Phát triển logistics ở một số nước đông nam á bài học kinh nghiệm đối với việt nam - Pdf 12

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NCS. VŨ THỊ QUẾ ANH
PHÁT TRIỂNLOGISTICS Ở MỘT SỐ NƯỚC
ĐÔNG NAM Á - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NCS. VŨ THỊ QUẾ ANH
PHÁT TRIỂN LOGISTICS Ở MỘT SỐ NƯỚC
ĐÔNG NAM Á - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số : 62.31.07.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1. GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng
2. PGS. TS. Phạm Thị Thanh Bình
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu nêu trong luận án là trung thựcvà có nguồn gốc rõ ràng.
Những kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác.
Tác giả luận án
Vũ Thị Quế Anh
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1

Singapore, Malaysia, Thái Lan 130
3.3.Định hướng phát triển logistics ở Việt Nam 143
3.4.Một số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam 146
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG 2.1: MỘT SỐ CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA SINGAPORE 56
BẢNG 2.2: SO SÁNH ĐIỂM SỐ HẠ TẦNG CƠ SỞ CỦA SINGAPORE VÀ MỘT
SỐ NƯỚC TRONG ĐÁNH GIÁ LPI CỦA WORLD BANK 59
BẢNG 2.3: ĐÁNH GIÁ VỀ CHI PHÍ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HẠ TẦNG CƠ SỞ
LOGISTICS CỦA SINGAPORE 60
BẢNG 2.4: ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG TRUY XUẤT ĐƠN HÀNG CỦA
SINGAPORE 67
BẢNG 2.5: CHỈ SỐ LPI CỦA SINGAPORE CÁC NĂM 2007, 2010 VÀ 2012 69
BẢNG 2.6: MỘT SỐ CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA MALAYSIA 70
BẢNG 2.7: SO SÁNH SỰ THAY ĐỔI MỨC PHÍ HẠ TẦNG CƠ SỞ VẬT CHẤT
CỦA MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2007-2012 76
BẢNG 2.8: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HẠ TẦNG CƠ SỞ CỦA MALAYSIA 76
BẢNG 2.9: ĐÁNH GIÁ NHỮNG THAY ĐỔI TRONG MÔI TRƯỜNG LOGISTICS
VÀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC QUY TRÌNH LOGISTICS CỦA MALAYSIA 79
BẢNG 2.10: KHẢ NĂNG CUNG ỨNG CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ LOGISTICS
3PL Ở MALAYSIA (2004) 80
BẢNG 2.11: NHU CẦU THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ LOGISTICS 3PL Ở
MALAYSIA (2004) 82
BẢNG 2.12: SO SÁNH CHỈ SỐ NĂNG LỰC LPI CỦA MALAYSIA VỚI
SINGAPORE VÀ THÁI LAN 83
BẢNG 2.13: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ DỊCH VỤ LOGISTICS MALAYSIA,
2007-2012 84
BẢNG 2.14: MỘT SỐ CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA THÁI LAN 86
BẢNG 2.15: TỔNG ĐẦU TƯ CỦA THÁI LAN PHÂN BỔ THEO LĨNH VỰC, GIAI

BIỂU ĐỒ 2.4: CHỈ SỐ LPI THÁI LAN 2007 - 2010 – 2012 101
BIỂU ĐỒ 3.1: SO SÁNH CHỈ SỐ LPI 2012 CỦA VIỆT NAM - SINGAPORE -
THÁI LAN - MALAYSIA 128
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1PL : The First Party Logistics Logistics bên thứ nhất
2PL : The Second Party Logistics Logistics bên thứ hai
3PL : The Third Party Logistics Logistics bên thứ ba
4PL : Fourth Party Logistics Logistics bên thứ tư
ADB : Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
ASEAN : Association of South East Asia
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CIF : Cost, Insurance and Freight Giá trên cơ sở incoterm bao gồm Giá + Vận
chuyển + Bảo hiểm trả tới điểm đến. (Bên
bán chịu các chi phí vận chuyển, bảo hiểm)
DWT : Deadweight Tonnage Đơn vị quốc tế thể hiện trọng tải trong vận
chuyển (tàu thủy) tương đương 1 tấn.
: E- Commerce Thương mại điện tử
EDI : Electronic Data Interchange Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử
: E – Logistics Logistics điện tử
FOB : Free On Board (Trước đây và
tại một số nơi vẫn hiểu là
Freight On Board với ý nghĩa
tương tự)
Giá giao hàng lên tàu (theo incoterm 2010),
theo đó bên mua phải chịu chi phí vận
chuyển, bảo hiểm.
JIT : Just in time Giao hàng đúng thời điểm
GDP : Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội
ICD : Inland Clearance Depot Cảngthông quan nội địa (cảng cạn)

Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không
thể thiếu trong sản xuất, lưu thông và phân phối. Các nghiên cứu gần đây cho thấy,
chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm 10% - 15% GDP ở hầu hết các nước tại
châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á – Thái Bình Dương. Vì vậy, cải thiện hiệu quả hoạt
động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội cho mỗi quốc gia.
Phát triển hệ thống logistics sẽ đảm bảo giải quyết hợp lý các vấn đề về giao thông
vận tải, dịch vụ kho bãi, trung chuyển, hệ thống kiểm soát giá cả và tăng khả năng
cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế.
Đối với doanh nghiệp, logistics giúp các nhà sản xuất tối ưu hóa mọi thao
tác để tiết kiệm nguồn lực, chi phí và thời gian. Hơn nữa, trong quá trình cạnh
tranh giữa những người sản xuất, khi máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất đạt đến
một trình độ nhất định và phổ cập, người có chi phí cho hoạt động logistics thấp
nhất và thỏa mãn được nhu cầu khách hàng nhanh nhất sẽ là người chiếm ưu thế
trong cạnh tranh. Đặc biệt, trong quá trình toàn cầu hóa, việc sản xuất, kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm có liên quan đến nhiều quốc gia xa cách về không gian và
thời gian đã làm cho quá trình sản xuất và sự vận động của hàng hóa trở nên phong
phú và phức tạp hơn thì hoạt động logistics càng trở nên quan trọng, nó trở thành
mối liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu.Vì thế, các nhà quản lý coi
1
logistics như là một công cụ, phương tiện để kết nối hiệu quả các lĩnh vực khác
khau trong chiến lược của doanh nghiệp.
Từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã chủ
động và tích cực từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam
nhưng nó cũng tạo ra rất nhiều thách thức. Với áp lực cạnh tranh ngày cànggay
gắt, không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn ngay cả trên sân nhà. Vì vậy, để nâng
cao hiệu quả kinh tế, cắt giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh, Việt Nam
cần phải khai thác và phát triển logistics.
Tuy nhiên, logistics còn là lĩnh vực khá mới mẻ đối với Việt Nam: những
công ty có tên gọi Logistics mới chỉ xuất hiện vào năm 2007 và ngay cả cách hiểu

đến đề tài Luận án
Khoảng 20 năm trở lại đây, với vai trò ngày càng quan trọng trong việc
quyết định khả năng cạnh tranh, Logistics đã thu hút sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu. Trên thế giới, các nghiên cứu về logistics khá phong phú, liên quan
đến nhiều khía cạnh của logistics vàđược thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau.
Một số nghiên cứu chung về logistics tiêu biểu là:
Các tác giả Douglas M. Lambert, James R. Stock, Lisa M. Ellram (1988)
trong công trình nghiên cứu “Fundermental of Logistics Management” đã trình bày
những vấn đề lý luận nền tảng của quản trị logistics trong doanh nghiệp (khái niệm
logistics, các khâu hoạt động của logistics liên quan đến dịch vụ khách hàng, mua
sắm, gia công, quản lý tồn kho, đóng gói, vận chuyển) và đề cập đến vấn đề
logistics toàn cầu khi doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước ngoài, các vấn đề
liên quan đến vận tải, tài chính, chiến lược, xây dựng, quản lý hệ thống thông tin
và tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động logistics. Nhóm tác giả Donald F.
Wood, Anthony Barone, Paul Murphy, Daniel L. Wardlow (2002) trong công trình
“International Logistics”nghiên cứu về logistics quốc tế liên quan đến dịch chuyển
hàng hóa giữa các bên ở hai hay nhiều quốc gia, phân tích lợi ích của chính phủ
trong thương mại và vận tải quốc tế, lưu ý sự khác biệt quốc gia trong logistics
quốc tế (khác biệt về quản lý, giá trị, thủ tục hải quan ) và đề cập đến các vấn đề
liên quan đến hoạt động logistics quốc tế của doanh nghiệp: vận tải quốc tế, điều
khoản thanh toán, điều kiện bán và giao hàng, các kênh phân phối Tác giả James
S. Keebler (1999) trong công trình “Keeping Score: Measuring the Business Value
of Logistics in the Supply Chain” đã đề cập đến những nhân tố cốt lõi của
logisticsvi mô, đo lường giá trị những hiệu quả mà logistics mang lại cho doanh
nghiệp thông qua Chỉ số hoạt động chủ yếu KPI (Key Performance Indicator).
3
Các nghiên cứu chung về logistics chủ yếu được thực hiện dưới góc độ vi
mô luận giải những vấn đề liên quan đến logistics của doanh nghiệp như: các hoạt
động logistics của doanh nghiệp, kỹ thuật tác nghiệp một khâu hoặc các khâu của
logistics, logistics doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường nước ngoài, đo lường,

