tiểu luận đánh giá mức độ nhận diện thương hiệu mạng di động beeline của sinh viên trường đại học kinh tế - huế - Pdf 12

1
Tiểu luận

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHẬN DIỆN THƯƠNG
HIỆU MẠNG DI ĐỘNG BEELINE CỦA SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
2
MỤC LỤC

Phần I: Đặt vấn đề 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu 3
1.5. Đóng góp của đề tài 3
Phần II.Nội dung nghiên cứu 4
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
1. Cơ sở lí luận 4
1.1 Khái niệm thương hiệu 4
1.2 Tài sản thương hiệu 4
1.3 Nhận biết thương hiệu 5
1.4 Vai trò của thương hiệu trong kinh doanh 5
2. Cơ sở thực tiễn 7
2.1 Tình hình mạng di động trên thị trường Việt Nam 7
2.2 Tổng quan về môi trường kinh doanh mạng di động ở tỉnh Thừa Thiên Huế 11

hệ thống nhận diện thương hiệu Beeline 33
4
3.5 Mối quan hệ giữa việc hài lòng và hành vi chuyển đổi sang nhà mạng
khác trong tương lai 34
Chương 4 : Hạn chế và giải pháp 36
4.1 Hạn chế 36
4.2 Giải pháp 38
Phần III: Kết luận
5
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU
MẠNG DI ĐỘNG BEELINE CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - HUẾ
Phần I: Đặt vấn đề
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cuộc sống của con người ngày càng được nâng
cao và dễ dàng tiếp cận với nhiều công nghệluận văn - báo cáo - tiểu luận - tài liệu
chuyên ngành Công Nghệ hiện đại, tiên tiến. Trên thực tế những công nghệ đó
mang đến rất nhiều lợi ích cho con người trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Một
vấn đề quan trọng trong những lĩnh vực đó là việc liên lạc giữa con người với
nhau, ngày nay việc sở hữu một chiếc điện thoại di động không còn là một việc
quá khó khăn đối với mọi người. Hầu hết ai cũng có thể mua cho mình một chiếc
di động, nhưng vấn đề sử dụng mạng di động nào cho phù hợp luôn được mọi
người quan tâm. Nắm bắt được thị hiếu đó, các nhà cung cấp dịch vụ mạng di
động xuất hiện ngày càng nhiều và song song với việc cải tiến chất lượng, công
nghệ nhằm thu hút khách hàng, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường
cung cấp mạng di động trong nước.
Bên cạnh những nhà cung cấp dịch vụ mạng di động trong nước đã xuất hiện
sớm như: Mobifone, Vinaphone, Viettel, SFone… thì mới đây, lần đầu tiên một
nhà cung cấp dịch vụ mạng di động của nước ngoài đã đầu tư luận văn - báo cáo -
tiểu luận - tài liệu chuyên ngành Đầu tư vào Việt Nam Thư Viện Điện Tử Trực

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là thương hiệu Mạng di động Beeline của Công ty
Viễn thông Toàn cầu (Gtel)
Đối tượng điều tra của đề tài được giới hạn trong phạm vi là sinh viên của
trường ĐH Kinh Tế Huế, không phân biệt đã sử dụng hay chưa sử dụng mạng di
động Beeline
Phạm vi nội dung: Tập trung chủ yếu nghiên cứu đánh giá mức độ nhận biết
thương hiệu của khách hàng là sinh viên ĐH Kinh Tế Huế đối với sản phẩm là
mạng di động Beeline
Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu trong 3 tháng, 2/2011-5/2011.
7
1.4. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập dữ liệu
Số liệu thứ cấp:
Thu thập các thông tin liên quan đến nhà mạng Beeline thông qua Internet và
sách báo
Số liệu sơ cấp: phương pháp điều tra phỏng vấn cá nhân bằng bảng hỏi
+ Quy trình chọn mẫu điều tra:
Kỹ thuật chọn mẫu, để đảm bảo không trùng lặp khi điều tra, nhóm tiến hành
bốc thăm ngẫu nhiên 170 mẫu từ tổng thể để điều tra.
 Số phiếu phát ra:170
 Số phiếu thu về:160
 Số phiếu hợp lệ:145
+ Phương pháp phân tích dữ liệu:
Tiến hành điều tra thử 30 mẫu tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo
bằng Cronbach- Alpha.
Phân tích thông kê mô tả cho một biến định tính: sử dụng bảng tần số và đồ thị.
Để kiểm định mức độ nhận biết thương hiệu Beeline với Test- Value= 3.5 sử
dụng kiểm định One Sample T-Test với độ tin cậy 95%.
Sử dụng thống kê mô tả thể hiện mức độ nhận biết thương hiệu Beeline của

