MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG VIẾT TẮT
ATGT
BTXM
BOT
BT
CHXHCN
CNH-HĐH
CSHT
ĐRCN
ĐVT
GPLX
HĐND
HTX
KCN
NSNN
NSTW
GTĐB
GTĐT
GTVT
PTTH
QLNN
TNGT
: An toàn giao thông
: Bê tông xi măng
: Xây dựng-kinh doanh-chuyển giao
: Xây dựng-chuyển giao
: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu bộ máy QLNN về VTHK Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.4. Cơ cấu bộ máy của Sở GTVT Đồng Nai Error: Reference source not
found
Biểu đồ 2.5. Số lượng đội ngũ lái xe Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.6. Số vụ vi phạm, tổng số tiền nộp Kho bạc Nhà nước Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.7. Sản lượng vận chuyển hành khách Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.8. Số lượng các tỉnh đối lưu với tỉnh Đồng Nai Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2.9. Tổng số xe các doanh nghiệp đầu tư theo Quyết định 39 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.10. Số lượng xe theo tuyến cố định, xe buýt, taxi.Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2.11. Số lượng doanh nghiệp, HTX, taxi tham gia kinh doanh VTHK Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.12. Tổng số tiền trợ giá tuyến VTHK công cộng bằng xe buýt Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.13. Chi phí trợ giá cho 1 hành khách/đồng Error: Reference source not
found
Biểu đồ 2.14. Cấp thẻ đi xe buýt miễn phí Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.15. Tình hình tai nạn giao thông Error: Reference source not found
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong buổi gặp mặt các đại biểu dự Đại hội Thi đua đảm bảo GTVT quyết tâm
đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tổ chức tại Hà Nội ngày 24/3/1966 Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói : “Nhiệm vụ của các cô, các chú bên GTVT rất quan trọng, phải làm
cho tốt, làm cho kỳ được … GTVT có nhiều ngành. Có ngành thủy, ngành bộ, có
xe, có cầu, có phà … các cô các chú phải ra sức thi đua với nhau. Thi đua làm
cho giao thông : một là thông suốt, hai là an toàn, ba là liên tục. Phải nhằm vào
ba cái đó mà thi đua”.
kinh tế đất nước, là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, là mắt xích không thể
thiếu được trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sự giao lưu kinh tế và văn
hóa phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người. Ngoài ra GTVT còn
giữ một vai trò quan trọng đối với việc giữ gìn an ninh quốc phòng, phục vụ sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Trong thời gian qua hệ thống pháp luật về GTVT đường bộ của nước ta chưa
hoàn chỉnh, các văn bản pháp luật vừa thiếu, vừa không đồng bộ. Công tác QLNN
về GTVT đường bộ chưa theo kịp nhu cầu phát triển của lực lượng vận tải đường
bộ trong cơ chế thị trường. Sự phối hợp giữa các ngành, địa phương trong QLNN về
cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, còn chồng chéo làm ảnh hưởng đến hoạt động trong
lĩnh vực vận tải đường bộ. Công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến, hướng dẫn
pháp luật về luật GTĐB chưa hiệu quả, ý thức người dân về chấp hành pháp luật
GTĐB chưa cao. Trong một thời gian dài, Nhà nước đã buông lõng quản lý, để cho
lĩnh vực vận tải đường bộ phát triển tự phát, ồ ạt theo cơ chế thị trường dẫn đến sự
rối loạn trên thị trường vận tải, khủng hoảng “vừa thừa vừa thiếu”. Bên cạnh đó,
VTHK là phương thức vận tải gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất, nhưng không
được quan tâm kiểm soát đúng mức.
Chưa tạo được môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế kinh doanh
tham gia vào VTHK : Sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh
VTHK, chất lượng phương tiện đầu tư không đồng đều, các tuyến mở chồng chéo
2
kém hiệu quả, chưa ưu đãi cho các HTX như : cấp đất, thuế, cho vay với lãi suất ưu
đãi để đầu tư phương tiện …
Một số thành phần tham gia VTHK chấp hành pháp luật chưa cao, nhiều hiện
tượng tiêu cực, nhưng giải quyết không triệt để như : TNGT, ùn tắc giao thông, xe
dù, tranh giành khách, bán khách, chạy không đúng tuyến, xe không vào bến, …
Việc kiểm tra, kiểm soát trên đường của Thanh tra đường bộ chưa cao, công
tác trật tự ATGT thực hiện chưa nghiêm, TNGT vẫn còn ở mức cao, ảnh hưởng lớn
đến phát triển kinh tế - xã hội.
