Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp tại Công ty công trình giao thông 892 - Pdf 12

Lời nói đầu
Nh chúng ta đã biết, đất nớc ta đang trong giai đoạn quá độ tiến lên CNXH
xây dựng cơ sở vật chất cho XHCN, trong những năm gần đây nền kinh tế nớc ta
đã có những sự thay đổi rất cơ bản. Đại hôị Đảng lần thứ VIII cũng đã xác định:
Để tiến lên CNXH, chúng ta phải thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Để có một cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức mạnh và hoạt động có hiệu quả thì các
nhân tố nội tại trong cơ cấu đó (các thành phần kinh tế, các laọi hình donh nghiệp)
phải phát huy và hoạt động hết khả năng của mình. Để các doanh nghiệp đó hoạt
động có hiệu quả thì việc xây dựng một bộ máy quản lý lãnh đạo năng động, hợp
lý là hết sức quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải có một trình độ kiến thức cao, một
cách nhìn đúng đắn về vai trò của công tác quản lý trong từng doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, với những yêu cầu của thời kỳ mới: Thời kỳ phát
triển nền kinh tế hàng hoá có sự cạnh tranh gay gắt, để cho các doanh nghiệp có
thể phát triển và tồn tại thì bộ máy lãnh đạo phải đủ mạnh, phải năng động. Muốn
vậy, công tác xây dựng một cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp phải đợc chú
trọng một cách thích đáng, vấn đề này không chỉ đặt ra cho riêng một doanh
nghiệp, mà nó là vấn đề chung của toàn xã hội.
Một vấn đề đáng chú ý nữa là: Trong một cơ cấu kinh tế, ở mỗi một thành
phần kinh tế, mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những đặc điểm khác nhau. Do đó
việc xây dựng một cơ cấu quản lý, điều hành cũng phải khác nhau dể phù hợp với
tính chất và trình độ sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Để nhận thức đợc những vấn đề trên, việc vận dụng lý luận đã học trong nhà
trờng vào thực tiễn là việc làm không thể thiếu đối với mỗi sinh viên quản trị kinh
doanh. Quá trình thực tập tốt nghiệp tại công ty xây dựng CTGT - 892, qua khảo
sát thực trạng tổ chức quản lý của công ty, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài "
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp" nhằm hệ thống hoá
những kiến thức đã học tập vận dụng lý luận để giải quyết một vấn đề ra trong
thực tiển, đông thời góp phần nhỏ bé để tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ở công ty
Do khả năng thực tiễn và khả năng nghiên cứu khoa học còn hạn chế, thời
gian nghiên cứu có hạn, nên trong chuyên đề này, tôi không có tham vọng vận

kiện thuận lợi nhất để phát triển sản xuất, sử dụng có hiệu quả quyền dự trữ sẵn
có, tổ chức hợp lý, phối hợp và hợp đồng, nhất trí các hoạt động lao động nhằm
mục đích nâng cao mức sống vật chất văn hoá cho các thành viên trong xã hội.
Còn quản trị là sự điều khiển của chủ doanh nghiệp trong nội bộ doanh nghiệp của
mình là sự tác động có tổ chức lên đối tợng bị quản trị nhằm đạt đợc mục tiêu đặt
ra trong sự biến động của môi trờng.
Quản trị kinh doanh ra đời chính là tạo ra một hiệu quả hoạt động cao hơn
hẳn so với lao động của từng cá nhân riêng rẽ, của một nhóm ngời khi họ tiến
hành các hoạt động lao động chung. Nói một cách khác thực chất của quản trị
kinh doanh là quản trị con ngời trong doanh nghiệp thông qua đó sử dụng có hiệu
quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của doanh nghiệp.
3
Nếu xét về mặt kinh tế xã hội của quản trị thì quản trị doanh nghiệp là vì mục
tiêu lợi ích của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại phát triển lâu dài.
Trang trải vốn và lao động, bảo đảm tính độc lập và cho phép thoả mãn những đòi
hỏi xã hội của chủ doanh nghiệp và của mọi nhân viên trong doanh nghiệp. Ngày
nay khi nền kinh tế thế giới đã phát triển đến trình độ cao thì quản trị kinh doanh
đợc coi là một khoa học thực thụ. Bởi vì đối tợng nghiên cứu của nó là các quan hệ
quản trị phát sinh trong quá trình kinh doanh và đợc xử lý theo đúng các quy luật
khách quan vốn có của nó.
* Là một nghệ thuật bởi vì nó phụ thuộc chỉ vào cá nhân thơng nghiệp đó là
tài năng, kiến thức tích luỹ kinh nghiệp khả năng bẩm sinh và nó phụ thuộc vào cả
cơ may vận rủi của doanh nghiệp.
* Là một nghề bởi vì đây là một hoạt động mang tính trí tuệ cao và hiệu quả
của nó có ảnh hởng rất lớn đến cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Muốn những hoạt động này mang hiệu quả kinh tế cao thì chủ thể quản trị
kinh doanh phải có một trình độ kiến thức cao và phải đợc đào tạo một cách chu
đáo và phải là một ngời có khiếu nghề nghiệp ý chí làm giàu và cả lơng tâm nghề
nghiệp nữa. Nh vậy muốn điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có kết quả
một cách chắc chắn thì trớc tiên chủ doanh nghiệp phải đợc đào tạo một cách chu

