Phân tích ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Xoá đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta, là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu, mục tiêu kinh tế - xã
hội cấp thiết. Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới và mở cửa, những thành tựu XĐGN
của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những “câu chuyện”
thành công nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Từ một nước nông nghiệp
lạc hậu với tỷ lệ nghèo chung 58,1% năm 1993 đến cuối năm 2008 chỉ còn 13,08%,
với tốc độ giảm nghèo bình quân trên 2,5%/năm.
Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua là kết quả của
việc thực hiện cải cách toàn diện các chính sách kinh tế - xã hội, đặc biệt là những cải
cách trong việc mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu quan trọng đã đạt được thì hiện nay và cả trong tương lai, nghèo đói vẫn là
một trong những thách thức lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) đất nước. Vì hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) hiện nay là một tất yếu
khách quan, có tác động đa chiều đến sự phát triển của không chỉ riêng Việt Nam mà
với tất cả các quốc gia, nó hàm chứa cả những động lực cho sự tăng trưởng kinh tế
nhanh nhưng cũng đe dọa đến thu nhập và cuộc sống của rất nhiều người trước nguy
cơ thất nghiệp và bần cùng hóa.
Những dẫn chứng trên cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài “Phân
tích ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
từ năm 1998 đến nay”. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở đưa ra giải pháp đẩy nhanh
tiến độ thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở nước ta trong thời gian tới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm phân tích thực trạng, cơ chế ảnh hưởng của hội nhập KTQT đến nghèo
đói, từ đó đề xuất khuyến nghị và giải pháp để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực,
phát huy những ưu thế của hội nhập, để hội nhập KTQT thực sự mang lại lợi ích cho
người nghèo ở Việt Nam.
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
1

2
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Một số vấn đề cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Bản chất và nguồn gốc
Nhận thức về hội nhập KTQT bắt nguồn từ nhận thức về quá trình toàn cầu
hóa, mà cốt lõi là toàn cầu hóa kinh tế. Về bản chất, đó là quá trình phát triển mạnh
mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực,
quốc gia, dân tộc, các nền kinh tế trên thế giới. Ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành
xu thế bao trùm, chi phối các mối quan hệ quốc tế và qua đó, chi phối sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Quá trình toàn cầu hóa đã diễn ra từ rất lâu gắn với sự ra đời của chủ nghĩa tư
bản, có nguồn gốc từ sự phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) trên phạm vi quốc
gia và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế giới. Sự tác động mạnh mẽ của các cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ với quá trình biến khoa học thành LLSX trực tiếp
đã làm thay đổi về chất LLSX của loài người, đưa loài người từ nền văn minh công
nghiệp đến nền văn minh tin học, từ cơ khí hóa sản xuất đến tự động hóa, tin học hóa
sản xuất. Cách mạng khoa học – công nghệ đang tạo ra những biến đổi căn bản và
sâu sắc không chỉ trong xí nghiệp sản xuất mà ngay cả trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường thế giới, sản xuất hàng hóa phát triển đã thúc đẩy
mở rộng phạm vi và đối tượng trao đổi, lưu thông. Hoạt động mua bán và đầu tư
được tiến hành dưới nhiều hình thức và diễn ra trên phạm vi ngày càng rộng lớn.
Quan hệ trao đổi hàng hóa, khoa học, công nghệ, đầu tư, hợp tác đào tạo,… dần dần
vượt ra khỏi biên giới quốc gia và hình thành các mối liên hệ quốc tế ngày càng đa
dạng và phức tạp. Cũng từ đó, các bên tham gia đã cùng nhau đặt ra các quy định,

