Đọc hiểu Thơ Hai cư - văn mẫu - Pdf 12

I - Gợi dẫn
1. Thể loại
Thơ hai-cư là một trong những niềm tự hào của nền văn hoá Nhật Bản. Kết tinh những tinh hoa của văn
hoá, văn học phương Đông và tinh thần Thiền tông, thơ hai-cư có một vẻ riêng rất độc đáo, đó là tính hàm
súc và chiều sâu tư tưởng nhân sinh. Thơ hai-cư thanh thoát, sâu sắc và tinh tế. Thơ hai-cư thường ngắn
(khoảng 17 âm tiết), mỗi bài có một tứ thơ nhất định, ghi lại một phong cảnh với vài sự vật cụ thể, trong
một thời điểm nhất định, để từ đó khơi gợi lên một xúc cảm hay suy tư sâu sắc nào đó.
2. Tác giả
Ma-su-ô Ba-sô (1644 – 1694) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Nhật Bản, người đã đưa thơ hai-
cư lên trình độ tinh luyện về nghệ thuật và sâu sắc về giá trị nhân sinh. Ba-sô sinh ra ở I-ga trong một gia
đình võ sĩ cấp thấp. Ông từng đi nhiều nơi trên khắp nước Nhật để học tập và để sáng tác. Tác phẩm của
Ba-sô thể hiện tình yêu thương sâu sắc đối với con người. Tác phẩm tiêu biểu : Ngày đông (1684), Đoản
văn trong đãy (1688), Nẻo đường Đông Bắc (1689), áo tơi cho khỉ (1691), Bao đựng than (1694),…
Yô-sa Bu-son (1716 – 1783) sinh ra ở miền Ô-sa-ca, Nhật Bản, trong một gia đình giàu có. Ông để lại
khoảng ba nghìn bài thơ. Bu-son là nhà thơ và hoạ sĩ nổi tiếng Nhật Bản, một trong những môn đồ phát
huy phong cách thơ hai-cư của Ba-sô. Thơ hai-cư của Bu-son giàu màu sắc, âm thanh ; ý hàm súc, ngắn
gọn, trữ tình.
3. Tác phẩm
Chùm thơ thứ nhất (Ngữ văn 10) gồm tám bài, chùm thơ thứ hai gồm sáu bài (Ngữ văn 10 nâng cao) thể
hiện những trạng thái tình cảm khác nhau của nhà thơ, trong đó nổi bật là tình yêu thương đối với con
người, tình yêu đối với quê hương đất nước.
4. Cách đọc
Do đặc điểm thơ hai-cư hàm súc, kiệm lời, lại chỉ gồm ba dòng, nên khi đọc cần đọc chậm, ngắt giọng và
chuyển mạch cảm xúc sau mỗi dòng thơ.
II - Kiến thức cơ bản
A. Chùm thơ thứ nhất
Những nét vẽ trong trẻo bởi ngôn từ hàm súc ghi lại những biến động tinh tế của vạn vật và những rung
động thiêng liêng của tâm hồn nghệ sĩ đã tạo nên những bài thơ hai-cư xinh xắn, duyên dáng và sâu sắc.
Đằng sau những bức tranh thuỷ mặc với những nét chấm phá, những hình ảnh rất đỗi bình dị của cuộc
sống đời thường là những tư tưởng nhân sinh sâu sắc.
Nếu người phương Tây ưa hành động, thích hướng ngoại thì người phương Đông lại thích lắng mình

mong ước được trở về quê hương đã thể hiện ở dòng thơ đầu tiên. Khi cất bước thăm quê, Ê-đô vẫn là đất
khách. Trên đất khách nên nhớ và khao khát về thăm quê. Nhưng khi đã cất bước ra đi thì lại “ngoảnh
lại”. Và “đất khách” thành “cố hương”. Ê-đô lại trở thành quê hương, lại gắn bó máu thịt với người ra đi.
