LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỐ LUỢNG ĐỘNG VẬT ĐÁY QUANH KHU VỰC NUÔI TÔM SÚ (penaeus monodon)" pot - Pdf 12

TRUỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
Bộ môn: THUỶ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TỪ CÔNG LĨNH
BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỐ LUỢNG ĐỘNG VẬT
ĐÁY QUANH KHU VỰC NUÔI TÔM SÚ (penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
Năm 2009
TRUỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
Bộ môn: THUỶ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỐ LUỢNG ĐỘNG VẬT
ĐÁY QUANH KHU VỰC NUÔI TÔM SÚ (penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện: Cán bộ hướng dẫn:
Từ Công Lĩnh TS. Vũ Ngọc Út
Năm 2009
LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn Thủy Sinh Học Ứng Dụng –
Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn thầy Vũ Ngọc Út đã tận tình hướng dẫn đóng góp
những ý kiến quí báo tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành đề tài.
Xin cảm ơn thầy Trương Quốc Phú phòng thực hành phân tích chất lượng
nước đã giúp đở tôi trong thời gian phân tích tại phòng.
Xin cảm ơn lãnh đạo cán bộ Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh đã ủng hộ
tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian thu mẫu tại địa bàn.
Sau cùng xin cảm ơn gia đình, các bạn lớp Bệnh Học Thủy Sản, đã ủng hộ
giúp đở đóng góp những ý kiến quí báu cho tôi trong thời gian qua.

4.1.6 Tổng Amonia (TAN) 17
4.1.7 NO
2
17
4.1.8 NO
3
18
4.1.9 TSS 18
4.1.10 TN 19
4.1.11 TP 19
4.1.12 TN
bùn
20
4.1.13 TP
bùn
20
4.2 Biến động thành phần loài động vật đáy xung quanh các mô hình nuôi tôm sú
21
4.2.1 Mô hình tôm lúa 21
4.2.2 Mô hình bán thâm canh 22
4.2.3 Mô hình thâm canh 24
4.2.4 So sánh đánh giá thành phần loài động vật đáy 26
4.3 Biến động số lượng và sinh lượng động vật đáy xung quanh các mô hình nuôi
các mô hình nuôi tôm sú 29
4.3.1 Mô hình tôm lúa 29
4.3.2 Mô hình bán thâm canh 31
4.3.3 Mô hình thâm canh 33
4.3.4 So sánh đánh giá mật độ sinh lượng nhóm loài động vật đáy 35
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT 38
5.1 Kết luận 38

iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Biến động nhiệt độ
Bảng 2. Biến động pH
Bảng 3. Biến động độ mặn
Bảng 4. Biến động DO
Bảng 5. Biến động COD
Bảng 6. Biến động TAN
Bảng 7. Biến động NO
2
Bảng 8. Biến động NO
3
Bảng 9. Biến động TSS
Bảng 10. Biến động TN
Bảng 11. Biến Động TP
Bảng 12. Hàm lượng TN
bùn
trong bùn đáy
Bảng 13. Hàm lượng TP
bùn
bùn đáy
Bảng 14. Biến động thành phần loài động vật đáy xung quanh khu vực mô hình
TL
Bảng 15. Biến động thành phần nhóm loài xung quanh khu vực nuôi tôm sú
BTC
Bảng 16. Biến động thành phần động vật đáy xung quanh khu vực nuôi tôm sú
TC
Bảng 17 biến động thành phần loài động vật đáy trong đợt 1
Bảng 18 biến động thành phần loài động vật đáy trong đợt 1
Bảng 19. Biến động thành phần loài động vật đáy trong đợt 3

