CHUYÊN ĐỀ: Thực trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế nhập khẩu đến năm 2020 - Pdf 12


ĐỀ ÁN
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020
______________________________________________________
DỰ THẢO CHUYÊN ĐỀ
Thực trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất hàng
xuất khẩu, hàng thay thế nhập khẩu đến năm 2020
Người thực hiện: PGS.TS. Bùi Tất Thắng
Ths. Nguyễn Hoàng Hà
CN. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
CN. Phan Thị Sông Thương
Đơn vị công tác: Viện Chiến lược Phát triển 1
LỜI NÓI ĐẦU Trong suốt gần hai mươi tư năm mở cửa, từ năm 1986 cho đến nay
(2010), Việt Nam gần như nhập siêu tất cả các năm (trừ năm 1992 có xuất siêu
với giá trị không đáng kể), đặc biệt trong 4 năm trở lại đây, mức xuất siêu đã
vượt trên mức 10 tỷ USD (trong đó năm 2008 là 18 tỷ USD, gần bằng 20%
GDP). Chính điều này là một trong những nguyên nhân khiến không ít nhà kinh
tế nhận định nền kinh tế Việt Nam thiếu đi tính ổn định cao, mặc dù chúng ta đã
tăng trưởng liên tục trong suốt 20 năm qua với tốc độ khoảng 6%. Nhập siêu
trường kỳ đã làm cho cán cân thanh toán (CA) luôn rơi vào trạng thái âm và dự
trữ ngoại tệ của Việt Nam đang có chiều hướng giảm dần, thậm chí cạn kiệt một
khi dòng FDI và dòng ngoại hối không tăng thêm.
Nguyên nhân nào khiến nhập siêu liên tục qua các năm và ở mức cao như
vậy? Nếu như tình trạng nhập siêu chỉ diễn ra trong khoảng 10-15 năm thì sẽ
không có gì đáng bàn nhưng nếu đó là 24 năm thì câu chuyện sẽ lại là khác. Phải
chăng nền sản xuất nội địa của Việt Nam chưa được cải thiện nhiều nên phải
nhập khẩu lớn các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ bên ngoài? Câu trả lời chắc
chắn là có. Bài nghiên cứu này, không đi sâu tìm hiểu câu trả lời đó mà đi tìm
một trong những nguyên nhân lý giải cho biết tại sao nền sản xuất nội địa của
chúng ta vẫn chưa tốt – vốn đầu tư và chính sách đầu tư đối với sản xuất hàng
thay thế nhập khẩu và xuất khẩu.
Thật khó có thể tìm được số liệu để minh chứng cho những nhận định có
phần định tính và mang tính chủ quan của nhóm tác giả bởi trên thực tế, hiện
nay, chúng ta chưa xác định rõ hàng hóa nào là hàng hóa thay thế nhập khẩu và

năng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu dựa trên năng lực huy động và sử dụng
nguồn lực trong nước và nước ngoài. Theo đó, các quốc gia xác định loại hàng
hóa nào cần được đầu tư sản xuất trong nước nhằm hạn chế nhập khẩu và hướng
đến cân bằng cán cân thương mại. Tùy vào từng giai đoạn phát triển của nền
kinh tế, loại hàng hóa được lựa chọn để đầu tư sản xuất thay thế nhập khẩu cũng
thay đổi cho phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế ấy.
Thực tế cho thấy những mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian
qua chủ yếu là nhóm hàng nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, và máy móc
thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước. Đây là những mặt hàng Việt
Nam có khả năng đầu tư sản xuất thay vì phải nhập khẩu từ nước ngoài, nhất là
trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa. Do vậy, hàng hóa thay thế nhập khẩu
của Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu là những sản phẩm thuộc ngành công
nghiệp phụ trợ - ngành cung cấp yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất hướng
đến xuất khẩu. Qua đó tăng giá trị gia tăng của sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn
cầu khi tham gia vào thị trường thế giới.
Để xác định nên đầu tư vào loại hàng hóa thay thế nhập khẩu cần phải dựa
trên yếu tố cơ bản sau:
- Có giá trị kim ngạch tương đối lớn trong tổng giá trị kim ngạch nhập
khẩu quốc gia.
- Có khả năng huy động và sử dụng nguồn lực trong nước và nước ngoài
để đầu tư sản xuất bao gồm nguồn vốn, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa
học công nghệ, thông tin.
- Phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
2. Hàng hóa hướng xuất khẩu
Hàng xuất khẩu chủ lực là các mặt hàng chiếm vị trí quyết định trong kim
ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước
thuận lợi. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng các mặt hàng chủ lực đó được Nhà
nước đề ra từ cuối những năm 1960. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi chúng ta
tiếp xúc mạnh mẽ với nền kinh tế thị trường của thế giới thì chúng ta mới ý thức
được một cách nghiêm túc tầm quan trọng của vấn đề này. Mặt hàng chủ lực

