TCNCYH 38 (5) - 2005
TÁC DỤNG CỦA POLYPHENOL CHÈ XANH
(CAMELLIA SINENSIS)
TRÊN TRẠNG THÁI CHỐNG OXY HOÁ TRONG MÁU Ở CHUỘT
CỐNG TRẮNG GÂY ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THỰC NGHIỆM
Trần Thị Chi Mai, Nguyễn Thị Hà, Phạm Thiện Ngọc , l
Bộ môn Hoá - Hoá sinh - Trường Đại học Y Hà Nội
Bệnh nhân ĐTĐ thường phải chịu tác động của các stress oxy hoá. Chè xanh là một thảo dược tốt cho
sức khoẻ và trong điều trị một số bệnh. Mục tiêu: Khảo sát sự biến đổi trạng thái chống oxy hoá trong
máu và tác dụng của polyphenol chè xanh trên sự biến đổi đó ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm. Đối tượng
và phươ
ng pháp: Dùng mô hình thực nghiệm khảo sát một số chỉ số sinh học trong máu ở chuột gây
ĐTĐ bằng STZ với chế độ ăn giàu chất béo và tác dụng của polyphenol chè xanh trên các chỉ số đó. Kết
quả: Hoạt độ GPx hồng cầu và nồng độ MDA huyết tương ở chuột ĐTĐ tăng cao so với chuột bình thường
và chuột bị rối loạn chuyển hoá lipid (p < 0,001) đồng th
ời chịu ảnh hưởng của polyphenol chè xanh. Tuy
nhiên, hoạt độ SOD hồng cầu và TAS huyết tương thay đổi không có ý nghĩa giữa các lô chuột thực
nghiệm. Kết luận: Polyphenol chè xanh đã cải thiện trạng thái chống oxy hoá trong máu ở chuột gây ĐTĐ
bằng STZ.
chứng minh là có tác dụng tốt trong điều trị một
số trạng thái bệnh lý như ngăn ngừa và hạn chế
tác hại của phóng xạ, chống oxy hoá, chống ung
thư, ức ch
ế sự phát triển của một số vi khuẩn gây
bệnh, [7]. Tác dụng cải thiện các rối loạn chuyển
hoá lipid ở chuột cống trắng gây ĐTĐ thực nghiệm
của polyphenol chè xanh đã được công bố [3]. Đề
tài này nhằm mục tiêu:
Khảo sát sự biến đổi
của trạng thái chống oxy hoá trong máu
(hoạt độ SOD và GPx hồng cầu, nồng độ TAS
và MDA huyết tương) và tác dụng của
polyphenol chè xanh trên sự biến đổi đó ở
chuột cống trắng gây ĐTĐ thực nghiệm.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Chuột cống trắng, chủng Ratus norvegicus, 2
tháng tuổi, cân nặng 100 - 140g.
Chuột được nuôi tại Bộ môn Hoá - Hoá sinh, 1
con/1 chuồng. Chuột được ăn uống đầy đủ theo nhu
cầu thực nghiệm, thức ăn được chuẩn bị hàng ngày.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Chiết suất polypheno chè xanh:
Theo
qui trình của Đặng Ngọc Dung và cộng sự [2].
2.2. Mô hình thực nghiệm
1
bổ xung polyphenol chè xanh hoặc vitamin E): tiến
hành thực nghiệ
m như lô 3. Chuột được uống
polyphenol chè xanh hoặc vitamin E kể từ khi
chuột bị ĐTĐ và uống trong 60 ngày. Lô 4: n =
10, uống polyphenol chè xanh liều
200mg/kg/ngày, lô 5: n = 10, uống polyphenol chè
xanh liều 100mg/kg/ngày, lô 6: n = 10, uống
vitamin E liều 200mg/kg/ngày.
Để hạn chế mức glucose máu tăng quá cao và
duy trì trọng lượng của chuột, chuột bị ĐTĐ (lô
3,4,5 và 6) được tiêm dưới da 2 IU insulin chậm/
ngày vào buổi sáng.
