50 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tuân thủ điều trò ARV và các yếu tố
ảnh hưởng trên đối tượng AIDS
tiêm chích ma túy
Hồ Thò Hiền(*), Hoàng Văn Thuyết (**)
Đặt vấn đề: Dòch HIV ở Việt Nam hiện vẫn đang trong giai đoạn tập trung trên nhóm nguy cơ cao,
trong đó nhóm tiêm chích ma túy (TCMT) có nguy cơ cao nhất. Thực trạng tuân thủ điều trò (TTĐT)
của bệnh nhân AIDS có TCMT đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa còn thấp. Nghiên cứu được thực hiện
tại bệnh viện đa khoa huyện Quang Bình - Hà Giang. Mục tiêu 1/ Mô tả thực trạng TTĐT ARV và 2/
Xác đònh các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT của bệnh nhân AIDS có TCMT đang điều trò tại khoa truyền
nhiễm, bệnh viện đa khoa huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang năm 2011. Kết quả: Bệnh nhân có TCMT
thực hiện TTĐT kém hơn so với bệnh nhân không TCMT. Tỷ lệ tái khám đúng hẹn của bệnh nhân
TCMT cao hơn 20% so với bệnh nhân không TCMT. Một số hành vi không TTĐT như tự ý ngừng
thuốc khi khỏe, nhai thuốc, uống thuốc muộn, quên, không tái khám đúng hẹn được báo cáo trong
nghiên cứu này. Các yếu tố cản trở TTĐT trong nghiên cứu là phụ thuộc ma túy, chi phí đi lại tại
vùng sâu vùng xa còn khó khăn, quan niệm sai về sử dụng ARV khi TCMT. Gia đình và thầy thuốc
đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ bệnh nhân TTĐT. Kết luận: Cần nhanh chóng thực hiện tốt hơn
nữa trong việc tư vấn, hỗ trợ các bệnh nhân TCMT thực hiện TTĐT ARV, tăng cường tư vấn và tập
huấn cho người nhà về TTĐT.
Từ khóa: Tuân thủ điều trò, ARV, yếu tố ảnh hưởng, tiêm chích ma túy
ARV adherence and influencing factors
among patients who are injecting drugs
Ho Thi Hien(*), Hoang Van Thuyet(**)
Background: The HIV epidemic in Vietnam is at a concentrated stage, mainly driven by high risk
groups, of which injection drug users (IDUs) are the most at risk group. The ARV adherence among
IDU patients remains low, especially in remote areas. This study was conducted in Quang Binh
general district hospital, Ha Giang provinces. Objectives: 1/ Describe the current situation of ARV
treatment and 2/ Identify some influencing factors of ARV adherence among AIDS patients who are
IDUs in the department of infectious diseases in the district hospital in 2011. Results: ARV adherence
among IDU patients was worse than those who were non-IDUs. The percentage of on-time
như chuyển hóa thuốc, đáp ứng miễn dòch, nhiễm
trùng cơ hội. Ngược lại, không TTĐT có thể gây
ra các triệu chứng về lâm sàng và xét nghiệm.
Trong bối cảnh đại dòch HIV tập trung trên đối
tượng TCMT, và TTĐT ARV trên đối tượng này
thường thấp.
Cho đến nay, không có phương pháp chuẩn mực
trong đánh giá TTĐT. Để đánh giá đúng TTĐT
ARV, chúng ta phải tiến hành quan sát trực tiếp
bệnh nhân uống thuốc. Tuy nhiên, phương pháp này
rất khó thực hiện vì hầu hết bệnh nhân điều trò ARV
ngoại trú, bắt buộc phải điều trò suốt đời, và thông
thường bệnh nhân uống thuốc 2 lần trong ngày. Vì
vậy, các biện pháp như theo dõi sổ ghi chép sử dụng
thuốc, tự báo cáo của bệnh nhân… được coi là biện
pháp khả thi và phù hợp đánh giá TTĐT.
Hà Giang là một tỉnh miền núi thuộc cực Bắc
của Việt Nam, có tiềm năng về khoáng sản và nhiều
lâm, thổ sản, có những điều kiện thuận lợi phát triển
kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển
đó là việc nảy sinh các tệ nạn như TCMT, mại dâm,
dẫn đến tăng tỷ lệ lây nhiễm HIV. Tính đến hết
2010, lũy tích số người nhiễm HIV được phát hiện
tại Hà Giang là 1.262 người. Ước tính số người
nhiễm HIV thực tế trong cộng đồng còn lớn hơn rất
nhiều. Tại Hà Giang, tính đến nay luỹ tích số bệnh
nhân AIDS được sử dụng thuốc ARV là 533 người.