hơn 20% kim ngạch xuất khẩu. Một số mặt hàng nhập khẩu do không chủ động
được nguyên, phụ liệu… nhập khẩu lớn như: dệt may, đồ gỗ, da giày, thiết bị
công nghệ cho một số ngành công nghiệp thiết yếu. Phần lớn khoảng 90% hàng
hóa nhập khẩu của nước ta là từ nhóm hàng tư liệu sản xuất (Bảng 1). Trong đó,
nhập khẩu nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên
60% tổng kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2000-2010.
Bảng 1: Giá trị nhập khẩu hàng hóa phân theo nhóm hàng
5
ĐVT: Triệu USD
Nhóm hàng
2000 2005 2008 sơ bộ 2009
KN TT (%)

KN TT (%)

KN
TT
(%) KN
TT
(%)
TỔNG SỐ 15636.5

100.0

36761.1

100.0

80713.8



25.3

22566.7

28.0

20500.8

29.3

Nguyên, nhiên, vật
liệu 9886.7

63.2

23663.9

64.4

49149.2

60.9

42621.0

60.9

Hàng tiêu dùng
968.3

Thực phẩm 301.8

1.9

1100.2

3.0

2190.2

2.7

Hàng y tế 333.8

2.1

527.1

1.4

890.2

1.1

1097.0

1.6

hàng nhập khẩu chính giai đoạn 2000-2009.
Bảng 2: Tình hình nhập khẩu một số hàng hóa chủ yếu của Việt Nam
giai đoạn 2005 -2010
ĐVT: Triệu USD
Tên hàng 2005 2006 2007 2008 2009 9T/2010
Sữa và SP sữa 311 321 462 534 515