Với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc QLNN về GTVT
Đối với thuyết hành vi trong quản lý của Herbert A.Simom thì cốt lõi của quản
lý là ra quyết định (quyết sách), bao gồm : hoạch định kế hoạch, lựa chọn phương
án hành động, thiết lập cơ cấu tổ chức, phân định trách nhiệm và quyền hạn, so sánh
tình hình thực tế với kế hoạch, kiểm tra, tổ chức và điều khiển đối với mọi cấp quản
lý và mọi mặt của quá trình quản lý.
Ngoài ra, tác giả đã tham khảo sách “Những vấn đề cốt yếu của Quản lý” của
TS.Harald Koontz, TS.Cyril Odonnell, TS.Heinz Weirich, NXB Khoa học và kỹ
thuật, 1998. Sách đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cần thiết trong quản
lý, đây là quyển sách hữu ích đã giúp cho tác giả một bộ khung của kiến thức cơ
bản của quản lý theo các chức năng lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên
chế, lãnh đạo và kiểm tra. Mục đích là nhằm làm quản lý trở thành một khoa học -
tức là một tri thức có tổ chức và làm cho khoa học này trở nên hữu ích khi áp dụng
trong thực tế với tư cách là nhà thực hành. Tuy nhiên, dù có nhấn mạnh nhiều vào vai
trò quản lý trong việc tạo ra và duy trì một môi trường bên trong, tác giả nhận thấy
rằng vẫn phải xét tới sự hoạt động của các nhà quản lý đối với toàn bộ môi trường
xung quanh như về mặt kinh tế, xã hội, chính trị, kỹ thuật-công nghệ và đạo lý.
Nghiên cứu trong nước, tác giả đã nghiên cứu một số giáo trình của Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Hành chính Quốc gia.
Trong quá trình thực thi chính sách, cần áp dụng một số nội dung như hoạch
định, tổ chức và kiểm tra. Nhà nước cần có lực lượng kinh tế để sản xuất và cung
4
ứng những hàng hóa dịch vụ mà khu vực tư nhân không làm được hoặc làm được
nhưng cần có sự hỗ trợ của nhà nước. Để thực hiện nhiệm vụ quản lý, nhà nước cần
phải tổ chức thực hiện bộ máy và ban hành các Luật, các văn bản quy phạm pháp
luật để điều tiết nền kinh tế thị trường, hướng dẫn, quản lý các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân trong quá trình điều hành đất nước. Nội dung QLNN đối với các
doanh nghiệp, HTX là xây dựng và ban hành pháp luật, xây dựng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, dự án, đầu tư, tổ chức thực hiện, định hướng và điều chỉnh, thực
hiện các hoạt động hỗ trợ, kiểm tra, giám sát.
Ngoài ra, tác giả đã nghiên cứu luận văn thạc sĩ và đề tài nghiên cứu khoa học
thống kê kết hợp với phương pháp chuyên gia thông qua việc tham khảo các ý kiến
của các chuyên gia, các báo cáo của Sở, các đơn vị trực thuộc ngành có liên quan.
Mặt khác, trên cơ sở những kiến thức đã học, những kinh nghiệm trong quá trình
công tác của bản thân để đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện
mục tiêu nghiên cứu.
7.Những đóng góp của luận văn.
- Góp phần xây dựng lý luận về QLNN về VTHK.
- Trình bày, phân tích những kết quả đạt được, những tồn tại, nguyên nhân, từ
đó xây dựng những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việc QLNN về VTHK trong
bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
8.Kết cấu của luận văn.
Luận văn gồm 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận của QLNN về VTHK.
Chương 2 : Thực trạng QLNN về VTHK tỉnh Đồng Nai.
Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện QLNN về VTHK tỉnh Đồng Nai.
6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH
1.1. Đường bộ và vận tải hành khách
1.1.1. Đường bộ
a. Khái niệm đường bộ
Đường bộ là các công trình giao thông phục vụ cho sự đi lại của người dân và
các phương tiện vận tải tham gia đường bộ bao gồm đường, cầu đường bộ, hầm
đường bộ, bến phà đường bộ.