Các bệnh nhân điều trò ARV được tư vấn, theo dõi
medications as directed, and forgetting to take medications. Drug dependence was the key barrier to
adherence. Transportation and related fees were other barriers for participants. Some wrong beliefs
viện đa khoa huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang
năm 2011.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu đònh tính, thu thập số liệu
được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu toàn bộ 15
đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân hiện đang điều
trò ARV có TCMT và các bên liên quan bao gồm 2
đồng đẳng viên, 1 bác só điều trò, 1 người phụ trách
khoa truyền nhiễm, 1 cán bộ lãnh đạo huyện (phó
chủ tòch thò trấn), 4 người nhà bệnh nhân có TCMT.
Thông tin về tái khám đúng hẹn được thu thập qua
sổ sách theo dõi điều trò của phòng khám.
Đòa điểm và thời gian nghiên cứu: Tại BVĐK
huyện Quang Bình từ tháng 5 đến tháng 10 năm
2011.
Tất cả các phỏng vấn được ghi âm và gỡ băng
toàn bộ dưới dạng văn bản MS Word. Số liệu được
phân tích theo chủ đề.
3. Kết quả
Hiện nay tỉnh Hà Giang chỉ có Trung tâm phòng
chống AIDS và bệnh viện đa khoa tỉnh là có phòng
khám ngoại trú dành riêng cho bệnh nhân AIDS,
các huyện còn lại thì chưa có phòng khám ngoại trú,
tất cả các bệnh nhân AIDS được điều trò tại khoa
truyền nhiễm của các bệnh viện tuyến huyện. Hiện
nay tổng số bệnh nhân AIDS đang được điều trò
ARV tại khoa truyền nhiễm bệnh viện đa khoa
huyện Quang Bình là 27 bệnh nhân trong đó có 15
bệnh nhân AIDS có TCMT. Tuy nhiên, đến thời
điểm hiện tại, bệnh viện vẫn chưa có trang thiết bò,
Uống thuốc kéo dài và phải đúng giờ nhiều khi nghó
cũng thấy chán, quên uống, uống sai giờ nhiều đấy.
Tỉnh dậy rồi, ngủ thêm tý nữa lúc dậy cũng chẳng
nhớ". (Bệnh nhân nam, 35 tuổi)
Một số bệnh nhân lo lắng khi không uống thuốc,
và lo sợ họ sẽ bò kháng thuốc. Mặc dù vậy, việc
uống thuốc không được quan tâm thực hiện, đặc
biệt là khi họ "cảm thấy khỏe".
"Nhưng mà em cũng lo thấy bảo là không uống
đều kháng thuốc uống thuốc không có tác dụng phải
uống thuốc khác nhiều lúc thấy đỡ là dừng không
uống nữa, khi nào thấy mệt thì lại uống". (Bệnh nhân
nam, 28 tuổi)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25) 53
Có bệnh nhân do quá trình điều trò kéo dài và
vẫn dùng ma tuý nên khi thấy mình khỏe họ ngừng
uống thuốc hoặc giảm uống thuốc. Trạng thái phụ
thuộc ma túy ảnh hưởng lớn đến TTĐT của bệnh
nhân.
"Uống thuốc thì chẳng khó khăn gì nếu em không
bò nghiện ma túy. Khi nghiện mình phải đi kiếm
thuốc để chích nên nhiều khi cũng quên thuốc ARV.
Với lại uống thuốc dài quá nên nhiều khi nghó cũng
chán, thấy khỏe lên rồi thì giảm uống đi thôi" (Bệnh
nhân nam, 33 tuổi)
"Có lúc thấy người khỏe lên tôi lại không uống
nữa, sau đó thấy người mệt thì lại uống tiếp". (Bệnh
nhân nam, 34 tuổi)
3.2. Tái khám đúng hẹn
(có và không TCMT) trong TTĐT do không thể liên
lạc được.
