biến động thành phần loài và số lượng động vật nổi trong khu vực nuôi tôm sú ( penaeus monodon) ở huyện cầu nganh, trà vinh - Pdf 10

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN HỨA THANH HẢI
BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỐ LƯỢNG ĐỘNG VẬT
NỔI TRONG KHU VỰC NUÔI TÔM SÚ ( Penaeus monodon)
Ở HUYỆN CẦU NGANH, TRÀ VINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts.VŨ NGỌC ÚT 2009
3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả Hứa Thanh Hải
4
LỜI CẢM TẠ

Trải qua những năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Cần

Kết quả các yếu tố môi trường ít biến động qua ba đợt thu mẫu và vẫn
còn nằm trong khoảng thích hợp đối với các loài thủy sản.
Kết quả định tính tìm được tổng cộng 34 loài động vật nổi trong đó
chiếm ưu thế nhất là ngành Protozoa với 17 loài (50%), và thấp nhất là
bộ
Cladocera với 1 loài (3%). Về mật độ giữa các diểm thu mẫu cũng như
các mô hình có sự chuyển biến mạnh mẽ ở đợt thu mẫu thứ hai và sau
đó giãm trở lại ở đợt thu mẫu thứ ba. Biến động mạnh mẽ nhất là nhóm
ngành Protozoa ở hầu hết các điểm thu mẫu cũng như trong các đợt thu
mẫu.

6
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM TẠ 4
TÓM TẮT 5
MỤC LỤC 6
DANH SÁCH BẢNG 8
DANH SÁCH HÌNH 9
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 10
Phần1.ĐẶT VẤN ĐỀ 11
1.1: Giới thiệu 11
1.2: Mục tiêu của đề tài 12

3.4: Phương pháp xử lý kết quả 31
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
4.1: Sự biến động các yếu tố môi trường nước 32
4.2: Cấu trúc thành phần loài động vật thủy sinh 36
4.2.1: Mô hình tôm lúa luân canh 38
4.2.2: Mô hình bán thâm canh 39
4.2.3: Mô hình thâm canh 41
4.3: Mật độ các nhóm ngành động vật nổi 44
4.3.1: Mô hình tôm lúa luân canh 44
4.3.2: Mô hình bán thâm canh 45
4.3.3: Mô hình thâm canh 47
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 49
6.1: Kết luận 49
6.2: Đề xuất 49
Phần 7: TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC
8
DANH SÁCH BẢNG Bảng 1: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường 30
Bảng 2: Biến động các yếu tố thủy lý. 32
Bảng 3a: Biến động các yếu tố thủy hóa 34
Bảng 3b: Biến động các yếu tố thủy hóa (tiếp theo) 35
Bảng 4: Kết quả số lượng loài động vật nổi qua ba lần thu mẫu 37
Bảng 5: So sánh khác biệt giữa các nhóm ngành động vật nổi qua ba
đợt thu mẫu của mô hình tôm lúa 39
Bảng 6: So sánh khác biệt giữa các nhóm ngành động vật nổi qua ba
đợt thu mẫu của mô hình bán thâm canh. 40
Bảng7: So sánh khác biệt giữa các nhóm ngành động vật nổi qua ba

Hình 14: Thành phần và số lượng loài động vật nổi ở mô hình bán thâm
canh qua 3 đợt thu mẫu 39
Hình 15: Thành phần và số lượng loài động vật nổi ở mô hình thâm
canh qua 3 đợt thu mẫu 41
10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: NN&PTNT
Đồng bằng Sông Cửu Long: ĐBSCL.
Điểm đầu kênh dẫn tôm lúa: TL1.
Điểm giữa kênh dẫn tôm lúa: TL 2.
Điểm cuối kênh dẫn tôm lúa: TL 3.
Điểm đầu kênh dẫn bán thâm canh: BTC 1.
Điểm giữa kênh dẫn bán thâm canh: BTC 2.
Điểm cuối kênh dẫn bán thâm canh: BTC 3.
Điểm đầu kênh dẫn thâm canh: TC 1.
Điểm giữa kênh dẫn thâm canh:TC 2.
Điểm cuối kênh dẫn thâm canh: TC 3.
11
Chương 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1: Giới thiệu:
Việt Nam có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản nước lợ. Năm 2005,
tổng diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ là 641.045 ha, với sản lượng
đạt được 546.716 tấn. Diện tích nuôi tôm nước lợ là 604.479 ha, chiếm
94,3% tổng diện tích nuôi nước lợ. Sản lượng tôm nước lợ đạt 324.680
tấn. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi tôm nước lợ