5
Chủ thể
doanh nghiệp
Những người
lao động trong
doanh nghiệp
Mục tiêu
doanh nghiệp
Luật định và thông lệ xã hội
Nguồn cung ứng đầu vào
Các đối thủ cạnh tranh
Khách hàng
Các cơ hội, các rủi ro
Thị trư
ờng
Các
đầu
vào
Tác động
Doanh nghiệp
* Quản trị kinh doanh bao gồm 4 nội dung.
- Thứ nhất: Đó là sự nhận biết, áp dụng các quy luật và các nguyên tắc trong
quản trị kinh doanh để trả lời 2 câu hỏi: kinh doanh là làm gì?, và muốn kinh
doanh phải dựa vào đâu?.
- Thứ hai: Là phải nhận thức sâu sắc hai vấn đề đó là chức năng của quản trị
kinh doanh và cách thức tổ chức bộ máy doanh nghiệp để trả lời đợc câu hỏi Ai
làm gì ?, làm nh thế nào ?.
- Thứ ba: Là liên kết nội dung của hai quá trình trên vào thực tiễn nó bao
gồm các công việc thu nhập và sử dụng thông tin để ra quyết định và xác định
mục tiêu quản trị kinh doanh. Sử dụng các phơng tiệu và công cụ quản lý nhằm trả

Cơ cấu tổ chức quản lý đợc hình thành bởi các bộ phận quản lý và các cấp
quản lý.
+ Bộ phận quản lý: Là một đơn vị riêng biệt có những chức năng quản lý nhất
định. Chẳng hạn nh phòng kế hoạch, phòng kỹ thuật, phòng marketting...
+ Cấp quản lý: Là sự thống nhất tất cả các bộ phận quản lý ở một trình độ
nhất định nh cấp doanh nghiệp, cấp xí nghiệp.
Nh vậy rõ ràng bộ phận quản lý phản ánh sự phân chia chức năng quản lý
theo chiều ngang, còn các cấp quản lý thể hiện sự phân chia chức năng quản lý
theo chiều dọc. Lý luận và thực tiễn chứng minh sự cần thiết phải đảm bảo tính ăn
khớp giữa các bộ phận quản lý, giữa các cấp quản lý với bộ phận quản lý và các
cấp sản xuất kinh doanh.
6-/ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
Nh đã đề cập ở trên khi những ngời cùng làm việc với nhau trong một tổ chức
để đạt đợc môi trờng chung nào đó thì phải phân cho mỗi ngời một vai trò mà mỗi
ngời phải thực hiện, phải xây dựng một cách có chủ đích để đảm bảo đợc rằng
những họat động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa
trên cơ sở các nguyên tắc, quy tắc quản lý nhất định.
Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên
hệ phụ thuộc lẫn nhau đợc chuyên môn hoá và có những trách nhiệm quyền hạn
nhất định đợc bố trí theo nhiều khâu khác nhau, đảm bảo thực hiện các chức năng
quản lý và mục đích chung đã đợc xác định của doanh nghiệp.
7
Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân công lao động trong lĩnh vực quản
lý, nó tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản lý. Một mặt phản ánh
cơ cấu sản xuất, mặt khác nó tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất.
Tổ chức bộ máy quản lý là một trong những điều kiện cơ bản cho sự sống
còn của các doanh nghiệp nhằm giúp cho mọi ngời, mọi thành viên trong bộ máy
phối hợp làm việc với nhau một cách có hiệu quả nhất trong quá trình hoàn thành
các mục tiêu kế hoạch đã đề ra.
Thiếu một cơ cấu tổ chức hợp lý gây ra nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp cho