Về Logistics Singapore, một số nghiên cứu tiêu biểu là:
Hội đồng nghiên cứu kinh tế Singapore (ERC) đã thực hiện nghiên cứu tổng
thể với tiêu đề “Developing Singapore into a Global Integrated Logistics Hub”
năm 2002. Trên cơ sở phân tích SWOT thực trạng logistics Singapore và phân tích
trường hợp kinh nghiệm London, nghiên cứu này đã đưa ra những chiến lược cơ
bản và các kiến nghị để tăng cường năng lực cạnh tranh của Singapore trở thành
một Trung tâm Logistics toàn cầu. Tác giả Hum Sin Hoon (2008) trong công trình
“Building a Logistics Supply Chain Hub- Singapore” đã điểm lại một số thành quả
của hệ thống Logistics Singapore và qua phân tích SWOT gợi ý về mặt chiến lược
nhằm xây dựng Trung tâm Tích hợp Logistics toàn cầu. Tác giả Pek Hooi Soh và
James Ang (1997) trong nghiên cứu “The Role of the Singapore Government in
National Computerisation” đã phân tích vai trò của Chính phủ Singapore trong
việc tạo dựng xã hội thông tin. Tác giả Zheng Yanchao (2010) trong nghiên cứu
“Use of Information Technology inShipping Logistics - Case of Singapore” đã
thực hiện đánh giá tổng quan về tình trạng sử dụng công nghệ thông tin trong các
dịch vụ logistics vận tải, khẳng định rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin có tác
động gia tăng tính hữu ích (PU) và tính thuận tiện (Peou). Nghiên cứu cũng chỉ ra
các thuận lợi, khó khăn đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời tìm
hiểu những xu hướng phát triển của công nghệ thông tin để từ đó đề xuất các
khuyến nghị cho việc nghiên cứu phát triển công nghệ thông tin trong logistics vận
tải của Singapore.
Tại Diễn đàn Logistics và Dịch vụ cảng biển Việt Nam trong bối cảnh Hội
nhập kinh tế quốc tế, (3/2011) Aloysius Lim đã trình bày nghiên cứu về “Chiến
lược phát triển dịch vụ logistics và cảng biển: Kinh nghiệm từ quốc đảo
Singapore”. Theo tác giả, sở dĩ logistics và ngành cảng biển Singapore phát triển là
do các chính sách khuyến khích phát triển của Chính phủ Singapore. Tuy nhiên,
tác giả mới chỉ đề cập đến những ưu đãi của Chính phủ trong những chính sách về
thuế, hỗ trợ tài chính và nhân lực trong lĩnh vực hàng hải, vận tải biển.Liên đoàn
Logistics và Mua bán Trung Quốc (China Federation of Logistics and Purchasing)
cũng có nhiều nghiên cứu về hệ thống logistics của Singapore như hệ thống cảng