việc khảo sát thành phần và số lượng động vật nổi làm cơ sở cho việc
thiết lập các chương trình quan trắc sinh học và các nghiên cứu sâu
hơn….
1.3: Nội dung của đề tài:
- Khảo sát một số yếu tố thủy lý hóa để đánh giá chất lượng của môi
trường nước.
- Khảo sát thành phần loài và mật độ động vật nổi theo từng vùng nuôi
tôm sú ở các mức độ khác nhau: quảng canh cải tiến, bán thâm canh và
thâm canh.
13
Chương 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1: Lịch sử phát triển nghề nuôi tôm biển:
Theo The Shrimp News International nghề nuôi tôm biển trên thế giới
bắt nguồn từ các khu vực Đông Nam Á với các hình thức nuôi tôm
quảng canh. Năm 1930, Fujinaga đã thành công trong việc sản xuất
giống nhân tạo tôm biển (tôm he Nhật Bản Penaeus japonicus) và đã
mở ra kỷ nguyên mới cho nghề nuôi tôm. Trong những năm 1960 –
1970 nhiều loài tôm biển như P.monodon, P. stylirostris và P.vanamei
đã được nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công và phát triển nuôi
tôm thâm canh ở Pháp, Mỹ.
Nghề nuôi thật sự phát triển mạnh từ những thập niên 1970. Năm 1975
dự án nuôi tôm thâm canh được phát triển ở Thái Lan. Năm 1975,
Ecuador trở thành nước dẫn đầu về sản lượng nuôi tôm ở Tây bán cầu
và Đài Loan, Trung Quốc dẫn đầu ở Đông bán cầu. Sản lượng tôm nuôi
trên thế giới tăng từ 50.000 tấn vào năm 1975 lên 900.000 tấn vào năm
1985, trong đó 70% sản lượng tôm nuôi từ các quốc gia Châu Á. Theo
Shingli và Wang (1999), quá trình nuôi tôm biển ở Trung Quốc trải qua
bốn giai đoạn chính là: giai đoạn tăng trưởng chất (1978-1984), giai
đoạn tăng trưởng nhanh (1984-1988), giai đoạn đầy triển vọng (1988-