Sau 30 ngày thực nghiệm, giết 10 chuột của lô
1 và 10 chuột của lô 2; sau 60 ngày thực nghiệm
ti
ếp theo giết toàn bộ chuột của các lô, lấy máu
xác định hoạt độ SOD, GPx hồng cầu và định
lượng TAS, MDA huyết tương.
2.3. Kỹ thuật xét nghiệm
Định lượng Glucose máu:
Kỹ thuật enzym glucose oxydase và peroxydase, đọc kết quả trên máy One
Touch Profile do hãng Johnson – Johnson sản xuất.
Hoạt độ SOD (superoxid dismutase) hồng cầu:
Phản ứng chuyển xanthin thành acid uric dưới tác dụng
của xanthin oxidase đồng thời cũng sinh ra gốc superoxid.
Xanthin oxidase
+ O
2
•
O
2
+ H
2
O
2
GPx
GSH + ROOH GSSG + H
2
O + ROH
G
R
GSSG + NADPH + H
+
2GSH + NADP
+
2
TCNCYH 38 (5) - 2005
ABTSΣ [2,2 - Azino – di (3 - Ethylbenzthialime sunphonate)] được ủ với metmyoglobin và H
2
O
2
để tạo
gốc cation ABTSΣ
+
. Chất này cho màu xanh da trời và đo được ở bước sóng 600nm. Chất chống oxy hóa
thêm vào phản ứng là nguyên nhân ức chế sự tạo thành sản phẩm màu này và mức độ ức chế sẽ tỷ lệ vói
2.4. Xử lý số liệu
Các kết quả nghiên cứu được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. So sánh sự khác biệt
giữa các lô thực nghiệm bằng phép toán t-student và ANOVA.
III. KẾT QUẢ
1. Ảnh hưởng của chế độ ăn giàu chất béo trên hoạt độ SOD, GPx hồng cầu và nồng độ TAS,
MDA huyết tương ở chuột cống trắng
Bảng 1. Ảnh hưởng của chế độ ăn giàu chất béo trên hoạt độ SOD và GPx hồng cầu, nồng
độ TAS và MDA huyết tương ở chuột cống trắng (sau 30 ngày thí nghiệm)
Lô chuột N
SOD (U/g Hb)
X ± SD
GPx (U/gHb)
X ± SD
TAS (mmol/L)
X ± SD
MDA (nmol/L)
X ± SD
Lô 1 10 3166 ± 570 1603 ± 207 1,09 ± 0,18 3,75 ± 0,74
Lô 2 10 3069 ± 381 1840 ± 169 1,01 ± 0,21 6,69 ± 1,67
P > 0,05 < 0,05 > 0,05 < 0,01
Nhận xét: Sau 30 ngày thí nghiệm, lô chuột được nuôi bằng chế độ ăn giàu chất béo (lô RLCH lipid
có hoạt độ GPx hồng cầu và hàm lượng MDA huyết tương tăng có ý nghĩa so với lô chuột ăn chế độ bình
thường (lô chứng) với p < 0,05 và p < 0,01.