1.2 Tài sản thương hiệu
 Philip Kotler: “Tài sản thương hiệu là giá trị gia tăng thêm vào sản phẩm
dịch vụ. Giá trị này thể hiện qua cách khách hàng suy nghĩ, cảm nhận, hành
động có tính chất tích cực đối với thương hiệu và qua khả năng định giá
cao, giành thị phần, và khả năng sinh lời mà thương hiệu có thể mang lại
cho doanh nghiệp”.
 David Aaker: Tài sản thương hiệu là một tập hợp các tài sản vô hình gắn
liền với tên và biểu tượng của một thương hiệu, nó góp phần làm tăng thêm
hoặc giảm đi giá trị của một sản phẩm hoặc dịch vụ đối với công ty và
khách hàng của công ty.
9
1.3 Nhận biết thương hiệu
Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua
sắm và là một tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu. Một
thương hiệu càng nổi tiếng thì càng dễ dàng được khách hàng lựa chọn. Tuy vậy,
việc quảng bá thương hiệu cũng rất tốn kém nên việc hiểu rõ được mức độ ảnh
hưởng của sự nhận biết đến tiến trình lựa chọn sản phẩm sẽ giúp cho các doanh
nghiệp có được các thức xây dựng thương hiệu đạt hiệu quả cao với một chi phí
hợp lý hơn.
Sự nhận biết thương hiệu được tạo ra từ các chương trình truyền thông như
quảng cáo, quan hệ cộng đồng, khuyến mãi, bán hàng cá nhân hay tại nơi trưng
bày sản phẩm. Mức độ nhận biết thương hiệu có thể chia ra làm 3 cấp độ khác
nhau. Cấp độ cao nhất chính là thương hiệu được nhận biết đầu tiên. Cấp độ kế
tiếp là không nhắc mà nhớ. Cấp độ thấp nhất là nhắc để nhớ
1.4 Vai trò của thương hiệu trong kinh doanh
Ngày nay chúng ta nghe nói đến thương hiệu và việc xây dựng thương hiệu
nhiều đến mức nó trở thành ngôn ngữ thời thượng nhất trong kinh doanh. Tuy
nhiên, hiểu được thực chất thương hiệu có vai trò như thế nào đối với kinh doanh
trên thực tế không có mấy người.
Đối với các doanh nghiệp, việc sở hữu một thương hiệu mạnh có giá trị rất

với sản phẩm và vì vậy tính ổn định về lượng khách hàng hiện tại là rất cao. Hơn
nữa, thương hiệu mạnh cũng có sức hút rất lớn với thị trường mới, tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường và thu hút khách hàng tiềm năng,
thậm chí còn thu hút cả khách hàng của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh.
Điều này đặc biệt có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thương hiệu giúp các
doanh nghiệp này giải được bài toán hóc búa về thâm nhập, chiếm lĩnh và mở rộng
thị trường.
Thứ ba, với một thương hiệu mạnh, doanh nghiệp sẽ có được thế đứng vững
chắc trong các cuộc cạnh tranh khốc liệt của thị trường về giá, phân phối sản
phẩm, thu hút vốn đầu tư, thu hút nhân tài… Một trong những khó khăn hiện nay
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là vốn thì thương hiệu chính là một cứu cánh của
họ trong việc thu hút đầu tư từ bên ngoài. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ rất ít nhà
đầu tư dám liều lĩnh và mạo hiểm với đồng vốn của mình khi quyết định đầu tư
vào một doanh nghiệp chưa có thương hiệu. Vì rõ ràng là việc đầu tư vào một
doanh nghiệp chưa có tên tuổi, chỗ đứng trên thị trường sẽ có xác suất rủi ro rất
cao.
Ngoài ra, nhãn hiệu thương mại của doanh nghiệp khi đã thực hiện đăng ký
sẽ được đặt dưới sự bảo hộ của pháp luật chống lại những tranh chấp thương mại
do các đối thủ cạnh tranh làm hàng “nhái”, hàng giả.
11