"Họ hầu hết là tái khám không đầy đủ, mỗi tháng
kiểu gì cũng vắng 2,3 người, có người sau vài hôm
mới đến, khi được hỏi thì họ trả lời là quên ngày, bận
công việc Có người thì cả tháng không thấy đến,
gọi điện nhắc nhở thì không liên lạc được". (Bác só
phụ trách, 38 tuổi)
Điều này cho thấy trên thực tế, điều trò ARV cho
bệnh nhân có TCMT là khó khăn. Điều này có thể
lý giải là do bệnh nhân phải dùng thuốc liên tục suốt
đời, trong khi người bệnh lại phụ thuộc vào ma tuý.
3.3. Yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trò
ARV
3.3.1. Từ phía bệnh nhân
Đối với người TCMT, việc sử dụng ma túy luôn
là ưu tiên hàng đầu. Trong nghiên cứu, nhiều đối
tượng cho biết họ không thực sự quan tâm đến việc
phải uống thuốc điều trò ARV. Trạng thái nghiện đã
ảnh hưởng đến việc uống thuốc: quên thuốc, uống
không đúng giờ. Như bác só điều trò giải thích, điều
này là do giờ giấc sinh hoạt của bệnh nhân bò ảnh
hưởng nhiều bởi việc sử dụng ma túy (ví dụ, bệnh
nhân có TCMT hay dậy muộn). Nhiễm trùng cơ hội
thường hay xảy ra hơn ở đối tượng này. Đối với
những người đang được điều trò ARV mà không sử
dụng ma túy, TTĐT được thực hiện tốt hơn.
"Điều trò ARV mà vẫn TCMT thì khó có thể tuân
thủ điều trò tốt được vì khi mà nghiện thì lúc nào em
cũng nghó đến ma tuý, nhiều khi mang thuốc đi theo
dậy rất muộn, tỉnh dậy rồi lại nằm uống ngủ tiếp,
nghó nằm thêm tý tỉnh dậy đã 9, 10 giờ mới uống, tối
thì xem xong thời sự thì uống" (Bệnh nhân nam, 36
tuổi).
"Em uống thuốc sáng 1 lần, tối một lần hình như
là cách nhau 12 tiếng gì đấy không rõ lắm đâu, mỗi
lần em uống 3 loại thuốc. Có hôm bận quá cũng
quên đấy, nhiều khi cũng thấy chán vì ngày nào cũng
phải uống lại phải đúng giờ nữa". (Bệnh nhân nam,
33 tuổi)
Một số bệnh nhân cho rằng, đang "phê" ma túy
thì không được sử dụng bất cứ thuốc gì khác, kể cả
thuốc điều trò ARV. Vì vậy có người nói rằng họ
phải chờ cho phê thuốc xong thì mới dùng thuốc
ARV. Có những người ý thức được là mình phải
uống thuốc, họ có mang thuốc theo nhưng không
sử dụng vì "cả hội muốn được phê lâu hơn trong
khi dùng ma túy, thế là nhất trí không dùng thuốc
ARV nữa".
"Có lúc em đi chơi bạn bè 3, 4 ngày em mới về
thế là cũng quên uống thuốc. Có mang thuốc theo
nhưng trong cuộc vui cả hội nhất trí không uống
ARV. [Thế sao lại không uống em không sợ là mất
tác dụng của thuốc à?] Có chứ cũng hiểu là như thế
nhưng khi mà muốn phê lâu thì không được uống cái
gì khác thậm chí hạn chế cả ăn. Nhiều khi nhìn vợ và
con em em cũng thấy mình quá tồi nhưng lúc men lên
thì chẳng còn biết gì hết, lúc đấy chỉ biết là thỏa mãn
thôi". (Bệnh nhân nam, 34 tuổi)
"Có lúc em đi với bạn bè 5,6 ngày mới về thế là
thường chỉ nắm được những kiến thức rất chung.
"Em không hiểu đâu, vợ em nghe là chính, vợ em
viết ra vở và mang về nói lại với em. [Thế các bác sỹ
tập huấn nhanh quá à sao em không hiểu?] Hồi đấy
em yếu lắm, đi nghe là để có mặt thôi đến nghe em
ngủ gật là chính với lại ngồi lâu gần hai tiếng làm
sao mà em ngồi được" (Bệnh nhân nam, 34 tuổi).