vi

Trang 1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Nghề nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và
đang phát triển trong những năm gần đây, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ ven
biển với nhiều hình thức nuôi tôm khác nhau như nuôi quảng canh cải tiến
(QCCT), nuôi bán thâm canh (BTC) và nuôi thâm canh (TC). Tuy nhiên do
quá trình phát triển thiếu sự quy hoạch đồng bộ cũng như chưa đảm bảo về
mặt kỹ thuật và khả năng nhận thức của người nuôi tôm chưa cao nên vẫn
còn gặp nhiều trở ngại như dịch bệnh, vấn đề môi trường là ảnh hưởng đến
năng xuất và tính bền vững của nghề nuôi.
Những năm gần đây, ĐBSCL đã chuyển khoảng 250.000 ha đất trồng lúa
kém hiệu quả sang nuôi tôm sú theo mô hình luân canh lúa - tôm sú, nâng
tổng diện tích nuôi tôm sú cả vùng lên trên 500.000 ha. Việc nuôi tôm sú
với nhiều mô hình, từ nuôi tôm sinh thái trong rừng ngập mặn đến nuôi tôm
xen canh với các loài thủy sản khác và chuyên canh tôm sú, đã bắt đầu phát
huy tác dụng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong thực tế nghề
nuôi tôm sú ở các tỉnh ĐBSCL đã giải quyết một lực lượng lao động khá
lớn ở nông thôn ven biển. Nhưng hiện nay nuôi tôm sú đang đối mặt với
nhiều thách thức khá lớn.
Tại tỉnh Trà Vinh hiện có 29.187 ha đất được sử dụng nuôi trồng thủy sản,
chiếm 12,7% diện tích tự nhiên và bằng 15,5% diện tích đất nông nghiệp.
Trong đó, đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn là 28.036,93 ha (chiếm 96%
đất nuôi trồng thủy sản); phân bố chủ yếu tại 17 xã thuộc bốn huyện: Cầu
Ngang, Trà Cú, Duyên Hải và Châu Thành. Ðất nuôi trồng thủy sản nước ngọt
1.151 ha, phân bố ở tất cả các xã còn lại. Diện tích nuôi tôm sú vùng này
khoảng 24.000 ha. Nông dân ở đây đã thực hiện rất nhiều mô hình nuôi như:
chuyên canh; một vụ lúa, một vụ tôm; tôm-cua; quảng canh nhưng cách nuôi

2.1 Tình hình nuôi tôm
2.1.1 Tình hình nuôi tôm sú ở Việt Nam và ĐBSCL
Nghề nuôi tôm ở Việt Nam bắt đầu cách đây hơn 100 năm nhưng nuôi tôm
sú công nghiệp chỉ mới bắt đầu trong một thập niên gần đây. Từ đó vị trí
của ngành nuôi tôm Việt Nam trên thế giới ngày càng được cải thiện. Ngày
nay Việt Nam là một trong những nước có sản lượng tôm sú nuôi lớn nhất
trên thế giới.
Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng mô hình nuôi tôm quảng canh đả
bắt đầu từ những năm 1982 và phát triển mạnh vào những năm 1990, loài
thả nuôi phổ biến là tôm sú (Penaeus monodon) (Chanratechalool et
al,2002). Đầu những năm 2000 mô hình nuôi tôm công nghiệp phát triển và
lan rộng.
ĐBSCL có khoảng 7896,392 ha (19% tổng diện tích) bị nhiễm mặn, vùng
có đặ điểm nhiểm mặn vào mùa khô và có nước ngọt vào mùa mưa, trước
đây nông dân trồng một vụ lúa vào mùa mưa và ruộng lúa được dùng để thu
tôm cá vào mùa khô. Từ khi nuôi tôm sú với mật độ thấp được áp dụng thì
lợi nhuận từ tôm sú đã góp phần cải thiện thu nhập và tạo công ăn việc làm
cho nông dân (Vuong anh Lin,2001). Nuôi tôm trong mùa khô được coi là
vụ thứ hai mang lại thu nhập đáng kể cho nông dân (Trần Thanh Bé et al,
1999; Brennan et al, 2000)
Theo bộ thủy sản (2003), thì trong suốt 3 thập kỷ qua nuôi trồng thủy sản
ngày càng phát triển và đa dạng hơn, áp dụng nhiều qui trình công nghệ tiến
bộ hơn với mực tiêu tăng sản lượng, cung cấp thưc phẩm cho con người xóa
đói giảm nghèo cung cấp thực phẩm cho nông thôn,… Chính vì vậy, nuôi
trồng thủy sản đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế và phát triển cộng đồng.
Tuy nhiên trong nuôi tôm TC vẫn còn rủi ro ở mức cao (Bộ thủy sản, 2005)
Những thuận lợi cho sự phát triển của nghành thủy sản Việt Nam trên thị
trường thế giới là hiệp định thương mại Việt-Mỹ được kí kết vào năm 2008
đã mở ra triển vọng xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ. Sau đó là khối
liên minh Châu Âu đã công nhận nhiều cơ sở chế biến thủy sản của nước ta