Thứ tư, trước nhu cầu đời sống và mức thu nhập ngày càng cao, nhận thức về
thương hiệu của người tiêu dùng Việt Nam đã cao hơn nhiều so với trước đây.
Thương hiệu chính là yếu tố chủ yếu quyết định khi họ lựa chọn mua sắm, bởi
thương hiệu tạo cho họ sự an tâm về thông tin xuất xứ, tin tưởng vào chất lượng
sản phẩm, tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin, giảm rủi ro. Vì vậy, nếu muốn
chiếm lĩnh thị trường và phát triển sản xuất- kinh doanh, doanh nghiệp cần đầu tư
bài bản cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu.
Thứ năm, một thương hiệu mạnh có thể làm tăng lợi nhuận và lãi cổ phần.
Xem xét bất kỳ một nhãn hiệu nào trong số những thương hiệu hàng đầu thế giới

VinaPhone, MobiFone và cuối cùng là liên danh giữa EVN Telecom và Hanoi
Telecom.
Ngày 13/8/2009, là ngày Bộ chính thức trao giấy phép cho các mạng cung cấp 3G
Bảy tháng đầu năm 2009, Việt Nam có thêm 24,9 triệu thuê bao điện thoại, đưa
tổng số thuê bao điện thoại của cả nước lên tới 106,2 triệu.
2.1.1 Thuê bao di động VN nhiều thứ 7 thế giới
Mất một thời gian khá dài với chiến lược phát triển thuê bao bằng chạy đua
giảm cước, khuyến mại khủng, giờ các mạng di động lớn nhỏ đều chung quan
điểm, cước di động của Việt Nam không thể giảm được nữa. Thay vào đó, người
dùng cần được doanh nghiệp ưu đãi bằng chất lượng và dịch vụ nội dung phong
phú.
Chia sẻ thông tin tại tọa đàm "Viễn thông - Internet Việt Nam 10 năm triển
khai Chỉ thị 58" diễn ra hôm qua, 27/10, ông Bùi Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm
Thông tin và Quan hệ công chúng thuộc VNPT cho biết, Việt Nam đang nằm
trong top 10 quốc gia có số lượng thuê bao di động nhiều nhất thế giới. Cụ thể,
Việt Nam đang đứng ở thứ 7, trước cả Nhật Bản và Đức.
Theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện tổng số thuê
bao điện thoại trên toàn mạng Việt Nam là 156,1 triệu, trong đó di động chiếm
90,32%, tương đương với hơn 140 triệu thuê bao; mật độ đạt 180,7 máy/100 dân.
Thế nhưng, một con số khác được công bố lại khiến phải suy ngẫm. Đó là,
mặc dù số thuê bao di động lớn song doanh thu trung bình trên thuê bao (ARPU)
của Việt Nam hiện nay lại quá thấp. Ông Việt tiếp tục đưa ra con số: ARPU trên
thế giới hiện nay khoảng 17USD/ thuê bao. Châu Á 10USD, châu Phi khoảng 9,8
USD. Việt Nam chỉ trên dưới 3USD/thuê bao.
13

 Những bất ổn từ sự phát triển nóng
Nhiều quan điểm chia sẻ tại toạ đàm cho rằng, những con số mâu thuẫn nêu
trên xuất phát từ nguyên nhân thị trường di động nói riêng và viễn thông của Việt
Nam nói chung thời gian qua đã có sự phát triển quá nóng.