hoàn thiện thể chế kinh tế, các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô.
+ Tham gia vào các tổ chức quốc tế, liên kết kinh tế khu vực và thế giới.
+ Thực hiện những cam kết quốc tế thông qua các hiệp định song phương và
đa phương về mở cửa thị trường, tạo điều kiện tự do trao đổi hàng hóa, dịch vụ, di
chuyển vốn, sức lao động, khoa học và công nghệ.
1
Ban tuyên giáo Trung ương, Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động – Xã hội, Hà
Nội, 2008.
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
4
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong nước với nước ngoài không chỉ bởi
chính sách, luật pháp quốc gia mà còn có luật pháp và những cam kết quốc tế.
1.1.2. Vai trò của hội nhập KTQT đối với mỗi quốc gia
Ngày nay, hội nhập KTQT ngày càng có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc
gia. Đặc biệt là các nước đang phát triển, hội nhập KTQT đã mang lại hiệu quả thiết
thực. Các nước này đã thu hút và sử dụng được khối lượng lớn vốn nước ngoài kết
hợp với việc phát huy và sử dụng hiệu quả nội lực thực hiện chiến lược công nghiệp
hóa hướng về xuất khẩu một cách linh hoạt, do vậy tiềm lực kinh tế không ngừng
được nâng cao. Vai trò của hội nhập KTQT được thể hiện:
- Hội nhập KTQT thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy
lợi thế so sánh của mỗi quốc gia: Cơ cấu kinh tế xét tổng thể bao gồm: cơ cấu kinh tế
- kỹ thuật (cơ cấu ngành kinh tế), cơ cấu kinh tế - xã hội (cơ cấu thành phần kinh tế)
và cơ cấu kinh tế vùng - lãnh thổ. Hội nhập KTQT sẽ thúc đẩy việc hình thành một
cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng phân công lao động quốc tế trên cơ sở lợi thế so
sánh của quốc gia. Đó là một cơ cấu kinh tế có khả năng thích ứng và đứng vững
trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt toàn cầu.
- Góp phần phát huy vai trò của các chủ thể, sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực của nền kinh tế: Trong tiến trình hội nhập KTQT, các chủ thể sẽ được tham gia
vào một thị trường toàn cầu rộng lớn với môi trường kinh doanh quốc tế tự do. Tham

trường địa phương làm thị trường quốc gia phát triển mở rộng hơn, trở thành một bộ
phận của thị trường thế giới.
1.1.3. Điều kiện để hội nhập KTQT thành công
Hội nhập KTQT là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có
nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức. Do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt
trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo từng trường hợp, thời điểm cụ thể.
Quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới cần được tiến hành qua các bước đi như
sau:
Trước tiên, phải xác định mục tiêu và bối cảnh của đất nước mình. Đây là điều
kiện tiên quyết quyết định sự thành công khi hội nhập. Bối cảnh hội nhập có thể là
những nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể trong điều kiện phát triển ổn định hoặc
khủng hoảng, suy thoái, hay nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, Trung
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Quốc… Mục tiêu của hội nhập là cắt giảm thuế, hay loại bỏ hoàn toàn sự can thiệp
của Nhà nước; cải cách đơn lẻ lĩnh vực thương mại hay kết hợp với những chương
trình cải cách khác. Cụ thể với Việt Nam, mục tiêu chủ động hội nhập KTQT là
nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh
CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
nêu ra trong các Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai là xác định phương pháp và cách thức tiến hành. Một số quốc gia thực
hiện cải cách theo những lộ trình và bước đi nhất định, những thay đổi từ từ kết hợp
với những cải cách ở các lĩnh vực khác (như Việt Nam). Một số nước khác lại thực
hiện quá trình hội nhập KTQT với chính sách cải cách theo “liệu pháp sốc” (Chilê,
Achentina…) tức là cải cách được thực hiện ngay lập tức với những thay đổi căn bản,
triệt để nhanh chóng. Việc xác định phương pháp này rất quan trọng, nếu không tính
toán kỹ có thể gây nên những tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ ba là phải có sự chuẩn bị kỹ càng những điều kiện phát triển trong nước
như: kiểm soát thị trường trước khi tiến hành mở cửa; kiểm soát hệ thống tỷ giá hối