)
2. Tác dụng của polyphenol chè xanh trên hoạt độ SOD, GPx hồng cầu và nồng độ TAS,
MDA huyết tương ở chuột cống trắng gây đái tháo đường thực nghiệm
3
TCNCYH 38 (5) - 2005
0,001), ở mức tương đương với lô 2 và 6, nhưng
cao hơn lô 1 p < 0,01) và thấp hơn lô 5 (p
<
0,01). )
,
t ,
t
(
IV. BÀN LUẬN
4
TCNCYH 38 (5) - 2005
Chế độ ăn ảnh hưởng sâu sắc đến trạng thái
chống oxy hoá và được xếp vào một trong những
yếu tố nguy cơ hàng đầu gây nên các trạng thái
bệnh lý. Lipid của cơ thể (các acid béo không bão
hoà) rất nhạy cảm với các tác nhân oxy hoá, dễ bị
tấn công bởi các gốc tự do và sản phẩm oxy hoá
của chúng có thể gây ra những thương tổn nặng
nề cho tế bào và mô. Chế độ ăn giàu lipid gây rối
loạn các chỉ số lipid huyết tương ở chuột cống
trắng [3]. Nồng độ MDA huyết tương - sản phẩm
bảo vệ cơ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt
độ SOD hồng cầu không khác biệt có ý nghĩa giữa
các lô chuột thực nghiệm, nhưng hoạt độ GPx
hồng cầu ở lô chu
ột bị ĐTĐ cao hơn lô chứng (p <
0,001) và lô chuột RLCHLP (p < 0,01), như vậy sự
tăng hoạt độ GPx ở lô chuột ĐTĐ không chỉ do chế
độ ăn giàu lipid mà còn chịu tác động của bệnh lý
ĐTĐ. Sự gia tăng các stress oxy hoá trong bệnh lý
ĐTĐ có thể cảm ứng việc tổng hợp hoặc làm tăng
hoạt tính xúc tác của GPx. Nhiều nghiên cứu cho
thấy có sự gia tă
ng hoạt độ các enzym chống oxy
hoá ở các mô của chuột ĐTĐ thực nghiệm. Hunker
và cộng sự thấy sự tăng hoạt độ GPx, catalase ở
mô động mạch chủ, tim, gan và hoạt độ GPx tăng
ở mô thận, phổi của chuột gây ĐTĐ thực nghiệm
bằng STZ [9]. Tuy nhiên, một số tác giả khác lại
thấy hoạt độ SOD, GPx hồng cầu giảm ở bệnh
nhân ĐT
Đ, đặc biệt là ĐTĐ có biến chứng. Phạm
Trung Hà và cộng sự thấy hoạt độ SOD hồng cầu
giảm ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 và giảm nhất ở nhóm
có biến chứng thận, võng mạc [1]. Tuy nhiên,
Carmen Dominguez và cộng sự thấy hoạt độ SOD
hồng cầu của bệnh nhân ở giai đoạn khởi phát
ĐTĐ typ 1 cao hơn so với nhóm chứng [5]. Như
vậy, ở bệnh nhân ĐTĐ hoạt độ SOD thay đổi theo
thời gian tiến triển và mức độ bệnh, giai đoạn đầu
của bệnh có thể có sự gia tăng hoạt độ SOD để
đổi hoạt độ của các enzym chống oxy hoá ở các
mô trên cơ thể ĐTĐ rất phức tạp, liên quan đến
thời gian phát bệnh và sự tiến triển của bệnh. Sự
tăng hoạt độ một số enzym chống oxy hoá thường
gặp trong giai đoạn sớm của bệnh có thể là do cơ
chế
bù trừ hoặc tăng hoạt tính xúc tác hoặc cảm
ứng tổng hợp enzym để chống lại sự gia tăng
stress oxy hoá trong ĐTĐ. Sự giảm hoạt độ một số
5
TCNCYH 38 (5) - 2005
enzym chống oxy hoá xuất hiện ở những giai đoạn
muộn hơn hoặc khi đã có biến chứng có thể do cơ
chế nhiễm độc hoặc tổn thương các mô [8].
TAS huyết tương ở lô chuột ĐTĐ không có sự
khác biệt với lô chứng và lô chuột RLCH lipid.
Kopprasch S. và cộng sự [10] nghiên cứu trên
người nhận thấy TAS huyết tương của nhóm giảm
dung nạp glucose và nhóm mới mắc ĐT
Đ không
khác biệt so với nhóm dung nạp glucose bình
thường. Nhưng một số tác giả khác cho rằng TAS
ở bệnh nhân ĐTĐ giảm có ý nghĩa so với người
bình thường và giảm theo thời gian mắc bệnh, có
liên quan đến sự xuất hiện các biến chứng. Như
vậy các nghiên cứu về TAS huyết thanh ở bệnh
nhân ĐTĐ thu được kết quả cũng rất khác nhau.
TAS bao gồm nhiều hệ thống b
ảo vệ của cơ thể
niệu vi lượng cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh
nhân ĐTĐ không có albumin niệu vi lượng [6]. Sự
tăng các sản phẩm của quá trình peroxy hoá trong
huyết tương và ở
các mô ở những cơ thể bị ĐTĐ
gợi ý sự tăng các stress oxy hoá trong ĐTĐ.