không cao hề cao, vì phải chia sẻ cho nhiều khách hàng để nhằm mục tiêu có thuê
bao. Dường như đã thực sự hụt hơi, nên theo ông Hùng, các nhà mạng nhỏ hiện
giờ chỉ có thể tập trung thu hút khách hàng bằng cách cải thiện các dịch vụ gia
tăng và nâng cấp chất lượng mạng lưới.
Ngay cả đại diện của mạng di động có thâm niên phát triển lâu nhất trên thị
trường là MobiFone cũng đồng quan điểm trên. Theo ông Nguyễn Đình Chiến,
Phó giám đốc kinh doanh của MobiFone, giá cước dịch vụ di động hiện đã tiệm
cận giá thành, chỉ có giảm nữa nếu doanh nghiệp có khả năng quản trị kinh doanh
hiệu quả hơn. Và giờ, việc MobiFone tập trung lớn nhất cũng chính là tăng cường
chất lượng và liên tục có những dịch vụ gia tăng mới phục vụ khách hàng.
152.2 Tổng quan về môi trường kinh doanh mạng di động ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Trên địa bàn Thừa Thiên Huế hiện nay có 7 đơn vị chủ quản mạng thông tin
di động triển khai phát triển hạ tầng trạm BTS, bao gồm: Vinaphone (VNPT),
MobiFone (VNPT), Viettel, EVN-Telecom, SFone, Vietnamobile
(HanoiTelecom), GTel – Beeline (Toàn Cầu).
Tổng số thuê bao của tất cả các mạng di động là 163.240 máy (chiếm 59%
máy điện thoại), đạt mật độ 22,69 máy/100 dân. Sự ra đời của HanoiTelecom đã
làm phong phú hơn thị trường di động, đáp ứng nhu cầu sử dụng.
Người dân huế sử dụng điện thoại di động ngày càng tăng lên rõ rệt qua các
năm với tốc độ tăng năm 2010 là 187,67%. Trong đó thị phần thuê bao di động
của Viettel tăng nhanh nhất
Tổng số các trạm điện thoại di động đã phát sóng trên địa bàn tính đến hết
tháng 7 năm 2010 là: 859/764 trạm BTS (có 95 trạm BTS dùng chung). Trong đó
Vinaphone: 150 trạm; MobiFone: 255; Viettel: 283, EVN Telecom: 52, Sfone: 15,
VietnamMobile: 60 trạm, Gtel: 44 trạm. Các trạm BTS này được phân chia theo
khu vực: Huyện A Lưới: 52 trạm; Huyện Nam Đông: 30 trạm; Huyện Hương Trà:
87 trạm; Huyện Phong Điền: 100 trạm; Huyện Phú Lộc: 103 trạm; Huyện Phú

đã chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Tài
nguyên Môi trường để xác định các mục tiêu, quan điểm, định hướng xây dựng
trạm BTS để tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quy trình cấp phép xây dựng
trạm BTS với tiêu chí :
- An toàn về tính mạng và tài sản của người dân sống quanh khu vực trạm
BTS.
- Bảo đảm mỹ quan đô thị.
- Mỗi trạm BTS phải dùng chung tối thiểu cho 03 nhà mạng di động.
- Tăng chất lượng phủ sóng di động cho người tiêu dùng. 17

Chương 2: Đánh giá sự nhận biết của khách hàng đối với
thương hiệu Beeline
2.1 Tổng quan về nhà cung cấp mạng Beeline
2.1.1 Mạng Beeline quốc tế
VimpelCom - chủ sở hữu nhà mạng Beeline là một trong những nhà cung cấp
dịch vụ viễn thông lớn trên thế giới. Hãng này hiện đang cung cấp dịch vụ viễn
thông băng rộng, di động và điện thoại cố định ở Nga, Ukraine, Kazakhstan,
Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Georgia, Kyrgyzstan, Việt Nam, Cambodia, Lào,
Algeria, Bangladesh, Pakistan, Burundi, Zimbabwe, Namibia, Cộng hòa Trung
Phi, Italia và Canada.
Được thành lập từ năm 1993, đến nay, sau 16 năm hoạt động, Beeline được
đánh giá là một trong những thương hiệu mạnh nhất trên thế giới. Năm 2005,
Beeline đã tiến hành một cuộc cải cách thương hiệu và một chiến dịch ra mắt mới
gắn với phương châm “tươi sáng”, “thân thiện”, “hiệu quả”, “đơn giản” và “tích
cực”. Cuộc cải cách này đã mang lại những thành công lớn cho Beeline. Từ đó,
hình ảnh Beeline với hình tròn 2 sọc vàng, đen xen kẽ đã trở nên quen thuộc với
người dân trên toàn thế giới.