.
Từ cách nhìn nhận trên, Liên Hợp Quốc đã đưa ra hai khái niệm chính về
nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Theo đó:
 Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống (ăn, mặc, ở và nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày gồm văn hoá, y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường).
 Nghèo tương đối: là nghèo khổ thể hiện ở sự bất bình đẳng trong quan hệ
phân phối của cải xã hội giữa các nhóm dân cư và vùng địa lý, được hiểu rộng hơn so
với nghèo tuyệt đối, là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức sống
trung bình của cộng đồng.
Thứ hai, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (Copenhagen,
Đan Mạch, 1995) đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói: “Người nghèo
là tất cả những ai có thu nhập thấp dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi
như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Phan Thị Hạnh Thu, 2007)
3
.
Thứ ba, định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB): “Nghèo đói là sự thiếu hụt
không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh
2
PGS. TS Trần Xuân Cầu, PGS. TS Mai Quốc Chánh. Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực. Nxb Đại học
Kinh tế Quốc dân, 2008. Tr 457.
3
Phan Thị Hạnh Thu. Tự do hóa thương mại và nghèo đói ở Việt Nam. Nghiên cứu Kinh tế. 12/2007, số 355,
Tr 7.
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
8
Chuyên đề tốt nghiệp
sinh lý học và xã hội học. Thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng nhu cầu vật chất
và sinh học như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục và nhà ở. Thiếu hụt về mặt xã hội
liên quan đến những khái niệm bình đẳng, rủi ro và được tự chủ, tôn trọng trong xã

phẩm” (nghèo đói ở mức thấp). Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung
cấp năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực.
Theo phương pháp trên, WB đã tính toán và đưa ra khuyến nghị chuẩn nghèo
đói cho các quốc gia vào cuối những năm 1990 như sau
4
:
+ Đối với các nước đang phát triển: Các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có
thu nhập dưới 1 USD/ngày;
+ Các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ngày;
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày;
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường thấp
hơn thang nghèo đói WB.
- Phương pháp của Việt Nam
Hiện nay có các phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèo đói như sau:
+ Phương pháp của Tổng cục Thống kê, dựa vào cả thu nhập và chi tiêu, xác
định 2 ngưỡng nghèo. Thứ nhất là “ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm” dựa theo
cách tiếp cận của WB. Ngưỡng nghèo thứ 2, thường gọi là “ngưỡng nghèo chung”,
bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực.
+ Phương pháp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, dựa trên thu nhập
của hộ gia đình, dùng để xác định chuẩn đói nghèo của chương trình XĐGN quốc
gia. Những người có mức thu nhập nằm dưới các giới hạn chuẩn (chuẩn nghèo) đã
quy định thì được coi là nghèo khổ.
Từ năm 1993 đến năm 2006, nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo. Chuẩn
nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg là:
200.000 đồng/người/tháng cho khu vực thành thị và 260.000 đồng/người/tháng cho
khu vực nông thôn. Tháng 7/2008, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp
với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch - Đầu tư nghiên cứu đề xuất phương án nâng chuẩn
4
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tài liệu tập huấn cán bộ giảm nghèo cấp tỉnh, huyện. Nxb Lao động