Hệ thống đường bộ trong cả nước là một mạng liên hoàn do nhà nước thống
nhất quản lý không phân biệt đường bộ được xây dựng bằng nguồn vốn nào.
+ Các khái niệm khác liên quan đến đường bộ :
- Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn
tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân
đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng.
Quốc lộ (QL) :
Quốc lộ là đường nối liền Thủ đô Hà Nội với trung tâm hành chính cấp tỉnh;
đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối
liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa
khẩu chính trên đường bộ; đường có vị trí đặc biệt quan trọng trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực.
Đường tỉnh (ĐT) :
Đường tỉnh là đường nối trung tâm hành chính của tỉnh với trung tâm hành
chính của huyện hoặc trung tâm hành chính của tỉnh lân cận; đường có vị trí quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đường huyện (ĐH) :
Đường huyện là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm
8
hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có
vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Đường xã (ĐX) :
Đường xã là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản
và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã.
Đường đô thị (ĐĐT) :
Đường đô thị là đường trong phạm vi giới hành chính nội thành, nội thị.
Đường chuyên dùng (ĐCD) :
Đường chuyên dùng là đường chuyên phục vụ cho việc vận chuyển, đi lại của
một hoặc một số cơ quan, tổ chức, cá nhân.
1.1.2. Vận tải hành khách
a. Khái niệm vận tải hành khách
Vận tải hành khách là một loại hình kinh doanh vận tải đường bộ, là ngành
nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật, hoạt động VTHK phải
phù hợp với quy hoạch GTVT đường bộ và mạng lưới tuyến vận tải.
chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của HTX theo
quy định của pháp luật”.
- Hộ kinh doanh cá thể là những cá nhân tự đầu tư xe, tự mình kinh doanh,
thường chạy theo hợp đồng.
1.2. Quản lý nhà nước về vận tải hành khách
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về vận tải hành khách
Có thể hiểu khái niệm QLNN về VTHK là : QLNN về VTHK là sự tác động
có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước lên đối tượng bị quản lý trong
việc tổ chức, quy hoạch, điều hành các tuyến xe thông qua quản lý các doanh
nghiệp, HTX kinh doanh trong lĩnh vực vận tải nhằm phục vụ cho nhu cầu đi lại của
nhân dân, góp phần vào việc tạo xây dựng và phát triển đất nước trong lĩnh vực
GTVT một cách có hiệu quả và công bằng.
10
QLNN về VTHK là một bộ phận quan trọng của QLNN đối với GTĐB cũng
như QLNN đối với chính sách kinh tế - xã hội nói chung. Xã hội luôn có những vấn
đề chung liên quan đến cuộc sống của mọi người, vượt quá phạm vi của mỗi cá
nhân, mỗi nhóm người, một tổ chức có quy mô nhỏ, vì vậy cần có sự QLNN đối với
những lĩnh vực mà tổ chức tư nhân trong hoạt động của mình cần có sự quản lý điều
tiết của nhà nước, thông qua QLNN để đáp ứng các nhu cầu trong đời sống xã hội
của mọi người. Một trong những vấn đề đó là GTĐB, đặc biệt là lĩnh vực VTHK,
một lĩnh vực cần phải được nhà nước quan tâm hàng đầu trong bối cảnh toàn cầu
hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Thông thường nhà nước có hai chức năng chính là : (1) chức năng cai trị hay
còn gọi là QLNN bao gồm các hoạt động quản lý và điều tiết đời sống kinh tế - xã
hội thông qua các công cụ vĩ mô như pháp luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch,
kế hoạch và kiểm tra, kiểm soát; (2) chức năng phục vụ bao gồm các hoạt động
cung ứng dịch vụ công cho xã hội, cho các tổ chức xã hội và công dân, nhằm phục
vụ các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân. Việc
thực hiện QLNN là thực hiện theo nhu cầu của bản thân bộ máy nhà nước nhằm
đảm bảo trật tự, ổn định và an toàn xã hội. Còn việc cung ứng các dịch vụ công lại
ích công cộng, nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế
cùng tham gia.