Sabariah Mohamad năm 2008 cũng chỉ ra rằng, “mặc dù có sự bùng nổ đáng kể
của logistics, nhưng có rất ít những nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực logistics
và chuỗi cung ứng, đặc biệt ở Malaysia”. Trong công trình nghiên cứu của mình,
6
các tác giả chỉ ra rằng dù trải qua 2 thập kỷ phát triển, lĩnh vực logistics ở
Malaysia đang còn tồn tại nhiều vấn đề như: chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng
thương mại quốc gia, chi phí logistics còn cao do hạ tầng cơ sở chưa phát triển
cao, dịch vụ logistics và vận tải chưa hiệu quả, các thủ tục hành chính liên quan
đến xuất nhập khẩu còn chậm và tốn kém. Nghiên cứu “The Development of Third
Party Logistics in Malaysia: An Overview” của Salina binti Umar (2004) cũng chỉ
ra rằng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bên thứ 3 (3PL) ở Malaysia đến năm
2004 vẫn mang tính chất của 3PL cổ điển - tức là chủ yếu chỉ cung cấp dịch vụ vận
chuyển, kho bãi và thủ tục hải quan. Nghiên cứu “Reverse Logistics Adoption
among Malaysian Manufacturers” của Nik Ab Halim. Nik Abdullah, Sabariah.
Yaakub và Haim Hilman. Abdullah năm 2011 về logistics ngược chiều của các
luồng sản phẩm trả lại liên quan đến việc tái chế, phục hồi đóng gói. Nghiên cứu
đã kết luận, logistics “ngược chiều” đem lại ích lợi đối với nhà sản xuất và nó có
tác dụng lan tỏa: hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đến quản trị logistics
ngược song ở vùng phía bắc củaMalaysiavà thung lũng K’Lang còn nhiều doanh
nghiệp ít quan tâm đến vấn đề này.
Việc nghiên cứu về kinh nghiệm của Malaysia là hữu ích giúp cho những
nước đi sau, trong đó có Việt Nam nhận thức được về tiến trình phát triển logistics
và rút ra bài học để thúc đẩy ngành logistics còn non trẻ của Việt Nam phát triển.
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu về logistics ASEAN:
Jan Tomczyk, Lê Triệu (2011) trong công trình“Báo cáo nghiên cứu về
Logistics Thương mại tại Việt Nam và ASEAN”(MUTRAP)đã phân tích những
vấn đề của logistics thương mại quốc tế ở Việt Nam và ASEAN liên quan đến việc
quản lý dòng hàng hóa quốc tế và các chứng từ, thủ tục thanh toán với mục đích
cắt giảm chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến logistics thông qua đơn giản
hóa, hài hòa hóa các thủ tục và chứng từ. Tác giả Ruth Banomyonga, P. Cookb and

đánh giá năng lực logistics Việt Nam qua 4 yếu tố cấu thành hệ thống logistics và
kiến nghị giải pháp cũng như lộ trình phát triển logistics ở Việt Nam nhằm tăng
cường tạo thuận lợi thương mại và giao thông. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu
chỉ phân tích về định tính 4 yếu tố cấu thành hệ thống logistics của Việt Nam.
Một công trình nghiên cứu được coi là chuyên sâu nhất về logistics ở Việt
Nam hiện naylà đề tài độc lập cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước
ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” do GS. TS. Đặng Đình Đào(Viện Nghiên
cứu Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân) làm chủ nhiệm đề tài.
GS. TS. Đặng Đình Đào đãchủ biên 2 cuốn sách chuyên khảo “Logistics – Những
8
vấn đề lý luậnvà thực tiễn ở Việt Nam” (2011) và “Dịch vụ logistics ở Việt Nam
trong tiến trình hội nhập quốc tế”(2012)tập hợp các báo cáo khoa học về các nội
dung chủ yếu của đề tài liên quan đến dịch vụ logistics: khái niệm dịch vụ
logistics, vai trò logistics, tiêu chí đánh giá dịch vụ logistics,các quy định pháp lý
liên quan đến phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam, đầu tư phát triển hạ tầng cơ
sở cho logistics, quá trình phát triển và thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam,
cơ hội, thách thức và giải pháp phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập. Kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia: Nhật Bản,
Trung Quốc, Singapore và Thái Lan cũng được đề cập trong nội dung cuốn sách
thứ 2, tuy nhiên phần nghiên cứu về thực trạng và kinh nghiệm phát triển logistics
ở các quốc gia này chỉ ở mức khái quát do không phải là nội dung nghiên cứu chủ
yếu.
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên cho thấy, trên thế giới và ở các quốc
gia ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan, logistics đã được quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về logistics thường được thực hiện dưới
góc độ logistics vi mô của doanh nghiệp. Những nghiên cứu trên góc độ vĩ mô về
logistics thường chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể như: chi phí logistics, tình
hình ứng dụng công nghệ thông tin, vai trò của chính phủ, hay về hoạt động của
các công ty cung cấp dịch vụ 3PL. Các nghiên cứu đều cho rằng logistics có vai trò
rất quan trọng đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế và hướng tới mục đích