Bất lợi về vị trí địa lý (xa xôi, hẻo lánh, vùng sâu, vùng xa…là nguyên nhân
dẫn đến sự thiếu hụt các công trình cơ sở hạ tầng (CSHT), dịch vụ thiết yếu (đường
giao thông, điện, y tế, trường học…) làm cho người dân không có điều kiện trao đổi
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
11
Chuyên đề tốt nghiệp
thông tin, khó khăn trong việc thông thương, buôn bán, ít có điều kiện để tiếp cận với
các phúc lợi xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe. Đây là nhân tố quan trọng dẫn đến
đói nghèo và bất bình đẳng giữa các vùng, miền và giữa các dân tộc.
1.2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế trong nước phải dựa vào các yếu tố: tiêu dùng của dân cư,
đầu tư xã hội, tiêu dùng của Chính phủ và thu ngân sách Nhà nước, cuối cùng là các
chỉ tiêu xuất – nhập khẩu. Khi tăng trưởng kinh tế dương có nghĩa là các chỉ tiêu trên
cũng tăng trưởng mạnh và có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình nghèo đói của quốc
gia. Cụ thể là: khi tiêu dùng (tiết kiệm) của dân cư tăng có nghĩa là tăng thu nhập và
mức sống của dân cư; tăng yếu tố đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh đồng nghĩa
với tạo việc làm và giảm thất nghiệp; chi tiêu Chính phủ là dành cho những CSHT
thiết yếu và phúc lợi xã hội; chỉ tiêu xuất – nhập khẩu tăng lên làm tăng độ mở và
tính năng động cho nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tính cạnh
tranh ngày càng cao. Tóm lại, khi tăng trưởng kinh tế cao thì tỷ lệ thất nghiệp ở thành
thị giảm, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng lên, thu nhập và mức sống
dân cư được nâng lên và tỷ lệ nghèo đói giảm đi tương ứng.
Nhưng tăng trưởng kinh tế cao mà không chú trọng phát triển bền vững sẽ dẫn
đến bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư, các vùng, miền và
lảm cho mức độ nghèo đói thêm nghiêm trọng
 Chủ trương, đường lối, chính sách của mỗi quốc gia
Sự quan tâm của chính quyền của trung ương và địa phương, chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội trong đầu tư ban đầu, trong xây dựng CSHT, chính sách kinh tế
vĩ mô, chính sách đối ngoại: mở cửa hội nhập KTQT và tự do hóa thương mại, cải

thấp còn ảnh hưởng đến các quyết định về giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái…
Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai.
Do trình độ học vấn thấp nên người nghèo ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ
sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, nhiều yếu tố đầu vào sản xuất như điện,
nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón… Điều này làm tăng chi phí, giảm thu
nhập trên một đơn vị sản phẩm. Học vấn thấp, không có khả năng tự giải quyết các
vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật, thiếu cơ hội thực hiện các phương án
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
13
Chuyên đề tốt nghiệp
sản xuất mang lại lợi nhuận cao nên họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và
như vậy càng làm cho họ nghèo thêm.
 Các yếu tố về nhân khẩu học
Quy mô hộ gia đình là mẫu số quan trọng có ảnh hưởng đến thu nhập bình
quân của mỗi thành viên. Trong các hộ gia đình nghèo thường là có tỷ lệ sinh cao,
đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói.
Ngoài ra, bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người và tình
trạng nghèo đói trầm trọng. Chi phí khám chữa bệnh là gánh nặng đối với người
nghèo, đẩy họ đến chỗ phải vay mượn, cầm cố tài sản. Đồng thời bệnh tật càng làm
cho hộ nghèo thiếu nguồn lực và nhân lực cho sản xuất và khó thoát khỏi vòng luẩn
quẩn của nghèo đói.
1.2.4. Ảnh hưởng của nghèo đói đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
Đói nghèo đi liền với lạc hậu, là trở ngại lớn đối với quá trình phát triển. Với
một quốc gia nghèo, sự lạc hậu của LLSX cũng như trình độ kỹ thuật, công nghệ dẫn
tới năng suất xã hội và mức tăng trưởng kinh tế luôn ở những chỉ số thấp.
Nghèo đói của dân cư biểu hiện qua tỷ lệ lao động thất nghiệp, tổng sản phẩm
quốc nội, thu nhập bình quân đầu người, mức độ thấp kém của đầu tư cho phát triển
kinh tế - xã hội, kể cả phát triển giáo dục, khoa học – kỹ thuật, văn hóa và các lĩnh