545

Lúa mỳ 201 225 343 293 345

374

Bột mỳ 9 9 24 26
Dầu mỡ động thực vật 193 257 485 666 495

431

Đờng 22 49 10 36
Thức ăn gia súc và NPL chế
biến
594 737 1.181 1.747 1.765

1.669

NPL thuốc lá 198 161 205 246 321

227.376

Clinker 127 110 119 165 133


Tân dược 502 548 703 864 1.096

931

Phân bón các loại 641 687 1 1.473 1.414

701

Phân U rê 216 176 200 286 416

174

Phân NPK 41 36 77 99 132

68

7
Phân DAP 165 226 263 379 374

147

Phân SA 90 78 137 184 156

60

Phân bón loại khác 129 171 323 524 278

189



795

Vải 2.399 2.985 3.957 4.458 4.226

3.863

NPL dệt may, da giầy 2.282 1.951 2.152 2.355 * 1.895

Kính xây dựng 9 11 16 37
Sắt thép 2.931 2.936 5.112 6.721 5.360

4.313

Phôi thép 838 750 1.103 1.636 1.032

803

Kim loại thờng khác 797 1.46 1.885 1.785 1.624

1.813

Máy vi tính, SP điện tử 1.706 2.048 2.958 3.714 3.953

3.532

Máy móc thiết bị 5.281 6.628 11.123 13.994 12.673

9.701


Nguồn: Tổng cục hải quan
Dưới tác động của cuộc khủng hoàng tài chính ngày càng lan rộng và sự
giảm giá của đồng USD, tình hình sản xuất và xuất khẩu của các nước trên thế
giới gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho hoạt động
sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước có phần hạn chế. Kim ngạch
nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2009 chỉ đạt 68,97 tỷ USD, giảm
18,2% so với năm 2008. Bước sang năm 2010, tình hình kinh tế thế giới dần
phục hồi, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các nước cũng tăng theo. Các doanh
nghiệp tiếp tục nhập khẩu hàng hóa và nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất.
Chỉ tính riêng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2010 của
Việt Nam đã lên tới 58,69 tỷ USD, tăng 23,46% so với cùng kỳ năm 2009.
Trong đó, đứng đầu là nhập khẩu máy móc thiết bị, với kim ngạch nhập khẩu
nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm 2010 đạt 9,7 tỷ USD, tăng 16% so với
cùng kỳ năm 2009. Tiếp đến là vải với kim ngạch nhập khẩu đạt 3,8 tỷ USD,
tăng 26,8%; chất dẻo nguyên liệu với kim ngạch nhập khẩu đạt 2,7 tỷ USD tăng
35,6% Đáng chú ý, trong 9 tháng đầu năm 2010, mặt hàng bông nhập khẩu về
tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2009, với lượng và kim ngạch bông nhập về đạt
276,4 triệu tấn và 488 triệu USD, tăng tương ứng 26,70% về lượng và 78,70%
về kim ngạch.
1.2. Thực trạng đầu tư hàng hóa thay thế nhập khảu
Trên cơ sở đánh giá tình hình nhập khẩu trong thời gian qua, có thể thấy
các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu và linh kiện, phụ tùng phục vụ cho sản xuất
là những mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim
ngạch nhập khẩu. Theo kinh nghiệm của các nước và dựa trên các nguồn lực sẵn
có, Việt Nam có khả năng và nên đầu tư và phát triển sản xuất những ngành
hàng này để hạn chế nhập khẩu. Do vậy, với mong muốn hạn chế nhập siêu,
Chính phủ Việt Nam đã và đang từng bước chú trọng đầu tư vào ngành công
nghiệp phụ trợ
1
, một ngành đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sức cạnh

tiêu chuẩn chất lượng giữa các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước khá lớn.
Doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và vừa nên khả năng đáp ứng về yêu
cầu chất lượng kém.
Các doanh nghiệp quốc doanh trong ngành công nghiệp phụ trợ vẫn duy
trì phong cách làm ăn tự cung tự cấp. Thực tế, Việt Nam có rất ít thông tin liên
kết thầu phụ công nghiệp. Vì vậy, không tìm kiếm được những thông tin về khả
năng giao thầu của doanh nghiệp lớn, nhất là doanh nghiệp nước ngoài và ngược
lại, các doanh nghiệp nước ngoài cũng ít thông tin về doanh nghiệp Việt Nam.
Thêm nữa, các doanh nghiệp nước ngoài thực sự ngần ngại khi phải ký kết hợp
đồng thương mại với các nhà thầu phụ Việt Nam do môi trường pháp lý chưa
thực sự thuận lợi. Vấn đề chính là nỗi lo sợ khi bị phá vỡ hợp đồng. Các nhà
cung ứng Việt Nam thiếu hiểu biết về các khía cạnh pháp lý của hợp đồng. Bên
cạnh đó, việc liên kết doanh nghiệp có ý nghĩa về mặt nâng cao khả năng cạnh
tranh trong nội bộ ngành, sử dụng lợi thế cạnh tranh của khu vực, khai thác
chuỗi giá trị để tạo nên sản phẩm mang tính cạnh tranh cao. Ở nhiều nước, việc
liên kết này có thể hình thành thông qua việc phát triển các cụm công nghiệp.
Trên thực tế, ở Việt Nam các cụm công nghiệp được hình thành thiếu quy hoạch
10
tổng thể, chủ yếu để giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất hơn là việc tạo nên
chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng các dịch vụ tài
chính và phi tài chính để khai thác lợi thế cạnh tranh.
Nhìn chung, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng nhập siêu thiết bị,
máy móc, linh kiện các loại. Điều này chứng tỏ các ngành công nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa trên nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu. Sản
phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ hiện nay phần lớn là những sản phẩm có
chất lượng thấp và giá thành cao. Hầu hết các ngành công nghiệp gần như chỉ
mới phát triển ở khu vực hạ nguồn (gia công công đoạn cuối của sản phẩm), còn
khu vực thượng nguồn (công nghiệp phụ trợ), bao gồm các ngành sản xuất
nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng còn kém phát triển. Hiện tượng này có thể
thấy rõ trong một số ngành sản phẩm công nghiệp phụ trợ tiêu biểu sau:

702 doanh nghiệp, chiếm 35.1%, nhựa gia dụng có 794 doanh nghiệp, chiếm
39.7%, trong khi nhựa kỹ thuật chỉ có 272 doanh nghiệp, chiếm 13.6%.
Hầu hết các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư công nghệ cho các sản
phẩm nhựa kỹ thuật cao, đặc biệt là các loại bao bì tự hủy, sản phẩm phục vụ nội
địa hóa ngành ôtô, xe máy, điện tử, sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp và
hạ tầng cấp thoát nước, các sản phẩm nhựa tiêu dùng… Vì thế, ngành nhựa Việt
Nam vẫn phải sử dụng sản phẩm chế tạo từ nước ngoài và chưa thể trở thành
ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành sản xuất khác.
(3). Sản phẩm công nghiệp phụ trợ dệt may
Dệt may là ngành có thị trường lớn, nhưng do chưa có chính sách khuyến
khích đầu tư phù hợp nên lĩnh vực công nghiệp phụ trợ vẫn chậm phát triển.
Hàng năm, ngành may sử dụng không dưới 500 triệu mét vuông vải để làm hàng
xuất khẩu, nhưng đến 80% vải cung cấp cho ngành may xuất khẩu lại đến từ
nước ngoài. Hơn nữa, nguyên phụ liệu may nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu
được miễn thuế hoàn toàn. Trong khi đó, Chính phủ lại chưa có chính sách ưu
đãi đủ mạnh để khuyến khích các công ty may sử dụng nguyên phụ liệu trong
nước, ngoại trừ một số ưu tiên về phân bổ hạn ngạch xuất khẩu.
Vì vậy, ngành vẫn trong tình trạng phụ thuộc rất lớn vào việc nhập khẩu
nguyên phụ liệu từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan. Mặc dù ngành sản xuất
nguyên phụ liệu trong nước trong vài năm gần đây có phát triển, song vẫn không
đáp ứng được nhu cầu. Hiện ngành dệt may nhập khẩu khoảng 80% sợi polyeste
và các phụ kiện như chỉ, da, nút áo, khóa.
(4). Sản phẩm công nghiệp phụ trợ ngành xe máy
Ngành xe máy có thể xem là đạt được tỷ lệ nội địa hóa cao nhất trong các
ngành. Với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lệ nội địa hóa đạt
được xấp xỉ 70-75%, các doanh nghiệp trong nước tỷ lệ đạt có thấp hơn nhưng
so với các ngành khác như ô tô, dệt may…, có thể coi đây là một tiến bộ trong
việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.
Sau khi quy định về tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu được bãi bỏ, nhiều ý kiến
cho rằng doanh nghiệp sẽ tập trung vào lắp ráp mà không đầu tư vào sản xuất

Theo Bộ Công nghiệp, công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô tại Việt Nam là
ngành mới nổi nên khó khăn còn nhiều, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và cạnh
tranh hiện nay. Trong hơn 10 năm qua, Nhà nước đã có chủ trương bảo hộ cho
các liên doanh sản xuất ô tô, những hãng đưa ra cam kết ban đầu là sẽ nội địa
hóa 30 - 40% sau khi đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế, công nghiệp
ô tô đạt được tỷ lệ nội địa hóa thấp nhất trong các ngành, trung bình từ 5 -10%,
cao nhất như Honda Việt Nam cũng chỉ đạt 10%, kế tiếp là Toyota Việt Nam, tỷ
lệ nội địa hóa bình quân là 7% giá trị xe. Tại Suzuki Việt Nam, Ford Việt Nam
tỷ lệ này dừng lại ở mức 2 - 4%.
13
Cũng do linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước khan hiếm nên hầu hết
các linh kiện, phụ tùng Việt Nam đang sử dụng phải nhập khẩu trực tiếp từ
Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…Mặc dù nhập khẩu như vậy nhưng không
phải điều kiện nhập hàng và chất lượng lúc nào cũng đồng đều và thuận lợi. Các
hãng xe như Toyota, Ford, Mazda…có nhà máy tại Việt Nam thời gian qua phải
nhập khẩu phụ tùng ở nước ngoài về phục vụ cho lắp ráp cho các nhà máy ô tô
của họ. Hãng nào nhập ít cũng phải từ vài trăm triệu USD mỗi năm. Ví dụ như
hãng Toyota, năm 2002 đã nhập khẩu linh kiện trị giá 150 triệu USD, năm 2005
nhập đến 460 triệu; hãng Mazda cũng nhập giá trị linh kiện lên tới 280 triệu
USD.
Trong khi các doanh nghiệp lắp ráp phải đi nhập linh kiện từ nước ngoài
về thì việc sản xuất linh kiện phụ tùng trong nước lại dậm chân tại chỗ. Doanh
thu cả năm chưa bằng một số lẻ của các hãng nhập về, cụ thể là năm 2005 doanh
thu từ sản xuất linh kiện chỉ đạt tới 2,3 triệu USD. Một thực tế nữa cần phải thừa
nhận là số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất công nghiệp phụ trợ này là
rất ít. Hiện nay chủ yếu là các nhà cung ứng linh kiện Nhật Bản đang đầu tư vào
Việt Nam, tiếp theo là các doanh nghiệp Đài Loan, cuối cùng mới là các doanh
nghiệp Việt Nam. Phải thẳng thắn nhìn nhận là các doanh nghiệp Việt Nam còn
yếu do thiếu sự phối hợp và liên kết trong quá trình sản xuất, vẫn mạnh ai nấy
làm. Trong khi đó, đối với hoạt động sản xuất này yêu cầu phải chuyên môn hoá

