Các CTTC và sự ra đời phát triển các CTTC ở VN - Pdf 12

Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
Lời nói đầu
Theo C.Mac va F.Anghen: Không thể cải biến kinh tế xã hội nếu thiếu vai trò
kinh tế của Nhà nớc, loài ngời đã và đang còn sống lâu dài trong nền kinh tế
thị trờng,bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu, nền kinh tế thị trờng không thể
tránh khỏi mặt tiêu cực. Phát huy mặt tích cực, chủ động hạn chế mặt tiêu cực
của kinh tế thị trờng thông qua vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc là một tất
yếu khách quan.
I.sự cần thiết khách quan của vai trò
quản lí kinh tế nhà nớc
1.Nhà nớc là gì ?
Trong tiến trình lịch sử phát triển, sự ra đời của Nhà nớc chậm hơn sự ra đời
của xã hội vì Nhà nớc chỉ đợc tạo ra từ xã hội có một trình độ phát triển nhất
định
Nhà nớc không phải là cái bẩm sinh vốn có mà nó xuất hiện gắn liền với sự
xuất hiện chế độ t hữu về T liệu sản xuất, sản xuất hàng hoá, giai cấp và đấu
tranh giai cấp. Nhà nớc là kiểu tổ chức xã hội của xã hội có giai cấp. Nó là một
bộ máy, một hệ thống tổ chức chặt chẽ, tác động vào mọi mặt của đời sống xã
hội, do giai cấp thống trị lập ra nhằm hợp pháp hoá và củng cố sự áp bức của
chúng đối với quần chúng lao động. Do vậy bản chất Nhà nớc theo nguyên
nghiã của nó là nền chuyên chính để thực hiện sự thống trị của một giai cấp, là
bộ máy áp bức của giai cấp thống trị đối với xã hội. Nhà nớc chỉ là một phạm trù
lịch sử, nó không đồng nghĩa với xã hội, nó chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch
sử nhất định và sẽ tự tiêu vong khi các cơ sở ra đời và tồn tại của nó không còn
nữa. Bất kì một Nhà nớc nào cũng có chức năng kinh tế, mà theo Mac thì chức
năng của nhà nớc nh vai trò bà đỡ cho xã hội cũ thai nghén xã hội mới. ở các
1
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
thời kì khác nhau, các chế độ xã hội khác nhau, do tính chất Nhà nớc khác nhau
nên vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nớc có biểu hiện khác nhau.
2.Vai trò kinh tế của Nhà nớc qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử

xã hội tơng lai khi thực tiễn cha đến, bằng sự phân tích logic hai ông chỉ phác
hoạ chức năng kinh tế của Nhà nớc chủ yếu là biến các t liệu sản xuất thành sở
hữu Nhà nớc, chỉ đến sau này Lênin với t cách là ngời lãnh đạo trực tiếp công
cuộc xây dựng xã hội mới thì vai trò và chức năng của Nhà nớc mới đợc nói tới
nhiều hơn. Ông cho rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đợc xây dựng trên công
hữu xã hội về t liệu sản xuất với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Sở hữu
toàn dân về t liệu sản xuất là hình thức sở hữu chung của toàn thể nhân dân lao
động, mọi ngời cùng chiếm hữu t liệu sản xuất. Ngời chủ cao nhất là Nhà nớc xã
hội chủ nghĩa, sản xuất đợc tiến hành theo kế hoạch tập trung thống nhất của
Nhà nớc. Còn hình thức sở hữu tập thể do tập thể ngời lao động góp vốn, t liệu
sản xuất để xây dựng nên, sản xuất đợc tiến hành theo kế hoạch của tập thể có
sự hớng dẫn của Nhà nớc. Nhà nớc xã hội chủ nghĩa có vai trò kinh tế đặc biệt,
nó không còn là bộ máy ăn bám đứng trên quá trình sản xuất nữa mà phải
chuyển sang tổ chức, thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế quốc dân. Chức
năng này gắn liền với quá trình kế hoạch hoá tập trung thống nhất, quản lý sản
xuất và phân phối sản phẩm, kiểm tra chặt chẽ mức độ lao động và tiêu dùng.
Thực tế lịch sử đã cho thấy cùng với sự tiến hoá của các chế độ xã hội, vai
trò kinh tế của Nhà nớc cũng có những biến đổi hết sức lớn lao, thể hiện rõ trong
các lý thuyết kinh tế điển hình qua các thời kì
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến: vai trò kinh tế của Nhà nớc
chủ yếu chỉ dừng lại ở việc bảo vệ sở hữu về nô lệ và phong kiến về T liệu sản
3
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
xuất. Nhà nớc trực tiếp dùng quyền lực của mình can thiệp vào việc phân phối
của cải đợc sản xuất ra bởi nô lệ. Còn Nhà nớc phong kiến không chỉ can thiệp
vào việc phân phối mà còn tập hợp nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản
xuất nông nghiệp, khuyến khích quan lại di dân đi mở mang các vùng đất mới,
đề ra các chính sách ruộng đất thích hợp cho từng thời kì.
- Trong giai đoạn đầu của sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa t bản
+ Trong thời kì tích luỹ nguyên thuỷ T bản (giữa thế kỉ 15) Nhà nớc có vai trò