luận sôi nổi, thậm chí trái ngược nhau, nhưng nhìn chung xoay quanh một số nhóm
quan điểm sau:
- Nhóm quan điểm thứ nhất: Hội nhập ảnh hưởng tích cực đến giảm nghèo.
Hội nhập KTQT khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước phát triển,
thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hoạt động thương mại… tạo thêm việc làm mới,
nâng cao thu nhập cho người lao động, đặc biệt là người nghèo.
- Nhóm quan điểm thứ hai: Hội nhập ảnh hưởng tiêu cực đến giảm nghèo.
Hội nhập KTQT có thể làm giảm thu nhập, thậm chí đưa người nông dân vào
cảnh nợ nần do hàng hóa nông sản không thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế;
công nhân bị mất việc làm do ngành sản xuất bị thu hẹp, nhất là đối với các nước
nghèo và các nước đang phát triển, xuất khẩu nông sản là một kênh quan trọng để
giảm nghèo.
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
15
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nhóm quan điểm thứ ba (được xem là khá phổ biến hiện nay): Hội nhập ảnh
hưởng đến đói nghèo trên cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực.
Mục đích mà hội nhập KTQT hướng tới là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền
vững và XĐGN trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, do các nước tham gia toàn cầu hóa
trong điều kiện, bối cảnh khác nhau; trình độ phát triển kinh tế khác nhau; mức độ
tham gia khác nhau; lộ trình thực hiện khác nhau nên lợi ích thu được cũng rất khác
nhau. Trên thực tế, hội nhập KTQT thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh,
khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài
nên tạo nhiều việc làm cho nền kinh tế, giúp người lao động nâng cao tay nghề, nâng
cao thu nhập và cải thiện mức sống. Mặt khác, dưới sức ép của cạnh tranh, hội nhập
KTQT có thể làm một bộ phận dân cư mất việc làm, giảm thu nhập, tình trạng bất
bình đẳng gia tăng…Vì vậy, mỗi quốc gia cần lựa chọn phương pháp và bước đi phù
hợp để hạn chế mặt tiêu cực, phát huy những lợi thế do hội nhập KTQT mang lại cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.3.2. Các chỉ tiêu đo lường hội nhập và thông qua đó hội nhập KTQT ảnh hưởng

định hướng của Nhà Nước nhằm tích cực đàm phán tham gia các tổ chức kinh tế khu
vực và quốc tế. Hỗ trợ tăng sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước
theo cả 2 hướng: khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tích cực hỗ
trợ phát triển các tập đoàn kinh doanh lớn, định hướng hoạt động xuyên quốc gia.
Đồng thời với hướng đó là tận dụng triệt để tính đặc thù của môi trường trong nước,
khu vực và quốc tế, lợi dụng thái độ khoan nhượng và làm ngơ của các bạn hàng để
hạn chế hay trì hoãn bằng các biện pháp trực tiếp và gián tiếp việc mở cửa thị trường
Nhật Bản cho các yếu tố bên ngoài, chỉ mở cửa thị trường Nhật Bản trước hết bằng
các hàng rào thuế quan, trong khi vẫn tìm cách duy trì càng lâu càng tốt các hàng rào
phi quan thuế hữu hình và vô hình.
Chiến lược hội nhập KTQT theo kiểu này của Nhật Bản sở dĩ tồn tại được là
do Nhật Bản đã khéo lợi dụng hoàn cảnh quốc tế và khu vực lúc đó. Tuy nhiên, sự
khép kín của thị trường Nhật Bản như vậy khiến cho các nhân tố nước ngoài rất khó
thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, và hậu quả là tính cạnh tranh, cởi mở, đổi mới và
năng động được coi là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức
Nhật Bản bị hạn chế.
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ giữa những năm 1980 và nhất là từ đầu những năm 1990, Nhật Bản bắt
đầu thực hiện quốc tế hóa nền kinh tế trên hai phương diện:
Trong nước, tiến hành cải cách các thể chế kinh tế, xã hội và văn hoá nhằm
giảm bớt tính khép kín và hướng nội, tạo cho nước Nhật có tính mở, quốc tế hoá, và
dân chủ hơn. Mặt khác, Nhật Bản còn tiến hành cải tiến môi trường pháp lý, kinh
doanh và văn hoá ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời, tiến hành cải tổ
cơ cấu kinh tế trong nước, theo hướng tạo cho cơ cấu kinh tế Nhật Bản ngày càng
phù hợp với cơ cấu kinh tế khu vực và quốc tế thành một cơ cấu thống nhất, có liên
quan chặt chẽ lẫn nhau theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang
Ngoài nước, Nhật đã tiến hành đa dạng hoá cơ cấu hàng hoá theo hướng tăng
tỉ lệ hàng chế tạo nhập khẩu và tăng tỷ trọng các mặt hàng dịch vụ thay vì các mặt