Bài thơ đã thể hiện tấm lòng tha thiết với quê hương, đất nước của nhà thơ. Đồng thời nó cũng đã ghi lại
được phút giây rất đỗi thiêng liêng trong mỗi con người. Người ta chỉ có thể nhận ra sự quý giá của một
cái gì đó khi đã sắp mất đi. Con người chỉ thấy mình gắn bó với mảnh đất ấy khi mình phải cất bước ra đi,
phải rời xa nó. Với thể loại hai-cư, Ba-sô đã thể hiện thành công và chính xác một trong rất nhiều những
trạng thái tình cảm của con người. Từ “đất khách” mở đầu, từ “cố hương” kết thúc, vẫn chỉ một đối
tượng, đã diễn tả và ghi lại được phút giây bừng ngộ chân lí của nhân vật trữ tình.
2. Tình cảm với quê hương đất nước, với những mảnh đất đã từng gắn bó còn được thể hiện ở bài thơ thứ
hai :
Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
Bài thơ được viết khi tác giả trở lại Ki-ô-tô sau nhiều năm phiêu bạt. Đây là cuộc gặp gỡ của những cố
nhân. Một cuộc gặp gỡ đầy tâm trạng.
“Cảm thức thẩm mĩ của hai-cư, nhất là hai-cư của Ba-sô có những nét rất riêng, rất cao và tinh tế… Hai-
cư chỉ gợi chứ không tả”. Tứ thơ đơn giản nhưng sâu sắc. Âm thanh của tiếng chim đỗ quyên hót đã gợi
tả sự tĩnh lặng của không gian. Hai-cư vốn đề cao cái vắng lặng, đơn sơ, hiu hắt, u huyền… bởi đó là
không khí dễ gợi và dễ cảm nhận tâm trạng nhất. Dùng âm thanh để gợi tả sự tĩnh lặng là bút pháp nghệ
thuật quen thuộc của thi ca cổ điển phương Đông. Kinh đô vốn là chốn phồn hoa đô hội, vậy mà lại nghe
được âm thanh của tiếng đỗ quyên hót.
Không viết nhiều, chỉ một thứ âm thanh gợi một nỗi nhớ nhưng gợi mở bao nhiêu ý nghĩa. Đứng giữa
kinh đô mà nhớ kinh đô. Đây là kinh đô ở hai thời điểm khác nhau. Một kinh đô đồng hiện : kinh đô của
quá khứ và kinh đô của hiện tại. Nỗi nhớ ở đây là “niềm tiếc nuối” của nhà thơ. Gặp lại kinh đô hoang tàn
của hiện tại, nhớ kinh đô xưa tươi đẹp. Cũng có thể hiểu rằng, bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của nhà
thơ đối với đất nước mà hiện thân của đất nước là kinh đô. Tình cảm tha thiết ấy trào dâng trong lòng khi
con người ngược thời gian trở về với miền mong nhớ.
3. Tình cảm giữa con người đối với con người là dòng chảy bất tận của thi ca – trong đó tình mẫu tử là
tình cảm thiêng liêng, chân thành và bản năng nhất. Tình cảm thật của nhân vật trữ tình – tác giả đối với

có thể cầm lòng trước tiếng than khóc như thế ? Bài thơ đã phần nào tái hiện một mảng hiện thực nước
Nhật thời Ba-sô.
Không nói nhiều mà gợi rất sâu, gợi những tình cảm sâu thẳm nhất nơi đáy sâu tâm hồn con người là đặc
điểm của thơ hai-cư. Và đây là bài thơ tiêu biểu.
5. Bài thơ này Ba-sô sáng tác khi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh
run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo tơi
để che mưa, che lạnh.
Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những
em bé nghèo đang rét co ro. Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp
người nghèo khổ. Chú khỉ đã được nhân hoá để nói về suy nghĩ và ước mơ của con người về một cuộc
sống hạnh phúc. Chỉ dùng một chi tiết thật nhỏ nhưng nhà thơ đã nói được một vấn đề thật lớn, đó là khát
vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Bài thơ đã khái quát hoá một vấn đề rất lớn và rất phổ biến của nhân sinh, đó là khao khát, là ước mơ.
