Lời nói đầu
Mục tiêu hàng đầu của bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
nào cũng là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Để đạt đợc điều này thì
doanh nghiệp cần phải có nhiều nhân tố khác nhau.Trong đó việc quản lý và
sử dụng vốn có hiệu quả là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng để
làm nên điều đó.
Đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, quá trình quản lý và sử dụng vốn
ở các doanh nghiệp này đã có nhiều thay đổi kể từ khi chúng ta chuyển đổi cơ
chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng. Trong thời kỳ bao cấp
các doanh nghiệp hoạt động theo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Nhà n-
ớc , vốn do Nhà nớc bao cấp, cấp phát hầu nh toàn bộ. Vì thế vai trò khai thác ,
thu hồi vốn, sử dụng vốn nh thế nào đã không đợc đặt ra nh một nhu cầu cấp
bách đối với các doanh nghiệp . Từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng, do không
đợc bao cấp nh trớc nữa nên vấn đề nóng bỏng đặt ra cho các doanh nghiệp
thời kỳ này là vốn và sử dụng vốn.
Một doanh nghiệp muốn phát triển và có khả năng cạnh tranh trong nền
kinh tế thị trờng thì cần phải có đủ vốn và phải sử dụng nguồn vốn đó sao cho
có hiệu quả. Do đó, doanh nghiệp phải đổi mới cơ chế quản lý vốn và hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn . Qua những chỉ tiêu
này, doanh nghiệp có thể đánh giá đợc mình về phơng diện sử dụng vốn , khả
năng khai thác các tiềm năng có sẵn để biết mình đang ở cung đoạn nào trong
quá trình sản xuất, đứng ở vị trí nào trong quá trình cạnh tranh với các doanh
nghiệp khác ...
Xuất phát từ thực tế trên, sau một thời gian thực tập tại Công ty xi măng
Bỉm Sơn thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam , đợc sự giúp đỡ trực tiếp của
anh LÊ HUY QUÂN và các cán bộ khác trong phòng kế toán - thống kê -tài
1
chính của Công ty, cùng với sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo_ tiến sĩ Vũ
Duy Hào, tôi đã tiến hành phân tích những số liệu tài chính của công ty trong
những năm gần đây để đánh giá những mặt đã đạt đợc cũng nh những hạn chế
trong công tác quản lý và sử dụng vốn của công ty. Trên cơ sở đó tôi mạnh dạn
Trong cuốn "Kinh tế học " của David Begg, tác giả đa ra hai định nghĩa
về vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã
3
sản xuất ra để sản xuất ra hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và các loại giấy
tờ có giá khác của doanh nghiệp.
Các quan điểm về vốn ở trên tuy đã thể hiện đợc vai trò, tác dụng của vốn
trong những điều kiện lịch sử cụ thể phù hợp với yêu cầu, mục đích nghiên
cứu cụ thể nhng vẫn bị hạn chế bởi sự đồng nhất giữa vốn với tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà
doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt giá trị và hiện vật của
một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản
xuất kinh doanh của mình.
Trong nền kinh tế thị trờng ngày nay, vốn đợc quan niệm là một yếu tố
đầu vào của không chỉ một quá trình sản xuất riêng lẻ mà là của cả quá trình
sản xuất và tái sản xuất diễn ra liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh
nghiệp . Theo đó vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp
theo, vốn đợc biểu hiện bằng cả tiền mặt lẫn các giá trị vật t, hàng hoá, tài sản
của doanh nghiệp.
Nh vậy, vốn là một yếu tố rất quan trọng của quá trình sản xuất kinh
doanh. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nhận thức đúng đắn về vốn
cũng nh những đặc trng của vốn từ đó mà làm cho công tác quản lý sử dụng
vốn một cách có hiệu quả nhằm giúp doanh nghiệp có đợc một cơ sở vững
chắc để đạt đợc nhiều thành công hơn trên thơng trờng. Căn cứ vào khái niệm
trên ta có thể thấy vốn có những đặc trng cơ bản sau:
Vốn đợc biểu hiện bằng các tài sản của doanh nghiệp, nó có thể ở
dới dạng hữu hình hoặc vô hình.
Vốn đa vào sản xuất kinh doanh là nhằm mục tiêu sinh lời, đem lại
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mà để doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu
sinh lợi và lợi nhuận thì đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động đợc
4
động là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một hay nhiều chu
kỳ sản xuất. Trong quá trình đó giá trị của t liệu lao động bị giảm đi (do giá trị
của chúng đợc dịch chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm) nhng giá
trị sử dụng vẫn nh ban đầu.
