Kinh nghiệm trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp phần mềm trung quốc và Ấn Độ. Bài học cho Việt Nam - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
oOo
KHÓA LUẬN
ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN:
“Kinh nghiệm nâng cao giá trị sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành gia
công phần mềm Ấn Độ , Trung Quốc. Bài học cho ngành gia công phần mềm Việt Nam.”
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thế Anh
Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Mỹ Hạnh
Lớp : Anh3- K44- KT&KDQT
Hà Nội - 2009
Lời mở đầu
1
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang nổi lên là một trong những địa điểm
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài về dịch vụ gia công phần mềm. Những năm
vừa qua, ngành công nghệ thông tin của Việt Nam nói chung, và ngành gia công phần
mềm nói riêng đã đạt được mức tăng trưởng nhanh khó tin. Tuy mức tăng trưởng nhanh
nhưng giá trị tạo ra của lĩnh vực này chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của nó, do
các doanh nghiệp hiện nay mới chỉ tập trung và tham gia được vào các công đoạn yêu cầu
trình độ thaaps, còn các công đoạn đòi hỏi trình độ cao hơn thì lại chưa được đầu tư chú
trọng phát triển thích đáng, chính vì vậy giá trị tạo ra của lĩnh vực gia công phần mềm
vẫn còn chưa được cao.
Trong khi đó, nếu nhìn vào các thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, chúng ta có
thể thấy đây là những thị trường có quy mô tương tự chúng ta, nhưng họ đã phát triển
cách chúng ta khá xa. Vậy những tồn tại nào đang cản trở chúng ta trên còn đường trở
thành một Ấn Độ thứ 2 và kinh nghiệm nào có thể học hỏi đựợc từ hai quốc gia được coi
là điểm nóng của thị trường gia công này để có thể giúp ngành gia công phần mềm Việt
Nam tham gia một cách tích cực hơn và khẳng định được vị thế của mình trong chuỗi giá
trị toàn cầu?
Đó là lý do em chọn đề tài “Kinh nghiệm nâng cao giá trị sản phẩm trong chuỗi
giá trị toàn cầu của ngành gia công phần mềm Ấn Độ , Trung Quốc. Bài học cho ngành

Khóa luận sử dụng đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu cơ bản thường được
sử dụng như: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; Phương pháp đối chiếu-
so sánh; Phương pháp phân tích- tổng hợp; Phương pháp thống kê.
5. Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, cùng danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3
chương:
Chương 1: Lý luận chung về Chuỗi giá trị toàn cầu và Ngành gia công phần
mềm
3
Chương 2: Các giải pháp của Ấn Độ và Trung Quốc trong việc nâng cao giá
trị sản phẩm gia công phần mềm trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho ngành gia công phần mềm Việt Nam.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ths Nguyễn Thế Anh, người đã hướng dẫn
em thực hiện khoá luận này, và tới tất cả các thầy cô giáo đã dạy em tại trường Đại học
Ngoại Thương trong thời gian qua. Mặc dù với sự cố gắng của bản thân, nhưng do kiến
thức còn hạn chế và do tính phức tạp của đề tài nên khoá luận của em không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để khoá luận
của em được hoàn thiện hơn.
Hà nội, ngày 10- 5- 2009
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Mỹ Hạnh
Chương 1: Lý luận chung về Chuỗi giá trị toàn cầu và Ngành gia công phần mềm.
I. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu và đặc điểm ngành gia công phần mềm.
1. Khái niệm về chuỗi gía trị toàn cầu.
4
1.1 Khái niệm về chuỗi giá trị.
Mỗi một sản phẩm khi được sản xuất và tung ra thị trường đều phải trải qua nhiều
giai đoạn, sản phẩm đó là kết tinh của một chuỗi các hoạt động mà ở mỗi công đoạn giá
trị của sản phẩm được gia tăng. Quá trình cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán, dịch vụ tác
động vào các yếu tố đầu vào và sẽ làm cho giá trị của chúng tăng thêm. Khi đó, hàng hóa

này chính là các hoạt động chính trong chuỗi giá trị, và là nhóm hoạt động cơ bản tạo nên
chuỗi giá trị tổng thể của doanh nghiệp. Hoạt động chính này được phân chia thành 5
nhóm hoạt động cơ bản là: Hoạt động logistic bên trong; Hoạt động sản xuất; Hoạt động
logistic bên ngoài; Marketing và bán hàng; Phục vụ sau bán hàng. Tuy nhiên, cách phân
chia này chỉ mang tính chất tương đối, nó phụ thuộc vào từng loại hình sản phẩm, khu
vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh. Còn 4 mắt xích phụ còn lại chính là nhóm các
hoạt động phụ trợ. Nhóm các hoạt động này phụ trợ cho quá trình tạo ra giá trị cho doanh
nghiệp và thường được chia thành 4 nhóm công việc chính: Khả năng đảm bảo về
nguyên liệu và kỹ thuật; Trình độ phát triển của công nghệ sản xuất; Khả năng quản lý
nguồn nhân lực; Điều kiện cơ sở hạ tầng. Cũng giống như nhóm các hoạt động chính, sự
phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, các hoạt động phụ trợ đều có loại hình, đặc
điểm, tính chất và thành phần khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng doanh
nghiệp và từng ngành kinh doanh.