Trung Á, GTEL Mobile là công ty liên doanh chuyên cung cấp các dịch vụ thoại
và truyền số liệu trên công nghệ GSM/EDGE. Sự ra đời của GTEL Mobile xuất
phát từ thỏa thuận thành lập một liên doanh viễn thông tại Việt Nam được ký kết
với tập đoàn VimpelCom vào cuối năm 2007. GTEL Mobile không chỉ là một
doanh nghiệp hoạt động vì mục đích kinh tế đơn thuần mà đây còn là sự kết hợp
các nhân tố quốc tế nhằm mang lại trào lưu và phong cách truyền thông mới cho
người dân Việt Nam.
Để triển khai hệ thống mạng GSM, GTEL Mobile đã hợp tác với rất nhiều
công ty viễn thông nổi tiếng. Trong đó, phải kể đến những công ty hàng đầu thế
giới như: Alcatel Lucent, Ericsson, Huawei, Comverse, Avaya và IBM.
GTEL Mobile sẽ sử dụng thương hiệu “Beeline VN” để ra mắt tại thị trường viễn
thông Việt Nam.
Vùng phủ sóng: Hiện tại Beeline đã phủ sóng 50 tỉnh thành bao gồm:
5 thành phố chính: Hà Nội, Đã Nẵng, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ và 45
tỉnh thành trên cả nước:
- Miền Bắc: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định,
Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vĩnh
Phúc
19

- Miền Trung: Bình Định, Dak Lak, Gia Lai, Hà Tĩnh, Huế, Khánh Hòa, Nghệ An,
Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị
- Miền Nam: An Giang, Bà Rịa Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình
Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang,
Lâm Đồng, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh,
Vĩnh Long.
Với những phương châm đã chiếm trọn được trái tim của hàng triệu người
trên thế giới như “thân thiện”, “hiệu quả”, “đơn giản”, “tích cực”, Beeline VN tin
tưởng sẽ trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy của khách hàng. Với khẩu
hiệu “live on the bright side”, chúng tôi mong muốn đem lại một xu hướng mới và

lĩnh vực mạng viễn thông di động đã có được vị thế trên thương trường cũng như
vị trí nhất định trong tâm trí người tiêu dùng trong nhiều năm qua. Vậy thì vấn đề
đặt ra là hướng đi nào, mô hình tiếp thị nào cho “người đến sau”? Hơn nữa trong
thời điểm mà tác động và ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh tế thế giới là rất
lớn, đây là một thách thức cho người mới gia nhập! Sự xuất hiện của Beeline là
một thương hiệu mạng viễn thông di động lớn hoạt động mạnh tại các quốc gia và
vùng lãnh thổ Đông Âu và Trung Á đã gây “sốt” đối với thị trường và cộng đồng
trong những tháng vừa qua.
Chỉ sau hơn 1 tháng gia nhập thị trường, Beeline đã kịp “khuấy động” thị
trường viễn thông và gây chú ý trong giới marketing, nhanh chóng có được sự
nhận biết cao (78% độ nhận biết thương hiệu – CBI) cũng như những phản hồi
tích cực từ thị trường, với kết quả TVC được yêu thích nhất của tạp chí Marketing,
Thành Đạt, kết quả nghiên cứu thị trường của CBI & FTA. Điều đó chứng tỏ
Beeline có được một nền tảng chiến lược khá vững chắc, hay nói đúng hơn là một
mô hình marketing phức hợp dựa trên những nguyên lý marketing hiện đại trong
việc hoạch định và tìm ra một đối sách cạnh tranh hiệu quả và phù hợp theo phong
cách của mình.
Ngày nay không thể phủ nhận vai trò, tầm ảnh hưởng và sự ứng dụng của
marketing trong các lĩnh vực khác nhau. Có thể dễ dàng nhận thấy qua những thập
kỷ gần đây, hầu hết các doanh nghiệp thành công và phát triển bền vững là những
doanh nghiệp định hướng marketing (marketing oriented company). Marketing
hiện đại thông qua mô hình 7P với xu hướng nâng cao vị thế của marketing trong
quản trị doanh nghiệp và quản trị tổ chức, đã được thể hiện thế nào trong trường
hợp tung sản phẩm Beeline.
21