1.1. Nguyên tắc.
Cơ cấu này dựa trên nguyên tắc thống nhất chỉ huy. Đờng trực tuyến phải
thống nhất một ngời một, một thủ trởng cấp trên cần có một lợng giới hạn cấp dới
phụ thuộc. Địa hạt của mỗi bộ phận trong doanh nghiệp cần phải đợc ổn định một
cách đầy đủ và chủ doanh nghiệp phải là ngời có khả năng duy nhất giải quyết các
mâu thuẫn. Cơ cấu này đa đến mối quan hệ phụ thuộc. Nó có dạng một hình chóp
quyền lực đi theo từ chiều cao xuống thấp. Bậc ở cấp trên nắm quyền lực và có thể
uỷ quyền cho bậc thang ngay dới mình.
1.2. Sơ đồ minh hoạ.
1.3. Những u điểm và điều bất lợi.
* Ưu điểm.
- Đơn giản và rõ ràng do thống nhất chỉ huy.
- Khả năng tách biệt một cách rõ ràng các trách nhiệm
- Có hiệu quả khi giải quyết các mâu thuẫn (số ngời đối thoại hạn chế).
* Bất lợi.
- Có ngăn cách giữa các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp và thiếu sự
phối hợp giữa chúng.
- Sự cứng nhắc của tuyến.
- Khó khăn trong việc khuấy động sáng tạo.
- Khó khăn trong truyền thông.
9
- Thiếu các chuyên gia: Các thủ trởng phải có những năng lực đa dạng.
- Có nguy cơ quan liêu bởi sự tuân thủ thận trọng của tuyến.
1.4. Sự biến thái của mô hình này
* Trực tuyến theo đơn vị đại lý: Kiểu này thờng gặp ở những doanh nghiệp
có các nhà máy đặt ở những vùng khác nhau.


2.1. Nguyên tắc:
Vẫn là cơ cấu trực tuyến nhng lãnh đạo đã có thêm một bộ phận tham mu
giúp việc. Cơ quan tham mu có thể là một đơn vị, một nhóm chuyên gia hoặc một
cán bộ trợ lý. Bộ phận này không có quyết định mà chỉ có quyền đa ra ý kiến góp
ý của dự thảo quyết định.
2.2. Sơ đồ minh hoạ2.3. Ưu điểm và bất lợi.
* Ưu điểm.
- Vẫn dễ dàng thực hiện chế độ một thủ trởng.
- Bắt đầu biết khai thác chuyên gia.
* Nhợc điểm.
- Mất nhiều thời gian với tham mu dẫn đến giảm thời gian tác động đến đối t-
ợng.
- Tốc độ ra quyết định chậm.
(thờng áp dụng cho các phân xởng).
3-/ Cơ cấu chức năng.
3.1. Nguyên tắc.
Nhiệm vụ quản lý đợc phân chia cho các đơn vị riêng biệt để cùng tham gia
quản lý, mỗi đơn vị đợc chuyên môn hoá thực hiện một chức năng, dẫn đến ngời
phụ thuộc có thể nhận những mệnh lệnh từ nhiều chỉ huy.
3.2. Ưu nhợc điểm.
*Ưu điểm.
11
Tổng giám đốc
Lãnh đạo tuyến 2Lãnh đạo tuyến 1
Tham muTham mu
Bán hàng
4321

doanh nghiệp ta cần nên nghiên cứu 1 số mô hình sau:
5.1. Cơ cấu kiểu ma trận.
Kiểu cơ cấu này nó cũng dựa vào nguyên tắc song trùng lãnh đạo. Nó đợc
chia thành hai loại.
5.1.1. Cơ cấu ma trận theo dự án sẽ phối hợp hoạt động của các bộ phận
cho đến khi kết húc dự án và những ngời thực hiện dự án cũng sẽ giải tán (kiểu
cơ cấu này không cố định).