Do vậy, lĩnh vực VTHK là loại hình “sản xuất vật chất đặc biệt” mang tính xã
hội hóa cao. Nhu cầu đi lại của nhân dân là một điều tất yếu khách quan, xã hội ngày
càng phát triển thì đòi hỏi dịch vụ VTHK càng cao, mạng lưới VTHK phải đi trước
thời đại đáp ứng kịp thời sự phát triển của đất nước. Vì vậy cần có sự quan tâm đúng
mức của nhà nước để hoạch định đúng hướng cho sự phát triển loại hình dịch vụ này,
đây cũng là bộ mặt đổi mới của đất nước trong việc hình thành hệ thống GTĐB cũng
như mạng lưới VTHK theo tinh thần thực hiện “văn hóa giao thông”.
Trong lĩnh vực VTHK, phải phát triển đồng bộ về cả số lượng, chất lượng
phương tiện, bến bãi, chất lượng phục vụ, … nhưng phải có chiến lược, kế hoạch
12
phát triển, định hướng rõ ràng để không tạo ra sự lãng phí trong đầu tư, các doanh
nghiệp kinh doanh vận tải không có lãi, trật tự ATGT không đảm bảo, gia tăng
TNGT. Vì vậy, trong thực tế là cần phải có sự quản lý của nhà nước để điều tiết sự
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này – đây là yêu cầu cấp thiết và cấp bách
trong giai đoạn hiện nay.
Đối với tỉnh Đồng Nai, do đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt
có sự chênh lệnh về kinh tế, xã hội, văn hóa giữa thành thị với nông thôn, vùng sâu
vùng xa, miền núi, đòi hỏi VTHK phải phát triển ổn định và bền vững đáp ứng nhu
cầu lớn của xã hội với sự định hướng đúng của chính quyền địa phương.
Như vậy, mục tiêu của QLNN về VTHK trong giai đoạn hiện nay là :
- Xây dựng và không ngừng hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy
hoạch để tạo điều kiện cho lĩnh vực VTHK phát triển đúng định hướng không xảy
ra lãng phí trong đầu tư, phát triển ổn định và bền vững để có thể đáp ứng được nhu
cầu phát triển của xã hội.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống GTĐB để phục vụ trong lưu thông đường
bộ mà chính là VTHK phục vụ cho sự đi lại của người dân.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh VTHK hoạt động
trong môi trường kinh doanh lành mạnh, ít tệ nạn, ít có sự thay đổi trong chính sách.
điều hành để mạng lưới VTHK được hoạt động liên tục. Các lái xe, người tham gia
giao thông phải nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông để luôn giữ gìn an toàn
cho mình và cho người khác.
c. Nguyên tắc “Đúng giờ”
Quản lý tổ chức điều hành các tuyến VTHK theo nguyên tắc “Đúng giờ”, đi
đúng lịch trình, biểu đồ xe chạy, xuất bến đi và về bến đến đúng giờ.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về vận tải hành khách
a. Thể chế, pháp luật chính sách của nhà nước
Thể chế, pháp luật, chính sách của nhà nước là những công cụ mà nhà nước sử
dụng trong việc thực hiện mục tiêu nhiệm vụ chính trị của hệ thống chính trị của một
giai cấp thống trị, thể hiện quyền lực của mình trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
14
Nhà nước thực hiện quản lý thống nhất, có chiến lược, kế hoạch cho toàn bộ
nền kinh tế quốc dân trong cả nước, việc quản lý và điều hành toàn bộ quá trình sản
xuất và tái sản xuất xã hội của các thành phần và ngành kinh tế trong đó có lĩnh vực
VTHK. Tùy theo từng ngành nghề, lĩnh vực, thành phần kinh tế nhà nước cân đối
để chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra, thực hiện hướng dẫn chỉ đạo,
kiểm tra, kiểm soát sự hoạt động của mọi lĩnh vực, mọi thành phần và mọi ngành
nghề trong xã hội.
QLNN về VTHK là nhằm tạo điều kiện cho các loại hình tham gia kinh doanh
vận tải được phát triển nhanh, bền vững, đúng định hướng, tất cả các thành phần
kinh tế kinh doanh VTHK được ổn định sản xuất kinh doanh, đạt hiệu quả cao,
không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật nhà nước, dần dần tạo nên văn hóa văn minh giao thông.