Hà Giang là một tỉnh miền núi, giao thông đi lại
khó khăn, khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trò của
một số bệnh nhân khá xa, có người để ra bệnh viện
lấy thuốc phải đi mất gần nửa ngày đường, nhiều
bệnh nhân gặp khó khăn khi lấy thuốc do không có
chi phí đi lại. Phương tiện đi lại, giao thông cũng có
thể ảnh hưởng đến việc lấy thuốc và tái khám của
bệnh nhân. Như một bác só đã nói:
"Nói chung với bệnh nhân AIDS có TCMT việc
tuân thủ là rất khó khăn, những bệnh nhân nhà ở gần
bệnh viện hoặc được người nhà quan tâm thì rất
đúng hẹn, còn những bệnh nhân không đúng hẹn là
vì nhà ở xa trung tâm, đường xá đi lại khó khăn, và
đặc biệt ở những bệnh nhân này mối quan tâm lớn
nhất của họ là ma túy, tuân thủ điều trò chỉ được họ
để ý đến khi họ tỉnh táo mà thôi "(Bác só phụ trách,
38 tuổi).
"Từ nhà em ra bệnh viện phải đi mất khoảng 30
km, đi về phải mất một ngày tiền đi lại tốn kém lắm,
nhiều khi không có tiền để đổ xăng nên có tháng em
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25) 55
không đi lấy thuốc đúng ngày được". (Bệnh nhân
3.3.2. Gia đình bệnh nhân
Hỗ trợ của gia đình trong nhắc nhở và hỗ trợ
bệnh nhân uống thuốc là một yếu tố tích cực đảm
bảo bệnh nhân TTĐT. Dù gặp phải vất vả, nhưng
nhiều gia đình vẫn luôn hỗ trợ chăm sóc, giúp đỡ,
nhắc nhở bệnh nhân uống thuốc.
"Là con của mình rồi, vợ nó thì đã chết, sống phụ
thuộc vào bố mẹ thôi. Không có việc làm, nó thường
hay cùng bạn đi chơi về khuya nên việc nhắc nhở nó
uống thuốc rất khó, chỉ nhắc mang thuốc theo nhưng
không biết ra ngoài có nhớ uống không, không theo
dõi được. Đôi khi ở nhà nó thường hay ốm, mệt mỏi,
tiêu chảy, nhớ uống thuốc nhưng không tự lấy thuốc
uống được tôi lại phải lấy cho nó uống. (mẹ bệnh
nhân, 65 tuổi)
"Tôi vẫn luôn bảo ban anh ấy uống thuốc đúng
giờ theo chỉ đònh của bác só, hạn chế sử dụng rượu
bia, thuốc lá,nghỉ ngơi ăn uống cho đúng giờ giấc,
khi đến kì khám động viên anh ấy đi khám đúng hẹn,
có lúc tôi đưa đi,có lúc anh ấy đi một mình Vì gia
đình ở nông thôn nên gặp rất nhiều khó khăn về kinh
tế, rất vất vả" (Vợ bệnh nhân, 46 tuổi).
"Tôi nhắc cháu uống thuốc 2 lần vào lúc 8 giờ
sáng và 8 giờ tối theo chỉ dẫn của bác sỹ, quản lý
cháu ở nhà, hạn chế sử dụng rượu bia và những chất
kích thích, đưa con tôi đi khám đúng hẹn 3 tháng 1
lần". (Mẹ bệnh nhân, 55 tuổi)
Sự hỗ trợ của gia đình về tinh thần (động viên,
không kỳ thò), hỗ trợ về tài chính, và nhắc nhở, tư
vấn bệnh nhân trong TTĐT là yếu tố quan trọng
nhà người ta còn bỏ bê luôn, muốn chết thì chết kệ,
mình có đến tư vấn người ta cũng chẳng tiếp, ví dụ
thế nên là nhiều khi em thấy khó lắm". (Bệnh nhân
nam, 28 tuổi)
56 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
3.3.3. Cơ sở điều trò
Hiện nay, các bệnh truyền nhiễm ở khoa ngày
càng gia tăng nên số lượng bệnh nhân thường hay
quá tải. Thêm vào đó, bác sỹ trong khoa cũng phải
kiêm nhiệm nhiều công việc nên không có thời gian
tư vấn cũng như quan tâm nhiều đến các bệnh nhân
AIDS đang điều trò thuốc ARV nói chung và bệnh
nhân AIDS có tiêm chích ma túy nói riêng.