2
, (BTC mức cao). Diện tích ao nuôi nhỏ từ
0,2-0,5 ha, được xây dựng hoàn chỉnh và có đầy đủ trang thiết bị như sục khí,
máy bơm…để chủ động trong quản lí ao. Kích thước nhỏ nên dễ vận hành và
quản lý. Kích cở tôm khá lớn và giá bán cao. Chi phí vận hành và năng xuất
thấp.
- Nuôi thâm canh (intensive culture)
Là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài chủ yếu là thức ăn
viên có chất lượng cao. Thức ăn tự nhiên không quan trọng. Mật độ thả từ 25-
40 tôm/m
2
(Tiêu chuẩn nghành thủy sản Việt Nam 2002). Diện tích ao nuôi từ
0,5-1 ha, tối ưu là 1ha. Ao xây dựng rất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước hoàn
toàn chủ động, có trang bị đây đủ các thiết bị máy móc, có điện và giao thông
thuận lợi,… nên dễ quản lí và vận hành. Nhược điểm của mô hình này là kích
cở tôm thu hoạch nhỏ (35-40 con/m
2
), giá bán thấp chi phí vận hành cao, lợi
nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp.
2.2.3 Các yếu tố môi trường
- Đăc tính môi trường đất trong ao nuôi tôm
Một vài ao nuôi thủy sản được xây dựng trên nền đáy hữu cơ nên đáy ao
chứa đựng hàm lượng chất hữu cơ cao. Phần lớn ao tôm được xây dựng trên
nền đất chứa khoáng không quá 5-10% chất hữu cơ thì nồng độ chất hữu cơ
có khuynh hướng tăng dần theo thời gian trong đất ao nhưng đất hữu cơ
thường không phát triển ở đáy ao (Boyd, 1995). Sự phân hủy vật chất hữu
cơ diễn tiến nhanh trong pH từ 7-8. Do vậy trong những ao nuôi có tính
acid nếu không dùng vôi để cải tạo pH thì vật chất hữu cơ sẽ có khuynh
hướng tích lũy nhiều hơn, (Boyd, 1998b).
Mỗi lần nước biển đưa vào ao nuôi thì có sự tích lũy các nguyên tố của

chất của động vật biến nhiệt như là bộ giáp sát, phụ thuộc rất lớn vào nhiệt
độ môi trường nước.
- PH
PH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và
gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản
và dinh dưỡng. PH của tất cả các động vật đều gần bằng 7. Do đó khi PH
của môi trường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình
phát triển của thủy sinh vật.
- Độ mặn (S‰)
Thuật ngữ độ mặn chỉ tổng nồng độ các ion hòa tan trong nước.Để ước tính
độ mặn của nước một cách tốt nhất thì cần tính nồng độ 7 ion quan trọng
làm cho nước tự nhiên có độ mặn đó là: Na
+
,K
+
,CA
2+
,MN
2+
,CL
-
,SO
4
2
,
HCO
3
-
Vì các ion này thường chiếm hơn 95% trong tổng số các ion hòa tan
trong nước.