5-2009, giá tôm tại thị trường này đã giảm 10-20% so với thời điểm
cùng kỳ năm trước. Các nhà nhập khẩu dự báo, tình trạng khó khăn
trong xuất khẩu tôm sẽ còn kéo dài đến tháng 8-2009.
15
Tính đến đầu tháng 6-2009, diện tích tôm sú thiệt hại của vùng ĐBSCL
đã gần 10.000 ha, trong đó tại Sóc Trăng diện tích thiệt hại hơn 1.407
ha, Bạc Liêu 3.000 ha, Bến Tre trên 105 ha . Điều này làm nông dân
thận trọng hơn trong mùa vụ mới. Diện tích nuôi thâm canh và bán
thâm canh có chiều hướng giảm so với trước như: tỉnh Trà Vinh, diện
tích thả nuôi theo mô hình này mới khoảng 500ha (kế hoạch 2.000ha);
tỉnh Bến Tre trên 3.219ha (kế hoạch thực hiện năm 2009 là 5.685) (Báo
kinh tế nông thôn cập nhật ngày 25/06/2009 http://www. Kinh te nong
thon. com.vn).
2.3: Các mô hình nuôi tôm:
2.3.1: Nuôi quảng canh :
Là các hình thức nuôi dựa vào thức ăn tự nhiên trong ao. Mật độ tôm
trong ao thường thấp do lệ thuộc vào nguồn giống tự nhiên. Diện tích ao
nuôi thường lớn (còn gọi là đầm nuôi tôm) để đạt sản lượng cao. Ưu
điểm của mô hình này là vốn vận hành thấp vì không tốn chi phí giống
và thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch lớn, giá cao, cần ít lao động cho một
đơn vị sản xuất và thời gian nuôi tôm thường không dài do giống đã
lớn. Nhược điểm của mô hình này là năng suất và lợi nhuận thấp cần
diện tích ao nuôi để tăng sản lượng nên vận hành và quản lý khó, nhất là
ở các ao đầm tự nhiên có hình dạng rất khác nhau.
2.3.2: Nuôi quảng canh cải tiến:
Là hình thức nuôi dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nhưng có
cho ăn thêm một phần thức ăn tự chế hay thức ăn viên, các hình thức
nuôi ở mô hình này phổ biến là tôm – rừng, tôm - lúa luân canh hay xen
canh mang lại hiệu quả cho người nuôi, tạo công ăn việc làm tăng thu
nhập. Mật độ tôm thả nuôi trong mô hình này khoảng từ 2-6 con/m

rất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước hoàn toàn chủ động, có trang bị đầy đủ
các phương tiện máy móc, có điện và giao thông thuận lợi,…nên dễ
quản lý và vận hành. Nhược điểm của mô hình này là kích cỡ tôm thu
hoạch nhỏ (30-35con/kg), giá bán thấp chi phí vận hành cao lợi nhuận
trên một đơn vị sản phẩm thấp.
2.4: Môi trường nước ao nuôi tôm:
Chất lượng nước nuôi tôm bao gồm các yếu tố vật lý, hóa học và sinh
học, sự biến động của các yếu tố này đều ảnh hưởng đến năng suất nuôi
(Trương Quốc Phú etal, 2006).
Các yếu tố lý hóa sinh của nước và đất bao gồm nhiều yếu tố, trong đó
có một số yếu tố quan trọng:
- pH: nước có pH dưới 4 hay trên 10 có thể gây chết tôm. Khoảng pH
thích hợp cho tôm là 7 – 9.
- Độ mặn: khả năng thích nghi và chịu đựng độ mặn khác nhau tùy loài
tôm, đối với tôm sú có khả năng chịu độ mặn từ 5 – 10 %
0
, độ mặn cao
45 – 60%
0
có thể gây chết tôm, độ mặn thích hợp vào khoảng 25 –
30%
0
.
- Nhiệt độ: tốt nhất dao động trong khoảng 25 – 30
0
C.
- Oxy hòa tan: oxy là yếu tố môi trường cần thiết cho mọi loài sinh vật
hiếu khí. Trong đó do hàm lượng oxy hòa tan thấp nên vai trò của oxy
17
đối với cá thể hiện rõ hơn và dễ nhận biết hơn so với động vật ở trên