Tài sản cố định là những t liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp, khi
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nó không thay đổi hình thái vật
chất ban đầu, nó có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị của nó đ-
ợc chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm. Bộ phận chuyển
dịch vào trong giá trị của sản phẩm mới tạo nên một yếu tố chi phí sản xuất
sản phẩm và đợc thu hồi sau khi sản phẩm đợc tiêu thụ và dới hình thức trích
khấu hao tài sản cố định.
Nhà nớc ta quy định tài sản cố định là những t liệu lao động có đủ hai
điều kiện sau đây:
-Thời gian sử dụng tối thiểu là một năm.
-Giá trị phải đạt đến một độ lớn nhất định.
Để cho công tác quản lý sử dụng tài sản cố định có hiệu quả hơn, ngời
ta tiến hành phân loại tài sản cố định ra làm hai loại: Tài sản cố định hữu hình
và tài sản cố định vô hình.
-Tài sản cố định hữu hình : Bao gồm các loại sau:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc.
Loại 2: Máy móc thiết bị dùng trong sản xuất kinh doanh
6
Loại 3: Phơng tiện vận tải, truyền dẫn
Loại 4: Thiết bị và dụng cụ quản lý
Loại 5: Cây lâu năm, súc vật làm việc cho sản phẩm.
Loại 6: Tài sản cố định khác
-Tài sản cố định vô hình: Là những t liệu lao động không có hình thái
vật chất cụ thể nhng có đủ hai điều kiện của tài sản cố định. Chẳng hạn nh:
Lợi thế thơng mại, uy tín công ty , nhãn hiệu sản phẩm...
b) Vốn cố định:
với sự tăng lên của phần vốn tiền tệ. Khi tài sản cố định hết thời hạn sử
dụng cũng là lúc phần vốn hiện vật bằng không và phần vốn tiền tệ đạt đến
giá trị ứng ra ban đầu về tài sản cố định. Vốn cố định đã hoàn thành một
vòng luân chuyển.
Thông thờng vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn
trong toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm luân
chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng. Do đó việc quản lý và sử dụng vốn
cố định có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2.1.2 Vốn l u động:
a)Tài sản lu động:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bên cạnh tài sản cố định thì doanh
nghiệp còn có một lợng tài sản nhất định nằm trong các khâu của quá trình
kinh doanh: dự trữ vật t hàng hoá chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân
phối, tiêu thụ sản phẩm,...đây chính là tài sản lu động của doanh nghiệp.
8
Tài sản lu động chủ yếu là đối tợng lao động, ngoài ra còn có các t liệu
lao động nhng không đủ điều kiện để trở thành tài sản cố định. Trong quá
trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lu động này không giữ nguyên hình thái
hiện vật ban đầu của nó. Bộ phận chủ yếu của tài sản lu động sẽ thông qua quá
trình sản xuất để trở thành thực thể của sản phẩm, bộ phận ít khác thì sẽ mất đi
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối tợng lao động chỉ tham gia vào một
chu kỳ sản xuất kinh doanh , do đó giá trị của chúng đợc chuyển toàn bộ vào
sản phẩm và đợc thực hiện khi sản phẩm trở thành hàng hoá.
Để cho quá trình sản xuất kinh doanh là liên tục thì tài sản lu động phải
không ngừng vận động. ở các khâu khác nhau của quá trình sản xuất kinh
doanh, tài sản lu động cũng đợc biểu hiện dới những hình thức khác nhau và đ-
ợc phân thành ba loại :
-Tài sản lu động trong khâu dự trữ: là bộ phận tài sản lu động dùng để
chuẩn bị , dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh nh: nguyên nhiên vật liệu,
phụ tùng dùng để thay thế sửa chữa...nhằm để đảm bảo cho quá trình sản xuất
nhà đầu t ứng ra để thành lập và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Những ngời chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể là Nhà nớc hay
chủ doanh nghiệp, các tổ chức hay cá nhân...
Có thể chia vốn chủ sở hữu làm ba loại là:
Vốn góp: là số vốn do các tổ chức, cá nhân ( chủ doanh nghiệp)
đóng góp và đợc ghi vào vốn điều lệ của doanh nghiệp (số vốn điều
lệ này phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định- là mức vốn tối
10
thiểu để doanh nghiệp đợc thành lập do Nhà nớc quy định ). Đối với
các doanh nghiệp Nhà nớc thì phần lớn vốn góp là do Nhà nớc đầu t.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, vốn góp
là do các thành viên hoặc cổ đông đóng góp đợc ghi trong điều lệ
của công ty.