và phát triển các thị trường có dung lượng lớn, sức tiêu thụ cao nhằm khai thác tối đa
các lợi thế cạnh tranh của mình là tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ.
Chính sách đa dạng hóa thị trường cũng được nhấn mạnh nhằm mục tiêu xác
lập cơ cấu cân bằng giữa các thị trường trong khu vực và toàn thế giới, để vừa mở
rộng thị trường, phát triển ngoại thương, khuyến khích xuất khẩu, vừa tránh sự phụ
thuộc quá mức vào một thị trường nào đó. Nhờ có chính sách này, Malaixia luôn đạt
mức thặng dư trong buôn bán với hơn 100 nước kể từ năm 1970 đến nay.
Các nước ASEAN chủ trương tiếp tục góp phần đẩy mạnh và đón nhận toàn
cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế, đặc biệt là ngành công nghiệp. Phát triển các tập
đoàn kinh tế đủ sức giữ vững thị phần trong nước và cạnh tranh hiệu quả ở nước
ngoài trên cơ sở đa dạng hóa, linh hoạt và hiện đại hóa công nghệ sản xuất, dịch vụ
cung ứng sản phẩm; hoàn thiện cơ chế thị trường và tăng cường cải thiện môi trường
kinh doanh theo các cam kết, tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế.
1.3.3.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sự phát triển của Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam những bài học quý báu.
Nền kinh tế Trung Quốc chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế
thị trường (năm 1978) sớm hơn Việt Nam gần một thập kỷ.
Về tổng thể, quá trình mở cửa hội nhập KTQT của Trung Quốc từ năm 1979
đến nay có thể chia thành hai giai đoạn:
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Giai đoạn hội nhập theo chiều rộng (1979-1990), với nội dung chủ yếu là mở
cửa từng bước từ xây dựng bốn “đặc khu kinh tế mở”, tiếp đó mở cửa đến các thành
phố ven biển, ven sông, các thành phố biên giới rồi lan rộng bao trùm toàn quốc,
nhằm tăng cường thu hút FDI vào sản xuất hướng về xuất khẩu các sản phẩm có hàm
lượng lao động và nguyên liệu cao phù hợp lợi thế so sánh của Trung Quốc.
Giai đoạn hội nhập theo chiều sâu (từ năm 1990 đến nay): kết hợp giữa mở
cửa theo khu vực địa lý với mở cửa theo lĩnh vực (đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ - tài
chính), đồng thời đẩy mạnh các hoạt động thương lượng, điều chỉnh thể chế để tham