giữa ngời với ngời là quan hệ về lợi ích kinh tế. Mỗi ngời hoạt động chỉ nhằm
lợi ích cho bản thân, song do bàn tay vô hình chi phối buộc con ngời phục
tùng lợi ích chung của xã hội, điều này nằm ngoài ý định của từng nhà kinh
doanh. Mặc dù đề cao bàn tay vô hình song ông cũng cho rằng đôi khi Nhà n-
ớc có nhiệm vụ kinh tế nhất định, đó là khi các nhiệm vụ kinh tế đặt ra vợt quá
khả năng của các doanh nghiệp. Mặt khác các nhà kinh tế cũng thấy đợc rằng
nền kinh tế phát triển càng cao, xã hội hoá sản xuất ngày càng mở rộng, thị tr-
ờng ngày càng phát triển thì càng cần có sự quản lý của Nhà nớc đối với nền
kinh tế, song t tởng của họ vẫn dừng lại ở sức mạnh thị trờng, ở sự tác động tự
phát của các quy luật kinh tế thị trờng làm cho nền kinh tế phát triển ổn định và
lành mạnh.
- Sang thời kì của đại t bản công nghiệp: Chủ nghĩa t bản phát triển nhanh
chóng nhờ các nguồn vốn tích luỹ to lớn nên ngời ta chủ yếu chỉ phê phán
những sự tiêu dùng xa xỉ làm giảm nguồn tích luỹ chứ cũng cha thấy rõ vai trò
cần thiết của Nhà nớc trong việc điều chỉnh các quá trình phát triển, khắc phục
các mất cân đối (Ví dụ Davit Ricardo).
5
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
+ Vào đầu những năm 1930 của thế kỉ nảy, khủng hoảng kinh tế diễn ra thờng
xuyên đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1933 đã làm cho
bàn tay vô hình không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho nền kinh tế
thị trờng phát triển. Đồng thời ở giai đoạn này trình độ xã hội hoá sản xuất phát
triển khá cao làm cho các nhà kinh tế thấy rằng: cần có một lực lợng điều tiết
nền kinh tế từ một trung tâm-đó là Nhà nớc. Từ đó J.M.Keynes-nhà kinh tế học
ngời Anh đã da ra lý thuyết "Nhà nớc điêù tiết nền kinh tế thị trờng". Ông cho
rằng cùng với sự tăng lên của sản lợng quốc gia thì thu nhập tăng lên và tiêu
dùng cũng tăng lên. Nhng do xu hớng tiêu dùng giới hạn nên tiêu dùng tăng
chậm hơn so với thu nhập, điều này làm giảm cầu tiêu dùng tơng đối. Cầu tiêu
dùng giảm làm giảm giá hàng hoá và từ dó làm giảm tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất
lợi nhuận giảm nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì các doanh nghiệp không còn có