"Khoa tôi chỉ có 2 bác sỹ và 3 điều dưỡng thôi,
làm kiêm nhiệm nên rất vất vả, vì thế khi bệnh nhân
AIDS đến lấy thuốc hàng tháng chúng tôi chỉ phát
thuốc là chính còn thời gian để tư vấn cho họ là rất
ít". (Bác só phụ trách)
4. Bàn luận
Nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố cá nhân và
các yếu tố bên ngoài như gia đình, cơ sở y tế ảnh
hưởng đến TTĐT ARV của bệnh nhân có TCMT.
Hầu hết những người TCMT trong nghiên cứu này
thường thực hiện TTĐT ARV kém. Các yếu tố cá
nhân có ảnh hưởng lớn đến TTĐT ARV trong
nghiên cứu, đặc biệt là tình trạng phụ thuộc ma
túy. Ngoài ra, không uống thuốc ARV khi đang sử
dụng ma túy, thấy khỏe lên thì tự ý ngừng thuốc,
nhai thuốc để hấp thu cho nhanh là những hành vi
tuân thủ rất nghiêm ngặt. Nếu không có sự hỗ trợ
giúp đỡ của người thân thì việc tuân thủ sẽ khó đảm
bảo và điều trò sẽ có nhiều nguy cơ thất bại.
Cuối cùng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Hà Giang là
một huyện miền núi, việc đi lại khó khăn cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến việc tái khám đúng hẹn của
bệnh nhân. Do đó, cần có các giải pháp hỗ trợ người
bệnh về phương tiện và chi phí đi lại ở các đòa bàn
này. Đối với những người đang điều trò mà bò bắt
cần giải thích và có biện pháp cung cấp thuốc kòp
thời, tránh tình trạng dùng thuốc không đúng liều,
dẫn đến tăng khả năng kháng thuốc.
Thực trạng TTĐT của bệnh nhân AIDS có
TCMT còn thấp so với bệnh nhân không tiêm chích
ma túy. Tỷ lệ tái khám đúng hẹn của bệnh nhân
tiêm chích ma túy cao hơn 20% (100% và 80%) so
với đối tượng không TCMT. Các yếu tố ảnh hưởng
đến việc không tái khám đúng hẹn là do bệnh nhân
quên, bác sỹ điều trò không thể liên lạc, nhắc nhở
được kòp thời.
Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tiêm chích ma
túy thường không TTĐT nghiêm ngặt. Do đặc điểm
đối tượng này thường hay thức khuya, dậy muộn
nên hay quên uống thuốc đúng giờ. Hiện tượng cắn
thuốc được báo cáo với một số trường hợp. Ngoài ra,
nhiều bệnh nhân đã tự ý dừng thuốc khi thấy bệnh
đã đỡ.
Yếu tố nghiện chích ma túy là một trong những
yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến TTĐT của bệnh nhân.
Bệnh nhân phụ thuộc nên họ luôn nghó đến ma túy,
nhân nghèo là cần thiết. Cần tăng cường tư vấn cho
gia đình bệnh nhân đặc biệt cách hỗ trợ người nhà
TTĐT.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế (2009). Quyết đònh số 3003/QĐ-BYT ngày
19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng
dẫn chẩn đoán và điều trò HIV/AIDS.
2. Cục phòng chống HIV/AIDS Việt nam (2009). Báo cáo
kết quả điều trò bằng thuốc kháng retrovirus ARV và thí
điểm thu thập chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc năm
2007.
3. Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam (2010). Báo cáo
công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2010.
4. Trần Thò Xuân Tuyết (2008). Đánh giá kết quả hoạt động
tư vấn và điều trò ARV cho người nhiễm HIV/AIDS tại Quận
Tây Hồ Hà Nội năm 2008. Luận văn thạc sỹ Y tế Công cộng,
Trường Đại Học Y tế Công cộng Hà Nội.
5. Ủy ban phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hà Giang (2010).
Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS.
Tiếng Anh
6. Hoa D.M (2011). Antiretroviral therapy (ART) adherence
among people living with HIV/AIDS (PLHIV) in the North
of Vietnam: A multi-method approach. Unpublished PhD
thesis, University of Queensland Technology, 2011.
7. Family Health International (2009). Results of the
program evaluation of patients initiating ART in two health
facilities in Ho Chi Minh city, Vietnam. Vietnam: Family
Health International 2009.
8. Laing R and Hodgkin C (2006). Overview of