiều nguồn lực.
Sự gắn liền của Alter: Những thành viên chỉ ra liệu những mối quan hệ
tích cực có tồn tại trong những alter được liệt kê không thông qua việc điền
vào một bán ma trận (half-matrix) trong đó mỗi ô đại diện cho mối quan hệ
giữa 2 alters. Cụ thể, người ta nói với những người tham gia rằng những mối
quan hệ tích cực có thể gần gũi (có nghĩa là, khi những người làm việc rất gần
nhau hoặc có mối quan hệ tình bạn thân thiết) hoặc không đặc biệt gần gũi (có
nghĩa là những người biết nhau nhưng không giao tiếp thường xuyên, hoặc
không phải là bạn thân, hoặc đối thủ). Sự gắn liền của alter là số lượng các
mối liên hệ tích cực được quan sát tồn tại giữa một alter và những thành viên
khác của mạng lưới trên (chia cho) tổng mối liên hệ có thể diễn ra mà alter
này có thể có với những thành viên khác này (ngoại trừ những mối liên hệ
giữa alter và ego). Chúng tôi cũng thu thập dữ liệu về những mối quan hệ tiêu
cực giữa những alter, nhưng những mối quan hệ này là tương đối hiếm và
không có bất kỳ hiệu ứng nào đối với giả thuyết của chung tôi.
Các biến điều chỉnh
Quy mô mạng lưới: Các lý thuyết mạng lưới thường giả định rằng cá
cá nhân có khả năng quan hệ tiềm tàng, và rằng các chi phí cảm tính và lý tính
của việc quy trì các mối quan hệ đã đặt ra một giới hạn trên (giới hạn trần) đối
với số lượng của các mối quan hệ mà bất kỳ cá nhân nào có thể duy trì một
cách hiệu quả (Granovetter, 1973). Trong ngữ cảnh của chúng ta, có khả năng
khỏi đối tượng phân tích. Chúng tôi cũng xem xét những biến dân số khác như
độ tuổi, cấp bậc (ca của hơn, thấp hơn hay ngang hàng) của alter, và liệu họ
có khác biệt về mặt giới tính hoặc chủng tộc với ego không. Những chỉ số này
sau đó được tái mã hóa thành 2 biến giả “cấp bậc cao hơn” và “cấp bậc thấp
hơn”; “cấp bậc ngang bằng” bị loại trừ khỏi đối tượng được phân tích. ĐỐi
với khác biệt về giới tính và chủng tộc, thành viên chỉ chỉ định liệu alter có
giới tính hoặc chủng tộc khác không (được đánh dấu “1” nếu ego và alter
khác biệt xét trên cơ sở dân số và “0” nếu ngược lại).
Hàm số về công việc và ngành nghề của ego. Nhằm điều chỉnh những
ảnh hưởng có thể xảy ra mà hàm nghề nghiệp và công nghiệp tác động lên
niềm tin, chúng tôi đã bổ sung miêu tả công việc của những người tham gia từ
nhóm “face book” và mã hóa chúng thành 8 ngành công nghiệp chính (tài
chính/ngân hàng, tư vấn, sản phẩm tiêu dùng, thuốc/dược liệu, truyền thông,
sản xuất, công nghệ thông tin và các đối tượng khác). Biến giả đối với những
nhóm này được sử dụng như biến điều chỉnh trong phân tích hồi quy.
Phân tích
Các biến trong số liệu của chúng tôi được phân bố theo thứ bậc. Cụ thể,
gần 24 mối quan hệ 2 người được gắn liền với một ego có trước. Niềm tin,
biến độc lập của chúng tôi, được khái niệm hóa và tín toán theo mức độ 2
người, cũng như những biến khác như mức độ thường xuyên của tương tác và
thời gian quen biết. Trong số liệu của chúng tôi, tín nghiệm được tín toán theo
một hướng duy nhất, có nghĩa là, chúng tôi chỉ đánh giá mức độ trong đó ego
tin cậy alter mà không phải chiều ngược lại. Các biến khác như quy mô mạng
lưới là các nhân tố cấu thành ở cấp độ cao hơn và được tính toán tại cấp độ
mạng lới đối với mỗi ego.