Như vậy, trong chuỗi giá trị của mình, M.Porter đã tách biệt các bước trong quá
trình tạo ra giá trị. Chuỗi giá trị của ông không chỉ liên quan đến quá trình sản xuất mà
còn mở rộng ra nhiều khu vực khác như: logistic, tiếp thị, bán hàng, dịch vụ sau bán
hàng,…Ông cũng đã phát triển quan điểm chuỗi giá trị này trên phạm vi nhiều doanh
nghiệp và gọi đây là Hệ thống giá trị(value system). Theo ông, hệ thống giá trị bao gồm
liên kết giữa nhiều chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp với nhau. Khái niệm Hệ thống giá
trị rộng hơn khái niệm chuỗi giá trị, nó được dùng để mô tả hoạt động tạo ra giá trị của hệ
thống với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp vào việc tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu
của người tiêu dùng bắt đầu từ khâu cung ứng nguyên liệu khô đến dịch vụ phân phối tới
tay người tiêu dùng.
6
Các hoạt động đó là thiết kế, sản xuất và chào hàng, phân phối và đưa sản phẩm đến
tay người tiêu dùng cuối cùng, các dịch vụ bảo hành bảo dưỡng….Các hoạt động tạo
thành một chuỗi giá trị có thể chỉ được tiến hàng bởi một hãng, một công ty đơn lẻ hoặc
bởi các hãng khác nhau. Các hoạt động trong chuỗi giá trị có thể chỉ giới hạn trong một
khu vực địa lý nhất định hoặc được trải rộng ra trên các khu vực lớn hơn, trên toàn cầu.
Sơ đồ 1.1: Bốn mắt xích trong chuỗi giá trị giản đơn

trị hiệu quả nhất cho người tiêu dùng.” Các mắt xích(công đoạn) chính trong chuỗi giá
trị toàn cầu bao gồm: Nghiên cứu phát triển(R&D)- thiết kế(Product Design)- sản
xuất(Production)- logistics- phân phối(Distribution)- tiêu thụ(Marketing).
Chuỗi giá trị toàn cầu theo quan điểm của Micheal Porter như là một khung mẫu, có
tính tổng quát cao, giống như là một dây chuyền bao gồm các khâu: nghiên cứu phát
triển, thiết kế, lắp ráp gia công, tiếp thị phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Khi một
công ty nào đó hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, phải tìm một chỗ đứng của mình
trong các khâu của GVC để đạt được giá trị gia tăng cao hơn. Cách tiếp cận của Porter về
GVC nhấn mạnh tới ba yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh. Đó là hạ tầng cơ sở của hãng, hệ
thống quản lý nhân lực, phát triển công nghệ và tìm kíêm tài sản nhân lực. Theo ông, cơ
sở hạ tầng của hãng bao gồm cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát, văn hoá công ty.
Thương hiệu và uy tín của công ty phụ thuộc nhiều vào các yếu tố đó. Quản trị nhân lực
8
bao gồm việc tuyển chọn nhân công, tiền lương, đào tạo và đào tạo lại, đồng thời có
chính sách hỗ trợ vật chất và tinh thần khuyến khích lao động sáng tạo. Phát triển công
nghệ chủ yếu đầu tư vào các công nghệ giúp cho hoạt động sáng tạo. Lợi thế cạnh tranh
của hãng sẽ được nâng cao hơn nếu chhi phí hoạt động thấp và tạo ra nhiều sản phẩm
thay thế đáp ứng nhu cầu thị trường.
Micheal Porter cho rằng, GVC được hình thành từ một hệ thống các chuỗi giá trị đơn lẻ,
taọ ra các chuỗi khác như chuỗi phân phối, tiếp thị; chuỗi giá trị từ các đại lý bán hàng.