tự do kinh tế chống lại việc Nhà nớc can thiệp, họ cho rằng nền kinh tế t bản chủ
nghĩa thờng xuyên ở trạng thái cân bằng động, đó là hệ thống tự điều chỉnh,
hoạt động dựa vào các quy luật kinh tế vốn có.
* ở các nớc Bắc Âu đã có chủ trơng tăng cờng vai trò của Nhà nớc nhng chủ
yếu chỉ trong lĩnh vực xã hội, kiểu kinh tế thị trờng xã hội.
+ Rõ ràng cả 2 trờng phái Keynes và tự do mới đều vấp phải những sai lầm,
hoặc là hạ thấp đến mức bỏ qua cơ chế thị trờng hoặc là phủ nhận vai trò kinh tế
của Nhà nớc, nên vào thập niên 60,70 có sự xích lại gần nhau của 2 trờng phái
để hình thành nền kinh tế hỗn hợp, tức là họ đã phối hợp Bàn tay vô hình và
Bàn tay hữu hình để điều tiết nền kinh tế. Trong cuốn Kinh tế học của
Samuelson ông viết:Điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị
trờng thì cũng nh định vỗ tay bằng một bàn tay, theo ông Nhà nớc có vai trò
7
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả vì các nền kinh tế thực tế đôi khi
chịu thất bại của thị trờng gồm cạnh tranh không hoàn hảo (cao hơn nữa là độc
quyền), tác động bên ngoài( ngoại ứng), hàng hoá công cộng (nếu để t nhân làm
thì việc cung ứng thờng không đủ nên Chính phủ phải nhảy vào làm việc đó)
thuế (một dạng cỡng bức quan trọng của Nhà nớc để phục vụ những chi tiêu của
mình).
Nh vậy sự can thiệp của Chính phủ vào thị trờng để nâng cao hiệu quả không
phải chỉ đơn thuần là do ý thích, mà đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các t
doanh làm ăn trôi chảy, ngăn cản lạm dụng khi các doanh nghiệp trở thành
những kẻ tham lam độc quyền và kiềm chế hoạt động của các doanh nghiệp khi
khối nhà máy của họ đe doạ sinh mạng và tài sản của ngời khác. Ngoài ra nếu
nền kinh tế hoạt động hoàn toàn có hiệu quả, luôn trên ranh giới đờng khả năng
sản xuất, sự cạnh tranh trên thị trờng là hoản hảo thì hàng hoá luôn đợc đặt vào
tay ngời có nhiều tiền nhất chứ không phải theo nhu cầu lớn nhất, vì vậy cần
thừa nhận rằng một hệ thống thị trờng có hiệu quả có thể gây ra sự bất bình
đẳng lớn, và một khi thị trờng dân chủ không thích sự phân phối phiếu đôla

các cơ quan Nhà nớc đảm trách. Điều này là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự
tụt hậu của hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa so với hệ thống các nớc t bản phát
triển. Những cải tổ nhng không triệt để sau đó vì thế đã dẫn tới sự sụp đổ không
tránh khỏi của Liên Xô và một loạt các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào
cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90.
Nh vậy về nguyên tắc Nhà nớc cần phải can thiệp vào thị trờng nhng không
có mô hình nào chung có thể áp dụng cho toàn thế giới. Căn cứ vào điều kiện cụ
thể của từng nớc mà phải tìm ra cho mình một vị trí tiếp cận với nền kinh tế, một
cách thức riêng để can thiệp vào thị trờng, định hớng nền kinh tế đến các mục
tiêu mong muốn trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của thị trờng.
9
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
3. Tính tất yếu khách quan của việc xuất hiện vai trò kinh tế của Nhà nớc
Trên thực tế, không có nền kinh tế nào thế giới lí tởng của bàn tay vô hình.
Mỗi nền kinh tế đều có những khuyết tật. Vì lí do đó nên ở bất cứ nơi nào trên
thế giới, không có chính phủ nào dù bảo thủ đến đâu lại không nhúng tay vào
nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trờng, lực lợng sản xuất ngày càng phát triển
và theo đó quan hệ sản xuất mới đợc thiết lập cho phù họp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất. Vì vậy Nhà nớc cần phải nắm vai trò chủ
đạo trongviệc đa ra giải pháp để phát triển lực lợng sản xuất. Trong thời kì quá
độ, để phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trờng cần phải giải quyết hai mâu
thuẫn chính. Thứ nhất đó là mâu thuẫn giữa nền kinh tế chậm phát triển với yêu
cầu phát triển nền kinh tế hiện đại bằng quá trình đẩy nhanh phát triển nền kinh
tế hàng hoá. Thứ hai đó là mâu thuẫn giữa những yếu tố nhanh nhạy, tự phát của
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.Với t cách là cơ quan quyền lực đại diện
cho lợi ích của nhân dânvà là ngời chủ đại diện cho sở hữu toàn dân, Nhà nớc
phải quản lí nền kinh tế đ, thực hiện chế độ dân chủ về mọi khâu, mọi mặt của
quá trình tái sản xuất.
II- Sự hình thành cơ chế quản lí mới ở Việt Nam
Trớc hết ta cần nắm đợc khái niệm cơ chế kinh tế: Đó là tồng thể các yếu tố có