Lợi nhuận không chia: là phần lợi nhuận không chia cho các chủ sở
hữu mà đợc dùng để tái đầu t vào doanh nghiệp, do đó làm tăng vốn
chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đây là một nguồn vốn có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, đặc biệt là ở các công ty
cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn.
Vốn chủ sở hữu khác: là vốn lấy từ các quỹ của doanh nghiệp nh
quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính,... để đầu t vào quá trình
sản xuất kinh doanh . Ngoài ra đối với các doanh nghiệp Nhà nớc
còn có phần khấu hao tài sản cố định đợc để lại doanh nghiệp để đầu
t, thay thế , đổi mới tài sản cố định.
2.2.2. Vốn huy động của doanh nghiệp:
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng thì vốn
chủ sở hữu đóng vai trò rất quan trọng nhng không phải là tất cả nguồn vốn
đầu t vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều là vốn chủ sở
hữu. Để đáp ứng nhu cầu về vốn, doanh nghiệp có thể huy động dới nhiều hình
thức khác nhau nh: vay nợ, liên doanh liên kết, đi thuê và các hình thức khác.
Vốn vay: là vốn mà doanh nghiệp huy động đợc bằng cách đi vay các
2.3. Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng:
12
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn, ngời ta phân chia vốn
của doanh nghiệp thành hai loại: vốn thờng xuyên và vốn tạm thời
2.3.1 Vốn th ờng xuyên:
Vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của doanh
nghiệp, đây là nguồn vốn ổn định và lâu dài. Doanh nghiệp có thể sử dụng nó
để mua sắm tài sản cố định và một phần tài sản lu động tối thiểu thờng xuyên
cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.3.2. Vốn tạm thời:
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dới một năm) mà doanh nghiệp có
thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thờng
phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nguồn vốn này bao
gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ
ngắn hạn khác.
Việc phân loại vốn thành vốn thờng xuyên và vốn tạm thời giúp cho ng-
ời quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian và
mục đích sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Cách phân loại này còn giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp lập các
kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong
13
Tài sản lu động
Tài sản cố định
Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
Vốn chủ sở hữu
Vốn tạm thời
Vốn thờng xuyên
tơng lai trên cơ sở xác định quy mô , lợng vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lợng vốn đủ lớn.
Việc đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh đợc thờng xuyên liên tục, doanh nghiệp có thể chớp
đợc thời cơ kinh doanh và có lợi thế hơn trong cạnh tranh.
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng quy mô của doanh
nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh
doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có
lãi đảm bảo vốn của doanh nghiệp đợc bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để
doanh nghiệp tiếp tục đầu t để mở rộng quy mô, phạm vi sản xuất và thâm
nhập đợc vào thị trờng tiềm năng từ đó mở rộng thị trờng tiêu thụ, nâng cao uy
tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
Trong cơ chế bao cấp trớc đây, mọi nhu cầu về vốn của doanh nghiệp
đều đợc bao cấp qua nguồn cấp phát của ngân sách Nhà nớc và qua nguồn tín
dụng với lãi suất u đãi của ngân hàng. Hơn nữa các doanh nghiệp đều sản xuất
theo chỉ tiêu pháp lệnh bởi vậy vốn không đợc coi là vấn đề cấp bách, điều này
đã làm thủ tiêu tính chủ động và sáng tạo của doanh nghiệp trong việc sử dụng
vốn.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc với
nhiều thành phần kinh tế, các doanh nghiệp nhà nớc chỉ còn là một bộ phận
song song tồn tại với các thành phần kinh tế khác. Để tồn tại và phát triển, tất
yếu các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trờng, đầu t đổi mới
máy móc thiết bị cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm và tìm
15
cách hạ giá thành hợp lý nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng
hoá. Muốn vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn, nhu cầu về vốn đã trở
thành động lực và là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp. Nó
quyết định cơ cấu đầu t, đảm bảo sự sống còn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có đủ lợng vốn kinh doanh nhng vấn đề sử dụng sao cho có
hiệu quả vẫn đang còn là vấn đề mà tất cả các nhà quản trị tài chính doanh
nghiệp hết sức quan tâm.
dụng vốn của doanh nghiệp, đó là phơng pháp so sánh và phơng pháp phân
tích tỷ lệ.