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra nhà nước cần phải xây dựng và ban hành
các văn bản luật, các văn bản quy phạm pháp luật một cách đầy đủ, đồng bộ, chặt
chẽ, có tính khả thi cao.
b.Vai trò của tỉnh
HĐND và UBND là cơ quan Trung ương tại địa phương quản lý trên mọi lĩnh
vực trên địa bàn tỉnh, thực hiện theo Nghị quyết, theo kế hoạch 5 năm, hàng năm.
kinh tế - xã hội đáp ứng được các yêu cầu chính đáng của nhân dân sẽ đem lại lòng
tin và hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong một xã hội ổn định chính
trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại
tài sản khác, do đó các nhà kinh doanh sẵn sàng đầu tư.
+ Bảo đảm ổn định xã hội :
Mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong một môi trường văn hóa – xã hội
nhất định, giữa doanh nghiệp và môi trường có những mối liên hệ chặt chẽ, tác
động qua lại lẫn nhau. Xã hội cung cấp các nguồn lực mà doanh nghiệp cần và tiêu
thụ những hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Các giá trị chung của xã
hội, các tập tục truyền thống, lối sống của nhân dân, các hệ tư tưởng tôn giáo và cơ
cấu dân số, thu nhập cá nhân có tác động nhiều mặt đến các hoạt động của các tổ
16
chức kinh doanh. Tạo môi trường văn hóa – xã hội ổn định, thuận lợi cho các hoạt
động của chủ thể kinh tế trên thị trường là nhà nước đã thực hiện vai trò kinh tế của
mình đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
Nhà nước cần tiếp tục cải cách hành chính trong các lĩnh vực như thuế, đăng
ký kinh doanh…, giúp cho doanh nghiệp kinh doanh VTHK hoạt động có hiệu quả;
có chính sách hỗ trợ giá cho hoạt động xe buýt, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh
thông qua chất lượng phương tiện, chất lượng phục vụ, giá vé,…
Việc tạo ra môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh VTHK là
điều cần thiết để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phương tiện,
… để doanh nghiệp thấy được mình sẽ có lợi khi kinh doanh vào lĩnh vực này. Bên
cạnh đó, cho doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng của mình trong việc góp phần
làm thay đổi văn hóa giao thông của đất nước.
d.Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước
về vận tải hành khách
Tổ chức bộ máy QLNN về VTHK phải được thành lập và hoạt động thông
suốt, ổn định theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tổ chức bộ máy phải đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ đặt ra trong mọi thời kỳ.
Trình độ, năng lực các cán bộ trong ngành, nhất là các cán bộ công chức trực
ít có tác dụng thực tế.
Vì vậy, trong lĩnh vực kinh doanh VTHK, trình độ, năng lực của doanh nghiệp
có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có
chiến lược, kế hoạch đúng hướng thì sẽ tận dụng hết những cơ hội và hạn chế
những nguy cơ, thách thức mới có thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường.
f.Ý thức của người dân
Nhận thức là một quá trình. Đặc biệt là nhận thức về pháp luật – yếu tố nhận
thức bắt buộc, đó lại càng là một quá trình phức tạp, khó khăn, kéo dài. Không chỉ
thế, từ nhận thức đến hành động đúng lại còn là một khoảng cách rất lớn.
Ý thức của người dân trong giao thông cũng là điều cần phải quan tâm. Phải
giáo dục tuyên truyền ý thức chấp hành nghiêm chỉnh Luật GTĐB khi tham gia lưu
thông trên đường, điều này cũng thể hiện được văn minh văn hóa của đất nước. Vì
18
vậy mà không thể lơ là trong việc tuyên truyền, giáo dục cho người dân về văn hóa
giao thông, về Luật GTĐB.
Để có một thế hệ tương lai có ý thức trách nhiệm với xã hội, quý bản thân mình,
nhà nước cần phải có chiến lược, kế hoạch từ Trung ương đến địa phương, các ngành
các cấp, nhất là ngành Giáo dục đào tạo, đưa việc giáo dục vào trường học, ngoài ra
cần phải luôn tuyên truyền, giáo dục Luật GTĐB với các thành phần khác trong xã
hội. Nhà nước cần quan tâm hơn nữa việc nâng cao ý thức của người dân trong việc
chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách pháp luật cũng như các văn bản quy phạm
pháp luật để dần dần tạo thành ý thức tư duy trong mỗi một con người.