Mối liên hệ giữa các mắt xích trong chuỗi không phải trong phạm vi chuỗi giá trị của một
hãng mà còn với các chuỗi khác nhau.
Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm: Chuỗi và mạng. Về cơ bản, chuỗi nhấn
mạnh trật tự theo chiều dọc các hoạt động dẫn đến việc phân phối, tiêu dùng, duy trì hàng
hoá và dịch vụ và công nhận rằng các chuỗi khác nhau thường có chung các chủ thể kinh
tế và các chuỗi này rất năng động theo nghĩa chúng lặp lại trật tự đó. Trong khi đó,
“mạng” nhấn mạnh bản chất và quy mô mối quan hệ liên công ty vốn giúp kết nối các
công ty tản mạn và một nhóm kinh tế. Theo nghĩa này, chúng ta có thể phân biệt Chuỗi
giá trị toàn cầu với Chuỗi cung ứng toàn cầu và Mạng lưới sản xuất toàn cầu.
 Chuỗi cung ứng toàn cầu (Global Supply chain- GSC)

thấp nhờ áp dụng công nghệ thông tin, hình thành mạng lưới các nhà cung cấp toàn cầu
và làm tăng thêm số lượng các công ty thượng nguồn toàn cầu. Liên kết tạo ra giá trị gia
tăng cao, xét về bản chất, là do gắn với quá trình sử dụng công nghệ cao chứ không phải
gắn với toàn bộ quá trình sản phẩm. Còn đặc điểm cơ bản của lý thuyết GVC thị lại chú
trọng vào việc xem xét quá trình sản xuất chứ không xem xét sản phẩm cụ thể.
Nhìn từ góc độ biên giới quốc gia hay lục địa, mạng lưới sản xuất có thể bao gồm
các loại hình như mạng lưới sản xuất toàn cầu, mạng lưới sản xuất khu vực và mạng lưới
sản xuất quốc tế, song nếu nhìn từ góc độ biên giới một công ty: mạng lưới sản xuất nội
bộ công ty và mạng lưới sản xuất liên công ty. Mạng lưới sản xuất nội bộ công ty bao
gồm các mối liên kết sở hữu giữa các chi nhánh trong một công ty ở các vị trí địa lý khác
10
nhau. Mạng lưới sản xuất bao gồm các liên kết phi sở hữu giữa các doanh nghiệp độc lập
ở các nước khác nhau tạo thành mạng lưới sản xuất liên công ty
b. Phân loại
Thông thường GVC thường được phân thành hai loại, đó là: Chuỗi giá trị do nhà
sản xuất chi phối(Producer-driven chain); chuỗi giá trị do nhà phân phối hay người mua
chi phối(buyer- driven chain).
Chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối(producer- driven chain): Trong chuỗi này
người mua toàn cầu đặt hàng cho các nhà cung cấp ở khắp nơi trên thế giới, những nhà
cung cấp này về pháp lý là các công ty độc lập, ký kết hợp đồng cung cấp sản phẩm cho
các nhà phân phối toàn cầu. Chuỗi này thường được hình thành với các sản phẩm chứa
hàm lượng công nghệ cao, sản xuất phức tạp và đòi hỏi vốn đầu tư lớn, như ôtô, các thiết
bị điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin,…Vì vậy giá trị chuỗi này thường tập trung ở
khâu nghiên cứu và phát triển, hay khâu thiết kế và phân phối….
Chuỗi do nhà phân phối hay người mua chi phối(buyer- driven chain): Những
người mua toàn cầu đặt hàng cho các nhà cung cấp ở khắp nơi trên thế giới. Các nhà cung
cấp này phần lớn là các công ty độc lập, ký kết hợp đồng cung cấp sản phẩm cho nhà
phân phối toàn cầu. Chuỗi này thường được hình thành đối với các hàng hoá đơn giản
như quần áo, đồ dùng gia đình, đồ chơi….Giá trị trong chuỗi vì vậy thường tập trung ở
khâu thiết kế, marketing nhiều hơn là các bí quyết công nghệ chế tạo chúng.

có khả năng tạo giá trị gia tăng kém hơn.