gia các tổ chức kinh tế khu vực và chủ động mở cửa thực hiện tự do hóa thương mại,
đầu tư; tuân thủ các cam kết và thông lệ quốc tế. Đặc biệt, việc cải thiện môi trường
đầu tư để thu hút FDI, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế trong
nước hội nhập với sự phân công lao động quốc tế.
Việt Nam cần vận dụng những bài học này trong quá trình hội nhập và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường. Không nên chạy theo tăng trưởng và phải trả giá bằng sự
xuống cấp của môi trường, cạn kiệt tài nguyên và gia tăng bất bình đẳng như bài học
kinh nghiệm của Trung Quốc. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng
thu nhập cần gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và XĐGN. Tăng
trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao mà chỉ cần ở mức hợp lý nhưng bền
vững trong bối cảnh hội nhập KTQT.
1.3.4. Sự cần thiết phải mở rộng hội KTQT và XĐGN ở Việt Nam
XĐGN là làm cho bộ phận dân nghèo nâng cao mức sống, từng bước giảm
nghèo và thoát khỏi tình trạng nghèo, được đối xử bình đẳng trong cộng đồng.
Những thành tựu trong công cuộc XĐGN ở nước ta thời gian qua được cộng
đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá rất cao. Tuy vậy, trong bối cảnh hội nhập KTQT
ngày càng sâu rộng và nhất là khi nước ta trở thành thành viên chính thức của WTO,
nghèo đói vẫn đang là một thách thức lớn đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Hiện nay, Việt Nam vẫn bị xếp vào nhóm những quốc gia nghèo nhất thế giới với tỷ
lệ tái nghèo cao, bất bình đẳng gia tăng… Vì vậy, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ XĐGN,
tạo nền tảng cho kinh tế tăng trưởng bền vững, đưa nước ta ra khỏi danh sách các
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
21
Chuyên đề tốt nghiệp
nước nghèo và tiến tới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình là một chủ trương
và nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.
Một trong những động lực mạnh mẽ tạo đà cho tăng trưởng kinh tế và XĐGN
bền vững đó là một nền kinh tế mở, hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới. Không
thể tiến hành CNH, HĐH đất nước, không thể thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu nếu

150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) – sự kiện đánh dấu sự mở cửa hội nhập
hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam. Gần đây, ngày 16-10-2007, Việt
Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu làm thành viên không thường trực của
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và kết thúc năm 2008, nước ta đã làm tròn nhiệm vụ.
Chủ động hội nhập KTQT là một chủ trương mang tính chiến lược, là mốc
quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta trong điều kiện toàn
cầu hóa KTQT đang phát triển mạnh mẽ. Chính chủ trương đúng đắn này đã đưa Việt
Nam ra khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận, cô lập; tạo dựng được môi trường quốc
tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước; nâng cao vị thế
nước ta trên chính trường và thương trường thế giới.
2.1.2. Một số đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nghèo đói
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
23
Chuyên đề tốt nghiệp

Tăng trưởng kinh tế gắn liền với giảm nghèo
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ tình trạng trì trệ và
khủng hoảng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển mình để
trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm thuộc
loại cao trên thế giới (7,5%/năm). Nhất là trong những năm gần đây, tăng trưởng
GDP đạt 8,17% năm 2006; 8,48% năm 2007 và trong năm khủng hoảng tài chính
toàn cầu 2008, GDP nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 6,23%.
Quá trình tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với giảm nghèo và cải thiện đời sống
nhân dân. Tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với tạo thêm nhiều việc làm mới, tỷ lệ
thất nghiệp ở thành thị giảm mạnh từ 8,65% - năm 1998 xuống 6,01% năm 2002 và
đến năm 2007 chỉ còn 4,64%; đồng thời tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
tăng từ 71,13% năm 1998 lên 81,79% năm 2006. Riêng giai đoạn 2001-2005, nền
kinh tế đã tạo ra khoảng 7,5 triệu chỗ làm mới, bình quân mỗi năm tạo thêm việc làm
cho khoảng 1,5 triệu lao động.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, thu nhập của người dân cũng tăng lên và tỷ lệ

CN-XD
DVụ
25,78%
32,49%
41,73%
Năm 2004
N-L-Ngư nghiệp
CN-XD
DVụ
21,18%
40,21%
37,98%Năm 2007
N-L-Ngư nghiệp
CN-XD
DVụ
20,3%
41,58%
38,12%
(Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê: www.gos.gov.vn)
Trong nông nghiệp, tỷ trọng các ngành, sản phẩm có giá trị kinh tế cao như
chăn nuôi, cây công nghiệp dài ngày… đều tăng lên. Cơ cấu sản xuất đã từng bước
Sv: Cao Thị Lệ Lớp: Kinh tế lao động 47
25

Trích đoạn Định hướng giải pháp giảm nghèo bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tăng cường hợp tác quốc tế thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ĐTNN Đa dạng hóa thị trườmg xuất-nhập khẩu Tăng cường hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh chương trình tạo việc làm cho nông dân Hoàn thiện và phát triển hệ thống ASXH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status