2.2.1Các hoạt động xúc tiến quảng bá của Beeline

phối mới tại thị trường Việt Nam là các quầy bán hàng di động được thiết kế đặc
biệt theo chuẩn Beeline quốc tế. Các cửa hàng chính thức của Beeline sẽ được
khai trương vào năm sau tại các thành phố lớn. Điều thú vị ở đây là các điểm bán
22

hàng lưu động Beeline với thiết kế bắt mắt được đặt trên các đường phố lớn, rất dễ
dàng tiếp cận đối tượng mục tiêu và đây cũng là nét mới lạ, sáng tạo trong hoạt
động marketing ở Việt Nam.
Quảng bá hay truyền thông nhằm mục đích đối thoại ra bên ngoài cho người
tiêu dùng, thị trường và cộng đồng nhận biết và cảm nhận được thông điệp chủ
đạo của thương hiệu một cách tốt nhất, nhưng đây cũng là hoạt động tốn nhiều chi
phí nhất! Thương hiệu mạng di động Beeline thể hiện tính tích hợp và đồng bộ cao
với chiến dịch truyền thông tạo ra hiệu ứng tương tác tốt nhất giữa thương hiệu và
nhóm khách hàng mục tiêu bằng cách tối ưu hóa các điểm tiếp xúc thương hiệu
(Brand touch points) thông qua các kênh truyền thông như: Quảng cáo TV, Quảng
cáo Báo, Quan hệ công chúng, Kích hoạt thương hiệu, Sự kiện tiếp thị…Chương
trình xây dựng độ phủ thương hiệu (Brand visibility) bằng cách trang trí vật phẩm
quảng cáo tại các kênh bán hàng, các biển quảng cáo ngoài trời như signboard,
billboard… cũng diễn ra một cách nhất quán.
 Con người & Hệ thống (People & Process)
Đây là nhóm chiến lược thể hiện tinh thần cơ bản của quản trị hiện đại đó là
yếu tố Con người và yếu tố Hệ thống, có thể ví đây như là “phần chìm của một
tảng băng”. Con người hay Nhân sự là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc
hoạch định, thực thi và quản lý các chiến lược của doanh nghiệp hướng đến xây
dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng và các bên hữu quan.
Qui trình hệ thống hay tính chuyên nghiệp nhằm chuẩn hóa bộ máy hoạt
động cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy qua các
hoạt động marketing trong thời gian qua, nói cách khác những gì thấy được từ
“phần nổi của tảng băng” ít nhiều chúng ta có thể hình dung được sự chuyên
nghiệp của Beeline VN.

Tuổi
Giới tính
Tổng Nữ Nam
19 18 6 24
20 12 11 23
21 21 15 36
22 25 19 44
23 8 10 18
Tổng 84 61 145
(Nguồn: Sử lý số liệu SPSS)
Tỷ lệ nam và nữ khá đồng đều, xấp xỉ 50% là điều kiện tốt cho việc điều tra
được khách quan hơn và làm đa dạng hơn kết quả nghiên cứu.
Nhìn chung, đối tượng điều tra đồng đều về mặt trình độ và đọ tuổi vì đều là
sinh viên của trường kinh tế.
3.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Tiến hành điều tra thử 30 bảng hỏi để kiểm định độ tin cậy của thang đo.
Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach Alpha với các chỉ tiêu về: mức độ
quen thuộc, yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nhà mạng . Từ đó đưa ra dạng kiểm
định.
Bảng 2 : Kiểm định thang đo
Chỉ tiêu Hệ số Cronbach- Alpha
Về chỉ tiêu mức độ quen thuộc .887
Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nhà mạng .893
(Nguồn: Sử lý số liệu SPSS)
Ghi chú: 0,8<α<1: Thang đo tốt.
25

0,7<α<0,8: Thang đo sử dụng được.
Nhận xét:
Ta thấy tất cả các chỉ tiêu đều có hệ số Cronbach-Alpha > 0,8 với thang đo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status