Con người luôn khao khát và ước mơ về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn. Những ước mơ rất đỗi
giản dị, như chú khỉ ước có được chiếc áo tơi trong cơn mưa đông. Chỉ một hình ảnh, một biện pháp tu từ
nhân hoá mà nhà thơ đã nói lên điều mà bao nhiêu người đều muốn nói, đó là ước muốn có một cuộc
sống bình ổn, hạnh phúc. Giữa những phút giây bề bộn của cuộc sống, con người luôn hướng đến những
điều tốt đẹp hơn. Và điều đó khiến cho xã hội loài người ngày càng phát triển.
6. Bài thơ này miêu tả cảnh mùa xuân. Quanh hồ Bi-oa có trồng rất nhiều hoa anh đào. Mỗi khi gió thổi,
cánh hoa anh đào lại rụng lả tả như mây. Cánh hoa hồng nhạt, mong manh rụng xuống mặt hồ làm cho
mặt hồ gợn sóng. Cảnh tượng ấy thể hiện sự tương giao của các vật trong vũ trụ. Triết lí sâu xa nhưng lại
được thể hiện bằng những hình tượng giản dị, nhẹ nhàng. Đó chính là cảm thức thẩm mĩ của bài thơ.
Chỉ với ba dòng thơ ngắn nhưng bài thơ đã tạo nên một bức hoạ thật sinh động. Vạn vật giao hoà, cánh
hoa và sóng nước được kết hợp với nhau thật nhẹ nhàng và tinh tế. Hoa đẹp, hồ nên thơ. Những cánh hoa
mỏng manh hoà hợp với những con sóng gợn nhẹ trên mặt hồ. Một bức tranh thật thanh thoát. Triết lí
nhân sinh của bài thơ nằm trong sự hoà hợp ấy. Mọi sự vật trong thế giới này đều có một mối tương giao
với nhau. Với ngôn từ giàu hình ảnh, nhà thơ đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc sự hoà hợp rất
triết học của tự nhiên.
7. Bài thơ ra đời trong một lần Ba-sô leo lên núi đá để thăm chính điện chùa Riu-sa-ku-ji. Tiếng ve là
thanh, đá là vật. Nhưng trong cảnh u tịch, vắng lặng của chiều tà, khi tất cả đều im ắng hết lại có thể nghe

Tình yêu cuộc sống là tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người và đó là giá trị nhân sinh trong
thơ của Ba-sô. Thơ hai-cư của Ba-sô súc tích, giàu hình ảnh nên tạo được những ấn tượng khó phai trong
lòng người đọc. Chỉ một hình ảnh đơn giản của cuộc sống nhưng chứa đựng những ý nghĩa nhân sinh sâu
sắc, thơ hai-cư đòi hỏi người đọc phải đến với nó không chỉ bằng trái tim, khối óc mà bằng cả trí tưởng
tượng và cả trực giác của người biết cảm thụ nghệ thuật.
B. Chùm thơ thứ hai
1. Đọc bài thơ, có thể thấy : ý thơ hai-cư không thể hiện trên bề mặt câu chữ mà người đọc phải tự cảm
nhận và giải thích.
Trên cành khô
chim quạ đậu
chiều thu
“Cành khô”, “chim quạ” là những nét chấm phá thuỷ mặc để gợi tả một “chiều thu” u buồn sâu thẳm,
vắng lặng đến cô tịch. Không có một cái tâm tĩnh, trong sáng và tình yêu cuộc sống, thiết tha với thiên
nhiên, tạo vật sẽ không thể kết đọng được những hình ảnh đẹp đẽ, gợi cảm đến thế. Đọc bài thơ, mới hiểu
thế nào là chất sa-bi đơn sơ, tao nhã, cô liêu, trầm lắng, u buồn, nhưng không chán chường hay bi luỵ, oán
đời.