5.1.2. Cơ cấu ma trận nhiều chiều: Đây là mối liên hệ hai tuyến ổn định nó
thích hợp với sự kết hợp sản phẩm - chức năng sản phẩm - vùng địa lý, chức
năng - vùng địa lý. Đôi khi có thể có 3 đờng trực tuyến (chẳng hạn phối hợp sản
phẩm - chức năng quốc gia).
13
Lãnh đạo doanh nghiệp
Tham mu
Lãnh đạo
chức năng B
Lãnh đạo
chức năng A
Lãnh đạo
tuyến 1
Lãnh đạo
tuyến 1
nn-121
Tổng giám đốc
Nghiên cứu Sản xuất Bán hàngMua
Chủ dự
án 18
Chủ dự án
sân bay

quỹ lơng và không thừa biên chế, mở rộng đợc quan hệ.
6-/ Mối liên hệ trong cơ cấu.
Một vấn đề quan trọng trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý doanh
nghiệp phải xác định đúng đắn rõ ràng các mối quan hệ giữa các bộ phận trực
tuyến chỉ huy cấp trên và dới quản lý giữa các bộ phận, các cấp các nhân viên
quản lý doanh nghiệp. Các loại liên hệ đó là:
*Liên hệ trực thuộc: Là loại quan hệ giữa cán bộ và nhân viên trong bộ phận.
* Liên hệ chức năng: Là loại liên hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau
trong quá trình chuẩn bị quyết định cho thủ trởng hoặc giữa bộ phận chức năng
cấp dới nhằm hớng dẫn giúp đỡ về mặt chức năng nhiệm vụ.
* Liên hệ t vấn: Là loại liên hệ giữa cơ quan lãnh đạo chung pháp chế với các
hội đồng đợc tổ chức theo từng loại công việc.
Chỉ có trên cơ sở xác định đúng đắn mối quan hệ trên mới làm cho mỗi bộ
phận, mỗi cá nhân trong cơ cấu nhận rõ vị trí của mình, biết mình trực thuộc ai, ai
phụ thuộc mình để từ đó họ thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Nh vậy
bản chất của mối quan hệ đó là việc tạo dựng một êkíp cho doanh nghiệp từ đó
mới có sự thống nhất trong hành động và quyết định chỉ huy mới có hiệu quả.
7-/ Tổ chức các phòng chức năng.
Là những tổ chức bao gồm cán bộ nhân viên kinh tế kỹ thuật, hành chính. Đ-
ợc phân công chuyên môn hoá theo các chức năng quản lý. Có nhiệm vụ giúp
giám đốc chuẩn bị các quyết định theo dõi hớng dẫn các phân xởng các bộ phận
sản xuất cũng nh cán bộ công nhân viên cấp dới đợc thực hiện đúng, kịp thời các
quyết định quản lý.
Trách nhiệm chung của các phòng chức năng là phải vừa hoàn thành tốt
nhiệm vụ đợc giao vừa phải phối hợp chặt chẽ với các phòng khác nhằm đảm bảo
cho tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đợc tiến hành một cách ăn
khớp đồng bộ nhịp nhàng. Các phòng chức năng không có quyền trực tiếp chỉ huy
các phân xởng bộ phận sản xuất. Trong giai đoạn hiện nay việc tổ chức các phòng
chức năng theo hớng chuyên tinh gọn nhẹ là rất cần thiết. Việc tiến hành xây dựng
các phòng chức năng cần thiết đợc tiến hành theo các bớc sau:

Công ty xây dựng và sản xuất dịch vụ đợc thành lập năm 1977 với tên gọi là
trạm C30 đến năm 1990 mới đổi tên là Xí nghiệp xây dựng và sản xuất dịch vụ
theo quyết định số 312/TCCB -LĐ ngày 5 tháng 03 năm 1990 của Bộ giao thông
vận tải và bu điện. Còn công ty xây dựng 885 đợc thành lập theo quyết định số 96
QĐ/TCCB - LĐ ngày 9 tháng 01 năm 1992 của Bộ giao thông vận tải và bu điện
trên cơ sở chuyển đổi từ xí nghiệp sản xuất và xây dựng 885 trực thuộc Tổng công
ty xây dựng công trình 8 theo quyết định số 1986 QĐ/TCCB - LĐ ngày 02 tháng
10 năm 1969 của Bộ giao thông vận tải và bu điện.
Công ty xây dựng công trình 892 là một doanh nghiệp hạch toán độc lập, có
t cách pháp nhân đầy đủ đợc mở tài khoản tại ngân hàng (kể cả ngân hàng ngoại
thơng). Là các đơn vị thành viên của tông công ty xây dựng công trình giao thông
8, bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc có quan hệ mật thiết với nhau về lợi
ích kinh tế, tài chính, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin trong hoạt động kinh doanh của
công ty. Trụ sở chính của công ty đóng tại phờng Hàm Rồng Thành phố Thanh
Hoá. Nhng hiện tại công ty đợc đặt tại phờng Hạ Đình Thanh Xuân Hà Nội.
Ngay sau khi thành lập với số vốn ít ỏi là 824 triệu đồng trong tay công ty đã
chủ động hoạt động theo phơng thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích ngời lao
động. Trong đó lợi ích ngời lao động là động lực trực tiếp. Công ty thực hiện chế
độ tự chủ sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật quy định và quản lý theo
17
chế độ một thủ trởng trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ tập thể của ngời lao
động.
Ngay từ khi thành lập công ty đã triển khai mạnh mẽ các hoạt động sản xuất
kinh doanh, các loại hình sản xuất kinh doanh bao gồm:
- Xây dựng các công trình giao thông gồm: Nền, mặt đờng bộ, cống, cầu vừa
và nhỏ.
- Xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng.
- Sản xuất các mặt hàng đồ mộc cao cấp phục vụ cho trang trí nội thất và tiêu
thụ trên thị trờng

Qua nghiên cứu quá trình phát triển của công ty xây dựng công trình giao
thông 892 ta thấy công ty mới thành lập từ năm 1992 những đã có những bớc đi
vững chắc và an toàn. Bởi công ty đã rút ra đợc các bài học thời bao cấp, sớm hoà
nhập với nền kinh tế thị trờng. Công ty đã biết cải tiến đội ngũ lao động quản lý
nghĩa là tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý nhằm khai thác triệt để khả năng của
công ty để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả là rất cần thiết.
Chỉ tiêu
Thực tế năm
1999
Kế hoạch năm 2000
Giá trị tổng sản lợng (đồng) 13.389.000.000 15.000.000.000
Tổng doanh thu (đồng) 28.963.000.000 35.000.000.000
Nộp ngân sách (đồng) 404.750.000 500.000.000
Đờng quốc lộ (Km) 63 80
Đờng giao thông nội thị (Km) 12 20
Trờng học nhà ở... (Công trình) 5 10
Cầu, cống, kè, đập... (Công trình) 16 20
Công ty công trình giao thông 892 là một công ty trực thuộc tổng công ty xây
dựng giao thông 8 với quy mô sản xuất không phải là lớn nhng họ có thể tin tởng
vào doanh nghiệp của mình. Mặc dù ra đời cha lâu nhng công ty là một doanh
nghiệp xây dựng cơ bản có bề dày về sản xuất kinh doanh, có kinh nghiệm trong
thi công công trình giao thông và kiến trúc dân dụng.
Công ty đã chủ động mở rộng địa bàn, quan hệ mật thiết với nhiều cấp, nhiều
ngành. Đặc biệt là các cơ sở giao thông Quang Ninh - Hải Phòng - Cao Bằng - Hà
Bắc - PMU5 - PMU 18 - PMU1 và nhiều đơn vị khác trong tổng công ty và ngoài
tổng công ty.
19
Do đó đã ký kết đợc nhiều công trình đảm bảo ổn định công ăn việc làm cho
công nhân, mức thu nhập cho ngời lao động tăng lên đáng kể.
Nhờ sự giúp đỡ trực tiếp của bộ giao thông vận tải, sự quan tâm giúp đỡ của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status