2
S: khí H
2
S rất độc đối với tôm. Khí này ở bất kỳ nồng độ nào cũng
có ảnh hưởng bất lợi đối với tôm. Tuy nhiên, nồng độ gây chết tôm
chưa được xác định.
- Amonia: amonia ở dạng khí rất độc. Hàm lượng khí trên 1mg/lít có
thể gây chết tôm. Hàm lượng khí trên 0.1mg/lít cũng gây ảnh hưởng bất
lợi. Ở pH bằng 9 và độ mặn 20%
0
khoảng 25 % amonia ở dạng khí, vì
thế nếu hàm lượng amonia tổng số khoảng 0.4 mg/lít cũng sẽ gây bất lợi
cho tôm.
- Nitrite: thông thường hàm lượng nitrite trong ao nuôi không cao đến
mức gây chết tôm, tuy nhiên nồng độ cao 4-5 mg/lít có thể ảnh hưởng
bất lợi cho tôm.
- Chất thải lắng tụ:
Chất thải lắng tụ trong ao phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và có
sự khác biệt giữa các ao, bao gồm: đất ao bị xói mòn do dòng chảy của
nước, đất từ bờ ao bị rửa trôi, phân tôm,thức ăn thừa của tôm, xác của
phiêu sinh vật, vôi và nhiều chất lơ lửng trong nguồn nước cấp.
- Chất độc:
đất ao và các chất lắng tụ sinh ra hai sản phẩm chính có độc cao đối với
tôm là H
2
S và NH
3
. Khí NH
3
sinh ra do sự bài tiết của tôm và sự phân

thuốc trừ sâu.
+ Copepoda: chỉ thị cho môi trường tương đối sạch (Dương Trí
Dũng,2000).
2.6: Các nghiên cứu liên quan:
2.6.1: Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Bojsen-Jensen (1919) là người đầu tiên nêu lên nguyên lý tính năng suất
sinh học. Nguyên lý Bojsen-Jensen dựa trên các nguyên lý biến động số
lượng các quần thể và thành phần của chúng.
Elster (1954-1955) là người đầu tiên tính trọng lượng động vật được bổ
sung trong các quần thể copepoda ở nước ngọt.
Bogrov - Zenkevits, năm 1971 đã nghiên cứu chỉ ra được vùng phân bố
của động vật phù du và động vật đáy, trong đó chỉ rõ các vùng khác
nhau thì có sinh khối và năng suất sinh học khác nhau.
Vladimirovan tổng kết các dẫn liệu và năng suất sinh học của động vật
phù du ở hồ chứa Rubin trong 12 năm (1956-1967) chỉ ra rằng năng
suất sinh học động vật chiếm 20%, năng suất động vật ăn thịt chiếm đến
19
63.1% so với năng suất sinh học của nhóm ăn lọc (Trích dẫn bởi Trần
Quốc Thới,1996).
2.6.2: Các nghiên cứu trong nước:
Người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu động vật nổi là M. Rose năm
1962 đã công bố 56 loài động vật phù du và 42 loài thực vật phù du.
Trong đó có 46 loài thuộc Copepoda ở vùng biển ven bờ Việt Nam và
Vịnh Thái Lan.
Năm 1962 Tổng cục Thủy sản trường Đại học tổng hợp Hà Nội, trường
Đại học Thủy Sản và một số trạm đã bắt đầu nghiên cứu thủy sinh vật ở
một số thủy vực để phục vụ cho công tác quy hoạch.
Năm 1962 ông A.Shirota cùng giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tiến sĩ Trần
Quốc Trường nghiên cứu thủy sinh vật ở vùng Rạch Giá, Cần Thơ,
Long Xuyên và nhiều nơi khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng chỉ