những tồn tại, hạn chếvà nguyên nhân của tình trạng đó.
- Đưa ra phương hướng và một số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt
Nam.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, Luận án có nhiệm vụ giải quyết các câu
hỏi nghiên cứu sau:
1. Logistics là gì? Vì sao trong những thập kỷ gần đây, các doanh nghiệp và các
chính phủ lại đặc biệt quan tâm phát triển logistics? Sự hình thành và phát
triển ngành dịch vụ logistics diễn ra như thế nào?
2. Nội dung và các tiêu chí đánh giá sự phát triển logistics của một quốc gia là gì?
3. Logistics ở Singapore, Malaysia và Thái Lan phát triển như thế nào? Nguyên
nhân phát triển, điểm mạnh, điểm yếu?
10
4. Những bài học kinh nghiệm nào có thể rút ra từ thực tế phát triển logistics của
Singapore, Malaysia và Thái Lan?
5. Thực trạng phát triển logistics Việt Nam như thế nào? Những vấn đề hạn chế
là gì? Nguyên nhân?
6. Cần làm gì để thúc đẩy logistics phát triển nhanh, hiệu quả ở Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là những vấn đề về phát triển logistics ở
Singapore, Malaysia, Thái LanvàViệt Nam trên giác độ vĩ mô. Luận án đề cập đến
các vấn đề lý luận và thực tiễn về logistics, về phát triển logistics quốc gia ở giác
độ vĩ mô: thực trạng phát triển các yếu tố cấu thành hệ thống logistics ở các quốc
gia nghiên cứu, nguyên nhân của thành công và hạn chế trong phát triển logistics ở
Singapore, Malaysia, Thái Lan, bài học kinh nghiệm rút ra và đưa ra đề xuất nhằm
phát triển logistics ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
• Về giác độ tiếp cận: Luận án tiếp cận nghiên cứu sự phát triển
logistics dưới giác độ vĩ mô dựa trên hệ thống logistics quốc gia gồm 4 yếu tố: hạ

Nam. Nguồn tài liệu về nước ngoài được lựa chọn sử dụng chủ yếu từ các sách và
tư liệu quốc tế về logistics, từ các Cổng thông tin điện tử chính thức của Chính phủ
hoặc các Ủy ban phát triển hoặc Bộ ban ngành có liên quan ở Singapore,
Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc, Indonesia, Phần Lan. Các số liệu, dữ liệu,
thông tin được kiểm tra, đối chiếu, so sánh để đảm bảo tính tin cậy cao. Đặc biệt,
Luận án chú trọng làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu trên cơ sở phân tích hệ thống
chỉ số năng lực logistics (LPI) mà WB công bố đảm bảo độ tin cậy cao.
Phương pháp phân tích dữ liệu: Luận án sử dụng phương pháp phân tích
định tính là chủ yếu, trong đó bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương
pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp phân tích so sánh. Đặc biệt, Luận án
còn sử dụng phương pháp phân tích SWOT khi đánh giá thực trạng logistics của
từng quốc gia được đề cập.
6. Đóng góp mới của Luận án
So với tình hình nghiên cứu hiện nay như đã nói ở trên thì Luận án có một
số đóng góp như sau:
12
Thứ nhất, tạo dựng cơ sở lý luận về logistics trên quan điểm lịch sử và toàn
diện. Với phương pháp phân tích lịch sử và toàn diện, Luận án lý giải một cách dễ
hiểu những vấn đề cơ bản như: bản chất của logistics, vì sao cần phát triển
logistics,sự hình thành và phát triển ngành dịch vụ logistics, các yếu tố cấu thành
hệ thống logistics quốc gia và nội dung phát triển logistics quốc gia;
Thứ hai, phân tích thực trạng phát triển của logistics ở một số nước Đông
Nam Á (Singapore, Malaysia, Thái Lan) một cách khá toàn diện với nội dung
phong phú, đồng thời chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thành công
và những hạn chế trong sự phát triển logistics ở các quốc gia này.
Thứ ba, Luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển logistics từ
thực trạng phát triển logistics của 3 quốc gia được nghiên cứu, đồng thời, đối chiếu
với điều kiện của nước ta để đánh giá khả năng áp dụng các bài học đó cho Việt
Nam;
Thứ tư, đánh giá tổng quan thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam, chỉ ra