Thứ ba, đặc điểm giá trị của GVC. Ý tưởng liên kết giá trị tạo thành chuỗi là một ý
tưởng đột phá, tạo nền tảng cho cách tư duy mới trong quản lý kinh tế, đặc biệt là quản trị
hoạt động sản xuất- kinh doanh trong điều kiện toàn cầu hóa. Giờ đây, khi các đơn vị đo
lường thông thường dần dần bị đảo lộn, bởi toàn cầu hóa đã làm thay đổi căn bản các
thước đo về không gian và thời gian thì giá trị nghiễm nhiên trở thành một thước đo đáng
tin cậy về hiệu quả hoạt động của bất kỳ một chủ thể kinh tế nào. Chúng ta biết mỗi vùng
đất mỗi quốc gia, từng doanh nghiệp- đều có những lợi thế cạnh tranh đặc thù, hay nói
chính xác hơn là khả năng tạo giá trị trong một khu vực công việc nào đó hiệu quả hơn
các đối tượng khác. GVC về mặt bản chất chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất- tìm kiếm, xây
12
dựng và gắn kết các mắt xích tạo giá trị hiệu quả nhất trên khắp thế giới vào một quy
trình sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, vai trò then chốt của các tập đoàn đa quốc gia(MNC) trong GVC. Có thể nói, mô
hình GVC cũng như nhiều mô hình quản lý khác trong điều kiện quản lý toàn cầu,
thường xuất hiện đầu tiên ở nội bộ các công ty đa quốc gia. Bởi khả năng thu hút hợp tác,
thương mại và đầu tư nước ngoài một cách mạnh mẽ nhất. Môi trường toàn cầu ngay
trong nội bộ tập đoàn đã giúp cho các tập đoàn đa quốc gia có điều kiện thực tế để thử
nghiệm và phát triển các mô hình kinh doanh phù hợp với điều kiện mới. Do giá nhân
công cũng như các dịch vụ hỗ trợ tại các nước phát triển đều rất đắt, nên xuất hiện các xu
hướng, các MNC ngày càng sử dụng nguồn lực bên ngoài chính quốc(outsourcing).
Trong bối cảnh đó, nếu có một môi trường đầu tư hấp dẫn, và một nguồn nhân lực khoa
học công nghệ có chất lượng tốt, thì khả năng tiếp thu và phát triển công nghệ cao phục
vụ công cuộc hiện đại hóa nền kinh tế của một nước đang phát triển là hoàn toàn hiên
thực. Nghĩa là nhiều doanh nghiệp tại nước đang phát triển có khả năng tham gia vào
GVC theo hình thức “xuất khẩu tại chỗ”.
Thứ năm, hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở chính để hình thành GVC. Đến nay,
nhiều công trình nghiên cứu kinh tế đã đi đến kết luận là: lợi ích khi trở thành một bộ
phận của GVC đem lại có thể gấp 10-20 mức trung bình. Đối với các doanh nghiệp tại
các nước đang phát triển, trở thành bộ phận của GVC là một yếu tố rất quan trọng để tiếp

một việc hết sức khó khăn. Nếu không có hoạt động logistic, chính xác hơn là logistic
toàn cầu thì có thể khẳng định không có một chuỗi giá trị sản xuất kinh doanh nào có thể
hình thành và phát triển được. Chính vì vậy, chưa lúc nào chúng ta thấy các vấn đề liên
quan đến giao nhận, bảo hiểm, vận tải quốc tế được bàn đến nhiều như bây giờ. Và quả
thật, công nghệ vận chuyển siêu tốc, đa phương thức đang trở thành một trong những tâm
điểm của tầng công nghệ tương lai. Nếu như hoạt động logistics đảm bảo về cơ bản sự
chuyển động tối ưu của các dòng chảy kinh doanh trong chuỗi giá trị toàn cầu thì hoạt
động quản trị chuỗi lại đóng vai trò quan trọng trong điều hành chuỗi ở tầm vĩ mô. Hoạt
động này thường do một nhóm người(trong trường hợp chuỗi thuộc sự quản lý của tập
14
đòan đa quốc gia); hoặc một tổ chức khu vực hoặc quốc tế(trong trường hợp chuỗi mở,
hình thành trên cơ chế thị trường). Nhiệm vụ chính của ban điều hành chính là tạo ra một
môi trường bình đẳng, hợp lý và hiệu quả cho tất cả các bên tham gia
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu
a. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ(KHCN) là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến
việc hình thành và phát triển GVC. Chính từ sự phát triển của công nghệ thông tin đã mở
ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của loài người- kỷ nguyên toàn cầu hóa.