Một mối quan tâm về mặt phương pháp trong phân tích của chúng tôi là
những quan sát không độc lập xét trên khía cạnh mỗi ego gắn liền với rất
nhiều alter. Phân tích không tính toán đến những cấu trúc thông tin được đưa
vào (nested data) có thể dẫn tới việc diễn giải sai những tác động của một
mạng lưới nhất định (Klein, Dansereau, & Hall, 1994). Nhằm giải quyết vấn
b= -0,15; p<0,01) là âm và lớn. Do chúng ta đã mã hóa các biến quốc gia là 1
đối vơi Mỹ và 0 đối với Trung Quốc, điều này có nghĩa
Bảng 1: Số liệu miêu tả và tương tác
Nước: Mỹ (N=131)
1. Niềm tin cảm tính
2. Niềm tin lý tính
3. Tình bạn
4. Lời khuyên trong cv
5. Phụ thuộc kinh tế
6. Thông tin và hướng
dẫn nghề nghiệp
7. Vị trí Alter cao hơn
ego
8. Vị trí Alterthấp hơn
ego
9. Alter khác giới tính
ego
10. Alter khác dân tộc
với ego
11. Mức độ gắn kết
của later
12. Cường độ tương
tác
13. Thời gian mối
quan hệ
14. Quy mô mạng lưới
tính ego
10. Alter khác dân
tộc với ego
11. Mức độ gắn
kết của later
12. Cường độ
tương tác
13. Thời gian mối
quan hệ
14. Quy mô mạng
15. Ego là nam
16. Alter trong đơn vị
là iệc của ego
17. Al r không
tr ổ chức
của ego
18. Tuổi của alter
m v
te
ong t
Mức độ gắn kết của Alter
Các tương tác quốc gia cơ
bản
Quốc gia* niềm tin lý tính (H1)
Quốc gia* niềm tin cảm tính (H1)
Quốc gia* ràng buộc phụ
thuộc kinh tế (H2a)
Quốc gia* ràng buộc tình bạn
Quóc gia * ràng buộc lời
khuyên trong công việc
Quốc gia* ràng buộc hướng
dẫn nghề nghiệp
Quốc gia* mức gắn kết của alter (H3)
Các biến điều chỉnh
Quy mô mạng lưới
Biến
p
h
ụ
thu
ộ
c Mô hình
Ni
ềm tin cảm tính
Ni
ềm tin lý tính
Bảng 2: Hồi quy các tác động ngẫu nhiên đối với niềm tin cảm tính và lý tính
Alter cùng
vị với e
Vị
hơn e
Vị
trí thấ
Tuổi c
Khác bi
giữa e
Khác bi
giữa alter
Số lượ
sát theo c
Mô hình R
Thay đổ
ụ thuộc
nam
ối quan
ường
ương tác
ổ
ego
đơn
go
trí Alter cao
go
trí Alter có vị
p hơn ego
Niềm tin l tính
Không tồn tại Tồn tại
Ràn
g
bu
ộ
c
p
h
ụ
thu
ộ
c kinh tế
Biểu đồ 1: Những tác động của quốc gia* ràng buộc phụ thuộc
kinh tế tới niểm tin cảm tính
Niềm tin cảm tính
Không tồn tại Tồn tại
R
àn
g
bu
ộ
c t
ì
nh b
ạ
n
Biểu đồ 2: Những tác động của quốc gia*ràng buộc tình bạn tới
Trung Quốc (b=0,45; p<0,01), củng cố Giả thuyết 2b. Dạng tương tác này
được biểu thị trong bảng 2.
Nhằm đánh giá tác động tương tác của quốc gia * độ gắn kết của alter
lên niềm tin dựa trên cơ sở lý tính (giả thuyết 3), chúng tôi gắn liền 2 mô hình
(mô hình 7 và 8 trong bảng 2) trong đó niềm tin dựa trên cơ sở lý tính là biến