Phơng pháp so sánh: Để áp dụng phơng pháp này cần phải đảm bảo các
điều kiện so sánh đợc của các chỉ tiêu tài chính ( thống nhất về không gian,
thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán... ) và theo mục đích phân
tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh đợc chọn là gốc về thời gian hoặc
không gian, kỳ phân tích đợc chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so
sánh có thể đợc lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tơng đối hoặc số bình quân. Nội
dung so sánh có thể là so sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ tr-
ớc để thấy rõ xu hớng thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh
giá sự tăng trởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh để có biện pháp khắc
phục trong thời gian tới; so sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ
17
mức độ phấn đấu của doanh nghiệp; so sánh số thực hiện của doanh nghiệp với
số liệu trung bình của ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu, đợc hay cha đợc...
Phơng pháp tỷ lệ: trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài
chính đợc phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ
bản theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả
năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng
lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại
bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính,
trong mỗi trờng hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, ngời phân tích lựa
chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau. Để phục vụ cho việc phân tích hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp ngời ta thờng dùng một số các chỉ tiêu mà ta sẽ
trình bày cụ thể trong phần sau.
2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh thờng đặt ra
nhiều mục tiêu và tuỳ thuộc vào từng giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có
hớng xã hội chủ nghĩa, các khoản bao cấp về vốn qua cấp phát của ngân sách
không còn nữa, doanh nghiệp phải tự trang trải mọi chi phí và đảm bảo kinh
doanh có lãi, phải tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả. Do
đó đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng vốn một cách chặt chẽ hơn.
Mặt khác việc quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nớc hiện nay
còn khác trớc là doanh nghiệp phải bảo toàn vốn kể cả khi trợt giá và phải đầu
19
t để mở rộng, phát triển quy mô sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh là một quy
luật của kinh tế thị trờng, để tăng khả năng cạnh tranh của mình thì đòi hỏi
doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm nguồn vốn để đảm bảo đổi mới máy
móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ... nhằm đa dạng hoá sản phẩm đáp
ứng nhu cầu của thị trờng. Chỉ có nh vậy doanh nghiệp mới có thể tồn tại và
phát triển đợc. Vì vậy vốn trở thành động lực cho sự phát triển của doanh
nghiệp và việc huy động, quản lý sử dụng hiệu quả vốn đã trở thành yêu cầu
bức bách.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo đợc tính an toàn về tài chính
cho doanh nghiệp, đây là một vấn đề có ảnh hởng trực tiếp đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp doanh
nghiệp huy động các nguồn tài trợ dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của
doanh nghiệp đợc đảm bảo, doanh nghiệp có đủ tiềm lực để khắc phục những
khó khăn và hạn chế rủi ro trong kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp. Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao
chất lợng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, ... đòi hỏi doanh nghiệp
phải có vốn đủ lớn, trong khi vốn của doanh nghiệp chỉ có hạn vì thế việc tìm
cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu
tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục đích khác của doanh nghiệp nh
nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trờng, nâng cao mức sống của ngời lao
động ... Vì khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có
dụng
vốn cố định
=
Lợi nhuận
Vốn cố định bình quân trong kỳ
21
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động
sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Đối với
doanh nghiệp thì chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
Hai chỉ tiêu trên dùng để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố
định, ngoài ra chúng ta có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định gián tiếp
thông qua đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định do tài sản cố định là hình
thái biểu hiện vật chất của vốn cố định nh ta đã trình bày ở phần trớc.
-Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Hiệu suất sử dụng
Tài sản cố định
=
Doanh thu thuần
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Trong đó nguyên giá tài sản cố định bình quân trong kỳ là bình quân
nguyên giá của tài sản cố định đầu kỳ và cuối kỳ.
Hiệu suất này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ và chỉ tiêu này càng lớn thì
càng tốt.
-Sức sinh lời của tài sản cố định:
Sức sinh lời của
tài sản cố định
=
Lợi nhuận
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Số vòng quay của
vốn lu động
=
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là hệ số luân chuyển vốn lu động, nó cho biết
vốn lu động quay đợc mấy vòng trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả
sử dụng vốn càng cao.
Thời gian của một vòng luân chuyển:
23
Thời gian của
một
vòng luân chuyển
=
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để vốn lu động quay đợc một
vòng, thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của
vốn lu động càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay đợc nhiều
vòng hơn.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng
vốn:
1. Các nhân tố khách quan:
1.1 Môi tr ờng tự nhiên:
Môi trờng tự nhiên bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên có tác động đến
doanh nghiệp, nh khí hậu thời tiết, môi trờng...Ngày nay khoa học càng phát
triển thì sự lệ thuộc của con ngời vào tự nhiên ngày càng giảm đi, ảnh hởng
của môi trờng tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng ít hơn. Tuy nhiên nếu đợc
hoạt động sản xuất kinh doanh trong môi trờng tự nhiên phù hợp thì năng suất
25