Khảo sát tác dụng của polyphenol chè xanh
trên hoạt độ SOD và GPx hồng cầu ở chuột ĐTĐ
thực nghiệm cho thấy: polyphenol chè xanh không
làm thay đổi hoạt độ SOD hồng cầu của các lô
chuột thực nghiệm nhưng có tác dụng rõ với hoạt
độ GPx hồng cầu. Liều polyphenol chè xanh
200mg/kg cân nặng làm giảm có ý nghĩa hoạ
t độ
GPx hồng cầu của lô chuột ĐTĐ so với lô chuột
ĐTĐ không được uống bổ sung polyphenol và
giảm ở mức tương đương với lô chuột bị RLCHLP
nghĩa là vẫn ở mức cao hơn so với lô chuột bình
thường (hình 1). Kết quả thu được phù hợp với
nghiên cứu của nhiều tác giả khác về tác dụng của
các chất chống oxy hoá trên hoạt độ SOD và GPx
ở các mô c
ủa chuột ĐTĐ thực nghiệm bằng STZ.
Có thể giả thiết là các enzym chống oxy hoá trong
hồng cầu được điều hoà ngược bởi polyphenol chè
xanh tình trạng chống oxy hoá của hồng cầu được
cải thiện khi có mặt của polyphenol chè.
Polyphenol chè xanh chưa có ảnh hưởng đến TAS
huyết tương nhưng có tác dụng rất rõ đến nồng
độ MDA huyết tương và tương tự tác dụng trên
6
TCNCYH 38 (5) - 2005
so với lô chứng (p < 0,001) và lô chuột RLCH lipid
đơn thuần (p < 0,01); trong khi hoạt độ SOD hồng
cầu và nồng độ TAS huyết tương không có sự khác
biệt giữa các lô chuột thực nghiệm (p > 0,05).
2. Polyphenol chè xanh có tác dụng làm giảm
sự gia tăng hoạt độ GPx hồng cầu và nồng độ
MDA huyết tương ở chuột ĐTĐ, liều có tác dụng rõ
rệt là 200mg/kg/ngày (p < 0,01).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Trung Hà (2004), ” Nghiên cứu
nồng độ 2,3-diphosphoglycerat và hoạt độ một số
enzym chống oxy hoá trong hồng cầu bệnh nhân
đái tháo đường typ 2”, Luận án Tiến sỹ Y học.
2. Trần Thị Chi Mai, Nguyễn Thị Hà, Phạm
Thiện Ngọc (2004), “ Tác dụng của polyphenol
chè xanh (Camellia sinensis) trên sự rối loạn
chuyển hoá lipid ở chuột cống trắng gây đái tháo
đường thực nghiệm”, Tạp chí Nghiên cứu Y học,
Tập 32 - số 6, tr. 14 - 21.
3. Carmen Dominguez, Elena Ruiz, Miguel
Guissinye et al (1998), “Oxidative stress at
onset and in early stages of type 1 diabetes in
children and aldolescents”, Diabetes care, 21, pp.
1736 - 1742.
4. Barry Halliwell and John MC Gutteridge
(1999), “Free radicals in Biology and Medicine” ,
Third edition, Oxford science publications, pp. 639
ANTIOXYDANT STATUS IN STREPTOZOCIN INDUCED DIABETIC RATS
The diabetic patients are usually suffered from oxidant stress. Green tea is one of the good herbal
medicines has been used for treatment of some diseases. Objectives: Evaluate change of antioxidant
status in blood and effect of the green tea polyphenol on this change in the experimental diabetic rats.
Methods: Using in vivo model to investigate some biological indicators in STZ - induced diabetic rats fed
with high fat diet and to evaluate effect of the green tea polyphenol on the changes of these indicators.
Results: Erythrocyte GPx activity and serum MDA concentration in STZ - induced diabetic rats was higher
than that of normal and lipid metabolism disorder groups (p < 0.001) and effected of the green tea
polyphenol. However, no change in erythrocyte SOD activity and plasma TAS level was observed.
Conclusions: Green tea polyphenol improved blood antioxidant status in STZ - induced diabetic rats.
Keywords: Diabetes; green tea polyphenol; antioxydants.
7