3,175.0
3,226.0
3,777.0
5,670.6
7,373.5
8,312.0
8,487.6
10,356.8

6,194.6
Than đá 354.0
669.9
914.8
999.8
1,388.5
1,316.6
Gạo
588.0
726.0
719.0
950.3
1,408.4
1,275.9
1,490

3,763.4
4,5
10.1
4,251.3
Gỗ và sản phẩ
m
gỗ
323.7
460.2
608.9
1,101.7
1,561.4
1,943.1
2,384.6
2,767.2
2,597.6
Hàng điện tử,
máy tính và linh
kiện

709.5

605.4

854.7

1,062.4

1,427.4


2,732.0
3,609.1
4,429.8
4,772.4
5,854.8
7,732.0
9,120.5

9,065.6
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối lượng giảm nhưng do giá thế
giới tăng mạnh nên về mặt giá trị lại tăng khá so với năm 2007 như: Dầu thô
tăng 23,1%, giảm 7,7% khối lượng, than đá tăng 44,3% nhưng lượng giảm
38,3%, cà phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm 18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng
lượng giảm 9,8%, chè tăng 12,2% nhưng lượng giảm 8,8%.
* Những thành tựu trong xuất khẩu những ngành hàng chính:
15
Thứ nhất, các mặt hàng xuất khẩu truyền thống vẫn giữ được nhịp độ tăng
trưởng cao, nhất là các mặt hàng gạo, rau quả, hạt điều, than đá, hàng điện tử và
linh kiện máy tính, sản phẩm nhựa, túi xách va li và ô dù Xuất khẩu hàng hoá
tăng cũn cú sự đóng góp của nhiều mặt hàng mới ví dụ như sản phẩm từ cao su,
sản phẩm chế tạo từ gang, thép, máy biến thế, động cơ điện, tàu thuyền các
loại
Thứ hai, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch tích cực theo
hướng tăng tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng xuất khẩu thô.
Trong cơ cấu xuất khẩu, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô (gồm nông lâm sản
thủy sản chưa qua chế biến và sản phẩm khai khoáng giảm từ 53.3% năm 2001
xuống cũn 44.2% năm 2008. Ngược lại, tỷ trọng xuất khẩu của hàng chế biến
hoặc đó tinh chế tăng từ 46.7% năm 2001 lên 55.2% năm 2008.
Hình 2: Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu thời kỳ 2000-2008

Số liệu của Liên Hợp Quốc về thương mại quốc tế trong giai đoạn 1997-
2008 cho thấy, khoảng 70% sản xuất xuất khẩu của Việt Nam là các sản phẩm
có công nghệ thấp, phản ánh sự lạc hậu của ngành công nghiệp so với trung bình
thế giới. Trên thế giới, các ngành công nghiệp có công nghệ trung bình và cao
tạo ra khoảng 60% giá trị gia tăng cũng như giá trị thương mại. Trong năm
2007, các ngành công nghiệp có công nghệ trung bình và công nghệ cao đó đóng
góp 70% giá trị thương mại toàn cầu và 25/50 ngành có tăng trưởng nhanh nhất
là những ngành công nghiệp công nghệ cao. Ở Việt Nam, các sản phẩm có công
nghệ trung bình và công nghệ cao chỉ chiếm 29,4% kim ngạch xuất khẩu trong
năm 2008.
Hình 4: Cơ cấu xuất khẩu hàng chế biến theo trình độ công nghệ, 1997-
2008

Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu UNCOMTRADE
18
Như vậy, xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản,
nông, lâm, thuỷ, hải sản; các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang
tính chất gia công; Các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, số lượng
các mặt hàng xuất khẩu mới có kim ngạch lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh chưa
nhiều. Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai
thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có
mối liên kết chặt chẽ với nhau để hỡnh thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu
lớn.
2.2. Thực trạng đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu
 Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư cho ngành nông, lâm, thủy, hải sản đó gia tăng nhanh chóng
qua các năm, từ mức gần 21 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên mức hơn 44 nghìn tỷ
đồng năm 2009. Có mức tăng nhanh mạnh mẽ là vốn đầu tư trong ngành công
nghiệp chế biến. Vốn đầu tư cho nhóm ngành này tăng từ 29 nghìn tỷ năm 2000
lên mức 125 nghìn tỷ năm 2009. Trong khi đó, vốn đầu tư vào ngành công

ngành May xuất khẩu.
Hiện đã quy hoạch các vùng trồng bông: Tây Nguyên (Đắc Lắc, Gia Lai),
Nam Trung Bộ (Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Định),
Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu) và ngoài ra còn có
Sơn La, Thanh Hoá. Diện tích trồng bông hiện nay của toàn quốc khoảng:
22.600 ha, trong đó: Tây Nguyên 13.500 ha; Nam Trung Bộ 4.300 ha; Đông
Nam Bộ 4.700 ha; Sơn La, Thanh Hoá 100 ha. Năng suất bông hạt bình quân
hiện nay khoảng 9 tạ/ha, tổng sản lượng bông hạt 20.340 tấn, cho lượng bông xơ
khoảng 6.780 tấn. Kế hoạch đầu tư 2 nhà máy sản xuất xơ sợi tổng hợp
(polyester) sản lượng 30.000 tấn/năm và các nhà máy biến tính sợi filament.
Vốn đầu tư khoảng 25 triệu USD, doanh thu dự kiến là 360 tỷ đồng, đáp ứng
50% nhu cầu sản xuất tại thời điểm 2005 và 65% nhu cầu sản xuất tại thời điểm
2010.
Cây công nghiệp đã được phát triển sản xuất trên quy mô lớn theo mô
hình trang trại trên các vùng đất phù hợp cho việc trồng các loại cây công
nghiệp. Quy hoạch các vùng trồng cây công nghiệp lớn nhằm tạo điều kiện xây
dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cây công nghiệp và áp dụng các kỹ thuật canh tác
hiện đại.
20
Hiện nay chúng ta xuất khẩu toàn bộ lượng dầu thô khai thác được. Đây là
một dạng xuất khẩu nguyên liệu thô, rất bất lợi vì giá bán luôn thấp so với giá
thành phẩm, trong lúc đó, xăng dầu và các sản phẩm dầu khí khác lại phải nhập
khẩu toàn bộ. Đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò trên toàn thềm lục địa Việt Nam.
Khẩn trương đưa các mỏ đã phát hiện vào khai thác, đưa sản lượng khai thác lên
tới 30 – 40 tấn dầu quy đổi ( trong đó khoảng 6 – 7 tỷ m
3
khí/năm).
 Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ
Về phía Nhà nước, các biện pháp nhằm tăng cường đầu từ đổi mới công
nghệ đã được tiến hành như:

cẩn trọng khi nhập khẩu công nghệ để đảm bảo đó là công nghệ phù hợp với
mình và với yêu cầu của sản xuất, đồng thời khuyến khích sáng tạo trong nội bộ
doanh nghiệp bằng các chế độ thưởng, đồng thời gắn lợi ích của tác giả của sáng
kiến, cải tiến với chính lợi ích mà sáng kiến đó đem lại cho doanh nghiệp.
Việc được hỗ trợ về nghiên cứu khoa học là rất cần thiết đối với các
doanh nghiêp hiện nay, bởi lẽ rất ít doanh nghiệp Việt Nam có đủ khả năng đầu
tư cho nghiên cứu khoa học một cách có quy mô nên các doanh nghiệp có rất ít
cơ hội tiếp xúc với các thành tựu khoa họ mới.
Các viện nghiên cứu đã có nhiều đóng góp trong việc đưa các thành tựu
khoa học mới vào sản xuất, ví dụ như Viện khoa học nông nghiệp đã đưa ra một
số giống lúa mới cho năng suất cao, chất lượng gạo tốt hơn, đóng góp một phần
lớn vào thành tích kỳ diệu về nông nghiệp trong thời gian qua. Tuy nhiên, có thể
thấy rất nhiều nghiên cứu vẫn chưa thực sự sát với yêu cầu thực tế của sản xuất,
mang nhiều tính chất kinh viện, ít mang lại hiệu qủa thực tiễn. Hơn nữa, cần đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ khoa học cung cấp cho các doanh nghiệp để họ
có điều kiện tận dụng các thành tựu mới của khoa học.
Chú trọng công tác nghiên cứu giống, truyền bá kỹ thuật canh tác nhằm
nâng cao năng suất cây trồng, duy trì mức năng suất cao so với thế giới như cà
phê, hạt điều, đồng thời đưa năng suất của các cây còn yếu kém như chè, cao su
lên sát với mức năng suất của thế giới. Đầu tư cho chế biến nhằm nâng cao chất
lượng thành phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng, từ đó giảm thiệt
thòi do giá thấp.
Đầu tư phát triển dệt may theo hướng chuyên môn hoá cao theo loại công
nghệ, đưa các công nghệ hiện đại vào sản xuất và áp dụng các mô hình quản lý,
điều hành tiên tiến của thế giới vào dệt may Việt Nam nhằm tạo ra một bước
nhảy vọt về chất lượng và sản lượng.
 Đầu tư nâng cao năng lực sản xuất của ngành
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là hàng nông sản đều phải
mất một thời gian khá lâu để thu gom, vận chuyển đến cầu cảng để xuất khẩu.
Trong khi đó cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải của Việt Nam có thể nói thuộc

phân tán, manh mún trong bố trí sản xuất rau quả. Đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng phục vụ cho sản xuất rau quả nhằm nâng cao năng suất, cho phép hạ giá
thành sản phẩm, đồng thời nâng cao chất lượng rau quả. Đầu tư phát triển các cơ
sở chế biến rau quả nhằm đưa chất lượng rau quả Việt Nam ngang với chất
lượng của các nước xuất khẩu chính.
Đẩy nhanh việc xây dựng vùng sản xuất lúa chất lượng cao, gắn sản xuất -
chế biến - bảo quản và vận chuyển phục vụ xuất khẩu. Đây là biện pháp quan
trọng. Tăng cường đầu tư và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là các
tiến bộ về giống, tìm ra và đưa vào sử dụng những giống lúa có năng suất cao,
chất lượng tốt. Tích cực đầu tư, đổi mới thiết bị và công nghệ chế biến và bảo
23
quản để có thể sản xuất ra các loại gạo chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng tốt
nhất mọi nhu cầu phong phú và đa dạng của thị trường thế giới.
III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
1. Đối với hàng hóa thay thế nhập khẩu
1.1. Định hướng đầu tư phát triển sản xuất hàng thay thế nhập khẩu
Trên cơ sơ phân tích thực trạng và kinh nghiệp các nước cho thấy việc
đầu tư phát triển ngành công nghiệp phụ trợ không chỉ góp phần hạn chế nhập
khẩu mà còn có vai trò đặc biệt trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI),
nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy móc. Chúng tôi đề xuất một số
định hướng đầu tư phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, một ngành quan trọng
hàng đầu trong việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu.
a) Định hướng về sản phẩm và cơ cấu sản phẩm:
- Nhóm sản phẩm định hướng đầu tư: các sản phẩm nguyên phụ liệu phục
vụ cho ngành công nghiệp chế biến (chú trọng vào ngành dệt may, da giầy,…),
các sản phẩm là yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp điện tử, điện lạnh, và
gia dụng.
- Tăng tỷ trọng các sản phẩm linh kiện, phụ tùng phục vụ cho ngành công
nghiệp lắp ráp theo hướng phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến
năm 2020.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status