tại vùng lợ mặn, sau đó lại giảm khi di vào vùng biển ven bờ. Vùng đạt
cực đại về số lượng động vật nổi được quyết định bởi sự xuất hiện đồng
thời hai nhóm: nhóm nước lợ và nhóm từ biển xâm nhập vào. Đây cũng
là nơi biến đổi cuối cùng của nước ngọt thành nước biển, độ trong cao
hơn, sản phẩm quang hợp của thực vật nổi lớn (Vũ Trung Tạng1994).
Riêng khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ trong những năm gần
đây đã có nhiều nghiên cứu cơ bản về môi trường, thủy sinh vật quanh
khu vực đồng bằng sông Cửu Long qua đó đã xác định được thành phần
và số lượng thủy sinh vật tại các khu vực như: ven biển Kiên Giang, Cà
Mau…
Nghiên cứu cho thấy khi khảo sát thành phần giống loài ở vùng ven
biển ta thu được kết quả: thành phần loài chiếm ưu thế ở nước lợ mặn là
nhóm ngành Copepoda và Protozoa ngay cả về mật độ thì hai nhóm
ngành này cũng chiếm ưu thế hơn hẳn hai nhóm ngành còn lại là
Cladocera và Rotifera. Nghiên cứu của Trần Minh Phú và Nguyễn
Phước Tài (2002) khi khảo sát thành phần giống loài động vật nổi ở
vùng ven biển Hà Tiên cho thấy nhóm ngành Copepoda có 25 loài
chiếm 44.64% mật độ 23716 cá thể/m
3
, nhóm ngành Protozoa có 20 loài
chiếm 35.71% mật độ 17920 cá thể/m
3
, còn nhóm ngành Cladocera có 4
loài với mật độ 798 cá thể/m
3
và nhóm ngành Rotifera có 7 loài, mật độ
4026 cá thể/m
3
(Trần Minh Phú và Nguyễn Phước Tài,2002).
Khi khảo sát thành phần của các nhóm ngành động vật nổi ở một số

chiếm ưu thế nhất với 25 loài còn lại các nhóm ngành khác không đáng
kể, số lượng zooplankton từ khoảng 2.133-18.885 ct/m
3
trong đó giáp
xác chân chèo cũng chiếm ưu thế. Về vị trí thu mẫu thì nghiên cứu này
thu mẫu ở ba điểm đầu, giữa và cuối của kênh cấp vào đầm nuôi tôm
quảng canh.

22
Chương 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1: Vật liệu nghiên cứu:
- Lưới phiêu sinh động vật 60 µm.
- Kính hiển vi.
- Lame, lamelle.
- Ống hút nhựa.
- Chai nhựa 110ml.
- Chai nhựa 1Lit.
- Chai nút mài trắng và chai nút mài nâu.
- Xô nhựa 10 Lit.
- Fomaline thương mại 38%.
- Nhiệt kế.
- Khúc xạ kế.
- Máy đo pH.
- Máy so màu quang phổ.
- Máy công phá Kjedahl.
- Các dụng phân tích trong phòng thí nghiệm thủy hóa.
(1), bán thâm canh (2) và thâm canh (3) được thể hiện qua Hình 2.
Trong phạm vi địa bàn nghiên cứu, mẫu được thu ở kênh dẫn nước và
được chia thành 3 điểm: điểm 1 là điểm đầu của kênh dẫn, điểm 2 là
điểm giữa của kênh dẫn và điểm thứ 3 là điểm cuối của kênh dẫn nước
cho toàn bộ hệ thống nuôi bao gồm: tôm lúa, bán thâm canh và thâm
canh.
1
2

3

24
3.2.1.1: Mô hình quảng canh cải tiến (Tôm lúa luân canh):

Địa bàn nghiên cứu mô hình tôm lúa ở ấp Hậu Bối xã Hiệp Mỹ Đông
huyện Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh. Hình 3: Kênh dẫn mô hình nuôi tôm lúa luân canh

Diện tích của toàn bộ vùng nuôi này khoảng 300 hecta. Mật độ nuôi 5-
10 con/m
2
. Tôm được nuôi 2 vụ, vụ 1 từ tháng 2 – 6, vụ 2 từ tháng 6-10.
Lúa được canh tác luân canh với nuôi tôm trong khoảng tháng 7-8. Cỡ
giống post 12. Trong quá trình nuôi nguồn thức ăn cho tôm sú là thức
ăn viên (như: Tomboy, Greenfeed). Có xử lý ao đầu vụ nuôi, sử dụng
thuốc trong quá trình nuôi là rất ít. Tôm từ tháng 2 trở đi thay nước định
kỳ, mỗi tháng thay một lần. Nước thải từ ao nuôi tôm sau thu hoạch thải
trực tiếp ra sông. Sông đào được 7 năm nền đáy bùn là chủ yếu, hai bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status