2. Bài thơ :
Hoa đào như áng mây xa
chuông đền U-ê-nô vang vọng
hay đền A-sa-cư-sa
Hình ảnh hoa đào tượng trưng cho mùa xuân. Hoa đào nở rộ kết thành những mảng sắc hồng nhạt, nhẹ
nhàng, thanh thoát như áng mây xa. Tiếng chuông vang vọng báo hiệu hoàng hôn đến, nó vang vọng và
mơ hồ tạo cảm giác bâng khuâng, chay tịnh thú vị. Tiếng chuông vô định hoà cùng sắc hoa đào mây xa
tạo nên ấn tượng về cái nhạt, cái không.
3. Bài thơ :
Cây chuối trong gió thu
tiếng mưa rơi tí tách vào chậu
ta nghe tiếng đêm
Thực ra, không có tiếng đêm mà chỉ có tiếng của tạo vật vọng trong đêm. Tiếng đêm được gợi tả từ tiếng
gió thu (nói Cây chuối trong gió thu là muốn gợi tả tiếng gió thu hay là để chuẩn bị cho sự rơi của giọt

một đất nước có trạng thái thiên nhiên luôn thay đổi. Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến khí chất,
cảm quan và tình cảm của người Nhật. Người Nhật tin vào mối quan hệ đặc biệt giữa con người với thiên
nhiên ; họ sống chan hoà với thiên nhiên, cây cỏ, hấp thụ sức sống, sinh khí chan chứa trong chúng.
III - Liên hệ
Bên dòng Đạ Dâng hoang dại ngồi viết thơ xuân. Tiếng rì rầm chảy quanh những ngọn đồi không tên của
làng Sê-nhắc im lìm. Mặt trời trốn đâu mất ở phía sau cái lạnh vào mùa. Sương mù như chiếc áo khoác,
phủ lên ruộng vườn một màu trắng bàng hoàng của sớm mai. Tôi chợt nhớ đến mùa xuân trong thơ Ba-
sô :
Mùa xuân đến rồi
vô danh ngọn đồi ấy
sáng nay khoác áo sương mù
Quả thật, hơi xuân đã chạm vào thiên nhiên, chạm vào niềm bất tri da diết, chạm vào hồn tôi chút tri ngộ
lang thang. Lòng nao nao hồi vọng :
Ngày đầu xuân
sao mà tôi nhớ
chiều thu cô đơn
Có phải có một chút thu đã vượt qua đêm đông đến tiềm hiện trong mùa xuân ? Chất hai-cư trầm lặng đến
suy tư đã khắc hoạ được hồn vía của giao cảm mùa. Chính vì thế mà trong cái chớm rét cũng chớm hiện
một làn hương :
Cây hoa nào
mà ta chưa biết
gửi lại một làn hương
Thật bất ngờ, trong khí tiết xung hàn của ngày đông, Ba-sô đã cho chúng ta nhận ra sự đồng điệu của
thiên nhiên và con người khi đạt tới cái tâm hư không và trong lặng. Ví dụ như mùa xuân kia là một phần
bản thể của vũ trụ, xoay chuyển và hình thành :
Thế rồi từ từ
mùa xuân thành tựu
với trăng và hoa
Và chúng ta hãy lắng nghe :
Tiếng chuông chùa tan

ống điếu ngậm trong miệng
gió mùa xuân lên
Ôi ! ngọn gió mùa xuân thổi xuyên qua mọi thời đại, thổi vào hồn tôi một thoáng ấm áp bâng khuâng
trong thơ xuân của người thi sĩ vĩ đại.
Còn đây :
Ta khóc
mùa xuân ra đi
cùng với những người Omi
Cảm giác than tiếc mùa xuân ngự trị trên muôn loài, bài thơ lững lờ như con nước không một giọt thừa ;
ngôn ngoại hành tàng đi biền biệt cốt nói lên cảm thức thời gian, cảm thức tâm linh mà người sử dụng
thiền quán có được.
Vậy đó, Ba-sô sống trong mối tương hoà thật sự với thiên nhiên. Và mùa xuân biểu hiện trong thơ ông
mãi mãi bất tận.
(Theo Nguyễn Tuấn Nhã, Kiến thức ngày nay, xuân 2004)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status