phổ cập, thì người có chi phí cho các hoạt động phục vụ sản xuất và lưu thông thấp
nhất và hợp lý nhất sẽ là người chiến thắng trong quá trình cạnh tranh.
Các hoạt động phục vụ sản xuất và lưu thông ngày càng có vai trò quan
trọng đối với người sản xuất để giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, cũng như tăng khả năng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Những
hoạt động này vào những năm 90 của thế kỷ XX được phổ biến gọi là logistics
(theo tiếng Anh) ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hàng loạt các công ty kinh doanh
logistics đã hình thành, trong đó có những công ty thành lập mới và có cả các công
ty được hình thành trên cơ sở các công ty vận tải, giao nhận trước kia. Thậm chí,
nhiều quốc gia không sử dụng tiếng Anh nhưng cũng dùng “logistics” như một từ
ngoại nhập khi nói đến các hoạt động kinh tế này.
Thực ra, thuật ngữ logistics ban đầu được sử dụng trong quân đội. Ở Mỹ,
thuật ngữ logistics được sử dụng trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2 để nói đến
quá trình quản lý việc vận chuyển quân khí, bổ sung, dự trữ khí tài quân dụng
14
nhằm giúp một chiến dịch thành công. Muốn một chiến dịch thành công, phải có
cách thức tổ chức quản lý lưu thông để cung cấp quân khí phục vụ cho chiến dịch -
hoạt động này gọi là logistics management (quản trị logistics). Quản trị logistics có
vai tṛ vô cùng quan trọng nhằm có đủ quân, đủ khí tài vào thời điểm cần thiết huy
động trong khi phải đảm bảo nguyên tắc bí mật của chiến dịch - yếu tố quyết định
thành công của cuộc chiến.Sau đại chiến thế giới thứ 2, thuật ngữ logistics được
người Mỹ vay mượn dùng trong quản lý xí nghiệp và gọi là logistics xí nghiệp
(business logistics). Logistics xí nghiệp dùng để chỉ sự quản lý tổng hợp của các
hoạt động như cung ứng nguyên nhiên vật liệu, vận chuyển, lưu trữ của xí nghiệp
sản xuất, kinh doanh.
Tóm lại, hoạt động logistics không phải đến cuối thế kỷ XX mới xuất hiện
(như nhiều người quan niệm) mà nó ra đời và phát triển gắn liền sự ra đời và phát
triển của sản xuất hàng hóa hàng mấy trăm năm nay với bản chất là những hoạt
động quản lý phục vụ quá trình sản xuất và phân phối, lưu thông như: khai thác
nguyên liệu, thu gom, vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, vận chuyển thành phẩm,

là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu
tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người
bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh
tế” [93,tr.5]. Quan niệm này ngay từ đầu nhấn mạnh mục đích của các hoạt động
logistics, bên cạnh việc liệt kê các hoạt động logistics cơ bản. Mục đích tối ưu hóa
về vị trí, lưu trữ và vận chuyển là khác biệt cơ bản giữa hoạt động logistics và các
hoạt động kinh tế khác, nên việc nhấn mạnh mục đích này là hợp lý khi định nghĩa
logistics. Tuy nhiên, định nghĩa này không bao quát hết nội hàm của khái niệm
logistics, nó mới chỉ liệt kê đến các hoạt động liên quan đến yếu tố đầu vào, tài
nguyên mà chưa chỉ rõ được hoạt động lưu kho, vận chuyển hàng hóa và cả các
yếu tố phi vật chất như thông tin qua từng khâu của quá trình sản xuất, lưu thông
và đến với người tiêu dùng.
Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward
Frazelle thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền
tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng” [75,tr.6]. Đây là một định
nghĩa ngắn gọn, nhấn mạnh khía cạnh lưu chuyển thông tin và tiền tệ trong
logistics, nhưng theo chúng tôi, định nghĩa như vậy chưa đầy đủ. Từ “vật tư” theo
16
từ điển tiếng Việt được hiểu là các thứ vật liệu, máy móc, công cụ cần cho sản
xuất, xây dựng nói chung, như vậy nó hẹp hơn đối tượng mà nội hàm hoạt động
logistics tác động. Hơn nữa, định nghĩa này chưa nói được mục đích của hoạt động
logistics.
Một định nghĩa về logistics được dùng tương đối phổ biến là “Logistics là
có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất” [100,tr.6]. Mặc dù được
dùng tương đối phổ biến, song đây không phải là một định nghĩa chuẩn bởi vì nó
không nói được nội hàm, nội dung các hoạt động, nghiệp vụ của khái niệm này
(định nghĩa này chỉ cho chúng ta thấy được mục đích của logistics mà thôi). Việc
dùng định nghĩa này cũng là một trong các nguyên nhân làm cho logistics trở nên
mơ hồ, dẫn đến sự thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn về logistics.
Tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status