gây độc với cá là 0,6-2,0 ppm (Downing và
Markins, 1975). Độ độc của N-NH
3
tăng khi hàm lượng oxy hòa tan thấp
hoặc/và pH cao. Theo Colt và Amrtrong (1979) tác dụng độc hại của NH
3
đối với tôm , cá là khi NH
3
trong nước cao: NH
3
khó bài tiết từ máu cá ra
môi trường ngoài NH
3
từ máu và các mô tăng làm pH máu tăng làm rối loạn
những phản ứng xúc tác của enzyme và độ bền vững của màng tế bào làm
thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến cá chết vì không điều khiển
được quá trình trao đổi muối giửa cơ thể và môi trường ngoài.
- Nitrite (NO
2
-
)
NO
2
-
có trong thủy vực là sản phẩm của quá trình Nitrat hóa, hay phản ứng
Nitrat hóa, là dạng đạm ảnh hưởng độc đối với thủy sinh vật. Tác dụng độc
của nó đối với tôm các là chúng kết hợp với Hemoglobin trong máu hình
thành Methemoglobine ( làm cho máu có màu chocolate) ngăn cản việc oxy
kết hợp với Hemoglobin hình thành Oxyhemoglobin , làm tôm cá chết
ngạt. Tính độc của nitrat giản đi khi độ mặn tăng .

- 1831 thành lập trạm nghiên cứu Svatopon ở USSR
- 1834 tại Macxen thành lập trạm nghiên cứu biển.
- 1872 thành lập trạm nghiên cứu biển ở Neopon, Italia.
- 1876 thành lập trạm nghiên cứu ở Newpo ở USA.
- 1890 thành lập trạm nghiên cứu ở Polun, Đức. Đây là trạm nghiên cứu
nước ngọt đầu tiên.
- 1891 thành lập trạm nghiện cứu ở Glubokoie, USSR.
Mặc dù có sự thành lập các trạm nhưng chủ yếu là phần phân loại các sinh
vật có kích thước lớn dễ tìm.
Đến cuối thế kỉ XIX các nghiên cứu đi sâu hơn và phương pháp nghiên cứu
toàn diện hơn như các nghiên cứu của:
- Bogrov – Zenkevits, 1971 đã nghiên cứu, chỉ ra được vùng phân bố của
dộng vật phù du và động vật đáy, trong đó chỉ rỏ vùng khác nhau thì có sinh
khối và năng xuất sinh học khác nhau.
- Vladimirova tổng kết các dẫn liệu và năng xuất sinh học của động vật phù
du ở hồ chứa Rubin trong 12 năm (1956-1967), chỉ ra rằng, năng xuất sinh
học động vật chiết khoảng 20%, năng xuất sinh học động vật ăn thịt chiếm
tới 63,1% so với năng xuất sinh học trong nhóm ăn lọc. Trong hồ chứa ở
Belocuxia năng xuất sinh học động vật đáy khoảng 4,5-7,6 g/m
2
/năm.
- Shukina, 1977 đã tính được tốc độ và cường độ năng xuất sinh học của
mỗi khu vực xích đạo Tây Thái Bình Dương. Từ đó cho thấy mức độ giàu
nghèo dinh dưỡng của từng thủy vực khác nhau.
Trang 8
*Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước về động vật đáy trong nước ta chỉ mới ở bước
bắt đầu, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu, một vài nghiên cứu điển
hình sau:
Đầu tiên nhất, năm 1894 thông báo của Richard đã mô tả 11 loài giáp xác ở

33,485 g/m
2
, vào mùa mưa số lượng và sinh lượng động vật đáy trên sông
Hậu (441 con/m
2
hay 29,06 g/m
2
) cao hơn sông tiền (3950 con/m
2
hay 5,9
g/m
2
). Các giá trị trên cao hơn so với giá trị các sông ở miền Bắc, song so
với số liệu về động vật đáy các vùng nước lợ miền Bắc (Đặng Ngọc Thanh,
1980) thì trị số đó tương đương. Như vậy có thể đáng giá rằng, mật độ và
sinh lượng động vật đáy vùng Đồng bằng sông Cửu Long tất nhiên cao hơn
so với vùng nước ngọt sông Hậu và sông Tiền đồng thời không thể thấp hơn
so với các thủy vực nước lợ thuộc các tỉnh phía Bắc (82-2680 con/m
2