- Coi thờng các quan hệ hàng hoá- tiền tệ và hiệu quả quản lí kinh tế, quản lí
nền kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan
hệ hiện vật là chủ yếu, do đó hạch toán chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp đợc thể
hiện dới các hình thức: bao cấp quá giá, chế độ cung cấp và cấp phát vốn của
ngân sách mà không ràng buộc vật chất đối với ngời đợc cấp phát vốn.
11
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
- Từ những đặc điểm trên tất yếu dẫn đến một bộ máy quản lý cồng kềnh, có
nhiều cấp trung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ quản
lý kém năng lực quản lí, không theo nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì
quan liêu cửa quyền.
Những quan niệm ấu trĩ trên đây về xây dựng và phát triển kinh tế là biểu
hiện sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, mà đặc biệt là
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất.
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã tích cóp những xu hớng
tiêu cực, làm nảy sinh sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế
xã hội. Vấn đề đặt ra là phải đổi mới sâu sắc cơ chế đó theo hớng căn bản của sự
đổi mới cơ chế quản lí đã đợc Đại hội VI của Đảng xác định và đợc tiếp tục
khẳng định tại Đại hội VII: Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
hình thành đồng bộ, vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lí của Nhà
nớc
2. Cơ chế thị trờng và sự vận dụng ở Việt Nam
a)Một số khái niệm cơ bản
Để có thể đi sâu nghiên cứu cơ chế quản lí kinh tế mới ở Việt Nam cần nắm
vững một số khái niệm sau
- Thị trờng là gì? Thị trờng gắn liền với quá trình sản xuất và lu thông hàng
hoá, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lu thông
hàng hoá, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, lợng sản phẩm lu thông trên
thị trờng ngày càng dồi dào và phong phú, thị trờng đợc mở rộng. Nh vậy thị tr-

tế: sản xuất cái gì? nh thế nào? cho ai?
13
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
- Vai trò của kinh tế thị trờng?Kinh tế thị trờng giúp nhân loại giải quyết 3 vấn
đề cơ bản trong nền kinh tế một cách có hiệu quả
+Sản xuất cái gì? Không phải do thợng đế, một tổ chức mệnh lệnh và cũng
không phải do ngời sản xuất quyết định, mà do ngời tiêu dùng thông qua việc bỏ
đồng tiền để lựa chọn: Họ thích hàng hoá này chứ không phải hàng hoá kia, họ
cần số lợng này chứ không phải số lợng khác, chấp nhận mức giá này chứ không
phải mức giá khác. Thông qua việc bỏ phiếu bằng đồng tiền để chọn cho mình
những thứ hàng hoá hợp sở thích, thị hiếu, nhu cầu, về chủng loại, số lợng, mẫu
mã. ở đây tính dân chủ tự do thực sự đợc thể hiện rõ nét.
+Sản xuất nh thế nào? Vấn đề này đợc giải quyết thông qua cạnh trạnh và chủ
yếu là do cạnh tranh quyết định. Muốn đứng vững và chiến thắng trong cạnh
tranh, ngời sản xuất phải lựa chọn kĩ thuật và công nghệ tối u. Cạnh tranh giữa
các xí nghiệp trong ngành hình thành nên lợi nhuận siêu ngạch cho ngời sản
xuất. Động lực hấp dẫn này thúc đẩy họ luôn đổi mới kĩ thuật, phấn đấu đa năng
suất lao động cá biệt lên cao hơn năng suất lao động xã hội. Hơn nữa, cạnh tranh
còn là cơ chế sàng lọc, bình tuyển những kiểu sản xuất tân tiến, loại bỏ những
cơ chế sản xuất cũ kĩ lạc hậu. Vì thế cạnh tranh là linh hồn của đời sống kinh tế
trong nền kinh tế thị trờng.
+Sản xuất cho ai? Nh ta đã biết mục đích của sản xuất hàng hoá là để bán, để
chuyển H thành T, làm cho sản xuất tái diễn. Do vậy để trả lời câu hỏi Sản xuất
cho ai chỉ có thể là sản xuất cho ngời có tiền. Trong phân phối, động lực vì
đồng tiền để làm giàu trở thành một sức mạnh thật sự thúc đẩy con ngời trong
các hoạt động kinh tế của họ. Tất nhiên sự phân phối trong kinh tế thị trờng
không tránh khỏi một số mặt trái về hậu quả xã hội.
-Đặc điểm chung của cơ chế thị trờng
14
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế

các điều kiện hiệu quả Pareto, điều đó làm tổn hại tới lợi ích của ngời tiêu dùng
và của xã hội.
* Thứ ba, các ngoại ứng. Ngoại ứng tồn tại khi việc sản xuất hoặc tiêu dùng một
mặt hàng trực tiếp làm ảnh hởng tới các doanh nghiệp hoặc ngời tiêu dùng
không can dự đến việc mua hoặc bán hàng hóa đó, nhng không đợc phản ánh
đầy đủ trong giá cả thị trờng. Ngoại ứng dù tích cực hay tiêu cực khi không đợc
phản ánh trong giá cả thị trờng sẽ làm cho mức sản lợng không phải là tối u và
do đó làm thiệt hại tới lợi ích xã hội.
* Thứ t, hàng hoá công cộng. Đây là hàng hoá mà sự tiêu dùng của một ngời
không ảnh hởng đến sự tiêu dùng của ngởi khác nh: đờng cao tốc, quốc phòng,
an ninh...hàng hoá công cộng hết sức cần thiết nhng các cá nhân, hộ gia đình,
các doanh nghiệp không ai chịu bỏ tiền ra để sản xuất.
* Thứ năm, phân phối thu nhập. Do sự tác động của các quy luật kinh tế thị tr-
ờng, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, sự phân hoá giàu nghèo là hiện
tợng không tránh khỏi. Những điều đó có thể dẫn đến mâu thuẫn, thậm chí xung
đột trong xã hội. Điều này sẽ trở thành những nhân tố cản trở quá trình tăng tr-
ởng và phát triển kinh tế.
* Thứ sáu, vấn để thông tin. Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp cần
rất nhiều thông tin khác nhau. Trong khi đó, khả năng của từng doanh nghiệp
trong việc thu nhập và xử lý thông tin rất hạn chế. Mỗi doanh nghiệp không thể
tự giải quyết đợc nhu cầu về thông tin của chính mình.
* Thứ bảy, mục đích của doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, do đo họ có thể lạm
dụng tài nguyên xã hội, có thể gây ra ô nhiễm nguồn nớc, không khí...
16
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
* Thứ tám, khủng hoảng sản xuất thừa là căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế
thị trờng phát triển. ở đây, do mức cung hàng hoá vợt quá mức cầu có khả năng
thanh toán nên dẫn tới tình trạng d thừa hàng hoá Nguyên nhân của tình trạng
trên là do mâu thuẫn cơ bản của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, mâu thuẫn
này đợc thể hiện trên tính kế hoạch cao độ ở từng doanh nghiệp với tính vô

cấp tự túc:
+ Trình độ cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém
+ Hệ thống kết cấu hạ tầng, dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cha đủ để phát
triển kinh tế thị trờng ở trong nớc và cha đủ khả năng để mở rộng giao lu với thị
trờng quốc tế.
+ Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, còn mang nặng đặc trng của
một cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Hiện tợng độc canh cây lúa vẫn còn tồn tại,
ngành nghề cha phát triển. Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng cho đến nay tuy cơ
cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế đã có nhiều thay đổi nhng vẫn cha thành
đợc một cơ cấu mới hợp lí
+ Cha có thị trờng theo đúng nghĩa của nó
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của nớc ta đã đợc hình thành và đang
phát triển vì vậy thị trờng ở nớc ta cũng đang đợc hình thành và phát triển. Tuy
nhiên thị trờng ở nớc ta còn ở trình độ thấp, tính chất của nó còn hoang sơ, dung
lợng còn thiếu và có phần rối loạn, chúng ta mới từng bớc có thị trờng hàng hoá
nói chung. Về cơ bản nớc ta còn cha có thị trờng sức lao động. Chúng ta cũng
cha có thị trờng tiền tệ và thị trờng tiền vốn, hoặc mới có thị trờng này ở khu vực
ngoài quốc doanh với quan hệ vay, trả, mua, bán còn thô sơ. Khu vực kinh tế
18
Đề án Kinh Tế Chính Trị - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong việc thúc đẩy kinh tế
Nhà nớc vẫn sử dụng lãi suất, tỉ giá và quan hệ tài chính tiền tệ do Nhà nớc quy
định. Cha có lãi suất, tỉ giá và tín dụng thực sự theo cơ chế thị trờng.
Thực trạng trên đây của nớc ta là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau.
Về mặt khách quan đó là do trình độ phát triển của phân công lao động xã hội
còn thấp. Nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Về mặt chủ quan là do
nhận thức cha đúng đắn về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, do sự phân biệt duy ý
chí giữa thị trờng có tổ chức và thị trờng t do. Một thời gian khá dài đã tồn tại
quan niệm cho rằng những t liệu sản xuất lu chuyển trong nội bộ các xí nghiệp
quốc doanh là những hàng hoá đặc biệt, nó không đợc mua bán tự do vì chúng
có vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu chúng rơi vào tay t nhân nó sẽ trở thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status