Để làm được như vậy phải có sự nỗ lực hết mình của các ngành các cấp, sự
nhiệt tình ủng hộ của người dân thật sự muốn có sự thay đổi mới trong bộ mặt giao
thông của nước nhà – văn hóa giao thông như các nước tiên tiến trên thế giới.
1.3. Nội dung của quản lý nhà nước về vận tải hành khách
QLNN là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với quá
trình và hành vi xã hội, quản lý toàn bộ xã hội, trong đó có sự thực hiện QLNN đối
với từng lĩnh vực, từng ngành cụ thể khác nhau. Nhà nước tổ chức xây dựng và
quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
buýt phục vụ cho VTHK công cộng), là công cụ vì thông qua việc tăng, giảm, miễn
thuế nhà nước kích thích hay kìm hãm động lực của đối tượng quản lý; thông qua
việc tăng, giảm lãi suất ngân hàng (như không áp dụng lãi suất khi vay mua xe
buýt) có thể điều chỉnh chiều hướng hoặc mức độ hoạt động của các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực VTHK; thông qua tỷ giá hối đoái của hoạt động thu đổi
ngoại tệ, nhà nước điều chỉnh việc sử dụng ngoại tệ của các đối tượng hoạt động
sản xuất kinh doanh VTHK, đầu tư hay không đầu tư phương tiện vận chuyển mới,
…
Nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững, trong đó có lĩnh vực
VTHK phải định hướng việc phát triển số lượng, chủng loại phương tiện phù hợp,
dần dần thay thế, loại bỏ xe cải tiến, xe cũ nát, xe ôm. Tạo điều kiện cho doanh
nghiệp trong nước sản xuất ô tô để sử dụng trong nước, kể cả xuất khẩu, đồng thời
20
xem xét, điều chỉnh các loại thuế có liên quan đến phương tiện VTHK, có chính
sách hợp lý cho nhập khẩu và sản xuất xe buýt phục vụ trong nước trong lĩnh vực
VTHK. Tạo điều kiện về các chính sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp nước
ngoài đầu tư sản xuất ô tô, phụ tùng nhằm tiếp cận kỹ thuật công nghệ cao trong
lĩnh vực này.
Có chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển mạng lưới giao thông đường bộ,
xây dựng hệ thống đường dành riêng cho VTHK bằng xe buýt phát huy cao độ,
phục vụ đáp ứng đủ nhu cầu đi lại của người dân.
Có chính sách cho việc đào tạo cán bộ quản lý các loại hình doanh nghiệp có
liên quan đến lĩnh vực VTHK, cụ thể hiện nay nên chú trọng đào tạo cán bộ cho các
HTX kinh doanh VTHK.
1.3.2. Lập kế hoạch và quy hoạch mạng lưới về vận tải hành khách
Cùng với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, GTĐB là việc cần phải
triển khai phát triển nhanh chóng, phát triển nhanh hơn so với phát triển kinh tế -xã
hội. Hiện nay, VTHK là một trong những vần đề mang tính xã hội cao, nó góp phần
vào việc lưu thông giao thông với một bộ mặt mới của giao thông của nước ta đó là
phát triển lên thành “văn hóa giao thông”.
Tuyên truyền, phổ biến Luật GTĐB theo chủ đề nhằm nâng cao hiệu quả công tác
tuyên truyền, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo đảm trật tự ATGT, từng
bước xóa bỏ những thói quen tùy tiện vi phạm quy tắc GTĐB, và mục tiêu cuối
cùng là xây dựng “văn hóa giao thông”.
Văn hóa giao thông là một bộ phận trong văn hóa ứng xử của con người khi
tham gia giao thông. Đó là sự tôn trọng, là sự hiểu biết đầy đủ và nghiêm chỉnh
chấp hành các luật về giao thông trong đó có Luật GTĐB.
Nhằm giảm đến mức thấp nhất vi phạm pháp luật, TNGT, đồng thời nâng cao
nhận thức pháp luật, tính tự giác chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông
cũng như là đội ngũ lái xe trong lĩnh vực VTHK. Việc tiếp tục tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về trật tự ATGT, đặc biệt là ý thức, văn hóa ứng xử của người tham
22