4,44-66,15 g/m
2
tương ứng).
Riêng khoa thủy sản Trường Đại học Cần Thơ trong những năm gần đây đã
có nhiều nghiên cứu cơ bản về môi trường thủy sinh vật quanh khu vực
ĐBSCL, qua đó xác định được thành phần và số lượng thủy sinh vật tại các
khu vực như: ven biển Kiên Giang, Minh Hải…
Trang 9
Ngoài ra, còn có một số đề tài tốt nghiệp khảo sát môi trường và thành phần
thủy sinh vật ở các vùng sinh thái riêng biệt trong tỉnh Minh Hải như: Gành

, kích cở giống PL, thức ăn thường được sử dụng là
Tomboy, Greenfeed. Có xử lý ao đầu vụ nuôi, sử dụng thuốc trong quá trình
nuôi là rất ít. Tôm từ tháng 2 trở đi thay nước định kỳ, mỗi tháng thay một lần.
Nước thải từ ao nuôi tôm sau thu hoạch thải trực tiếp ra sông.
Sông đào được 7 năm nền đáy bùn là chủ yếu, hai bên bờ sông có nhiều cây
cối chủ yếu là bần và dừa nước, lưu tốc nước chảy vừa, cường độ dao động
triều thấp.
Trang 11
- Mô hình nuôi bán thâm canh
Ở ấp 5 xã Mỹ Long Nam huyện Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh.
Diện tích vùng nuôi khoảng 450 ha. Xử lý ao đầu vụ nuôi chủ yếu diệt giáp
xác, diệt tạp. Mật độ nuôi từ 18-20 con/m
2
, thức ăn cho tôm thường dùng là:
Yes, Turbo. Có bổ sung hến vào tháng thứ 3 của chu kỳ nuôi
Trong suốt quá trình nuôi không thay nước, đến cuối vụ thải trực tiếp ra sông.
Sông mới nạo vét lại 2 năm, nền đáy sỏi và cát, xung quanh hai bên bờ trống
trải không có cây cối, hai bên bờ bị sạt lở do nước chảy nhanh, cường độ dao
động triều cao, hàm lượng phù sa trên sông rất cao.
- Mô hình nuôi tôm thâm canh
Ở ấp 4 xã Mỹ Long Nam huyên Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh.
Diện tích vùng nuôi khoảng 250 hecta, Xử lý ao đầu vụ nuôi sử dụng Chlorine
diệt giáp xác phơi và ủi đáy ao trước khi thả giống, mật độ thả nuôi khoảng
20-25 con/m
2
, thức ăn cho tôm là Robert, Tomboy, CP Group.
Trong quá trình nuôi có sử dụng men vi sinh cải tạo nền đáy và vôi bột định
kỳ 4-5 ngày sử dụng một lần. Suốt quá trình nuôi không thay nước, khép kín
chỉ châm thêm nước ngọt và lấy nước từ sông lên xử lý.
Thải nước trực tiếp ra sông, sông đào 5 năm nền đáy bùn, mát nhờ nhiều cây

với
1ml KI,NaOH
- COD: Mẫu được thu bằng chai nút mài trắng, cố định bằng 2ml H
2
SO
4
4M/125ml dung dịch mẫu
- NH
4
, NO
2
, NO
3
, PO
4
, TSS, TN, TP: Mẫu được thu chung vào can nhựa 1,
trữ lạnh bằng nước đa trong thùng muose ở 4
0
C
- Bùn đáy được thu bằng ống nhựa PPC đương kính 8 cm, mỗi điểm thu
mẫu thu 3 ống, sau đó trộn chung lấy đại diện cho vào bọc nilon.
* Thu mẫu động vật đáy:
Thu mẫu định tính và định lượng: thu mẫu định tính nhằm xác định thành
phần loài động vật đáy phân bố nơi đó. Trong một thủy vực, động vật đáy
được thu bằng gàu Petersen có diện tích miệng gàu là 0.028 m
2
, mẫu được
thu một lần để xác định vừa định tính vừa định lượng.
Ở mỗi điểm thu mẫu động vật đáy được thu 5 gàu sau đó được sàn qua sàn
đáy có kích thước mắt lưới 0.5 mm nhằm loại bỏ rác. Mẫu được bỏ vào túi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status