Tòan cầu hóa đã và đang đưa các nền kinh tế xích lại với nhau hơn bao giờ hết để cùng
tham gia một sân chơi chung- sân chơi toàn cầu, ở đó thị trường không còn bị bó hẹp là
của riêng nước nào mà nó là thị trường toàn cầu, nguồn lực cũng không phải của riêng
nước nào mà nó là nguồn lực của toàn cầu….Thêm vào đó, CNTT phát triển, các dòng
tiền, dòng vật chất, dòng thông tin được chuyển động một cách thông thoáng hơn, từ
quốc gia này sang quốc gia khác, từ nơi có khả năng sinh lời thấp đến nơi có khả năng
sinh lời cao. Các quốc gia không còn tự mình làm tất cả các công đoạn mà thay vào đó,
họ chỉ tập trung vào công đoạn mà họ có khả năng đáp ứng và tạo ra giá trị gia tăng cao
nhất. Đây chính là những nhân tố cơ bản đảm bảo cho GVC hình thành và phát triển.
Hơn nữa, ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đã tạo
nên nhu cầu về sự chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia
đang phát triển. Chính điều này đã tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia tham gia

này là rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, từ đó làm thay đổi GVC. Ngoài ra,
trong việc điều chỉnh môi trường và chính sach thì Nhà nước cũng đóng vai trò rất quan
trọng. Nhà nước ban hành các chính sách mới điều chỉnh các chính sách cũ cũng gây ảnh
hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, năng lực sản xuất của không chỉ
các doanh nghiệp trong chuỗi mà còn các doanh nghiệp nằm trong những mắt xích khác
trong chuỗi. Do vậy, mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào chuỗi đều phải đáp ứng các yêu
cầu về môi trường, thể chế, chính sách nhằm đưa được sản phẩm đến được khâu tiêu thụ
hay đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
16
1.6 Lợi ích của việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Cùng với sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và tính chuyên môn hóa trong
hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp thì cuộc cạnh tranh ngày càng gay go hơn bao
giờ hết. Hiệu quả sản xuất là điều kiện cần thiết cho việc hội nhập thành công thị trường
tòan cầu. Việc tham gia vào thị trường toàn cầu cho phép doanh nghiệp duy trì thu nhập,
gia tăng giá trị qua các công đoạn để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
a. Nâng cao tính chuyên môn hóa trong từng công đoạn sản xuất
Khi sự phân công lao động phát triển vượt ra khỏi biên giới quốc gia một nước, các
quốc gia có thể đảm nhiệm những công đoạn nhất định khi tham gia vào chuỗi giá trị của
một ngành sản xuất nào đó. Adam Smith cho rằng sự phân công lao động được quyết
định bởi quy mô thị trường. Theo quan điểm này thì những thị trường có qui mô nhỏ sẽ
rất khó đạt được sự chuyên môn hóa cao. Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp chỉ sản xuất
một lượng ghế nhỏ thì họ sẽ không phải thuê nhiều lao động và bản thân doanh nghiệp đó
sẽ phải thực hiện tất cả các khâu sản xuất cần thiết để hoàn thiện sản phâm. Nhưng một
khi thị trường được mở rộng thì nhà sản xuất sẽ có cơ hội gia tăng lợi nhuận và mức sản
lượng lớn đòi hỏi họ phải thuê nhân công đặc biệt là những người thợ có tay nghề cao để
chuyên môn hóa vào công đoạn sản xuất. Sự chuyên môn hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp
gia tăng giá trị một cách có hiệu quả hơn khi tham gia vào GVC bởi vì người lao động sẽ
không phải mất nhiều thời gian cho quá nhiều thao tác công việc mà họ chỉ phải tập trung
vào những công đoạn sản xuất nhất định phù hợp với chuyên môn của họ, giúp rút ngắn
thời gian hoàn thiện sản phẩm và tăng khả năng liên kết giữa các khâu như phát triển sản

nhuận và nếu theo quan điểm của chuỗi giá trị thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
được đo bằng lượng giá trị gia tăng ở những khâu nhất định. Giai đoạn sau chiến tranh
đặc biệt là ở hai thập kỷ cuối thế kỉ 20, có rất nhiều doanh nghiệp tăng hiệu quả sản xuất
của mình bằng cách mở rộng hoạt động tìm kiếm nguồn nguyên liệu sản xuất và giảm chi
phí sản xuất ở quy mô toàn cầu. Ở một số quốc gia như Mê-hi-cô, Brazin, Hồng kông,
Malaysia, Singapore và Thái Lan, ngành sản xuất ngày càng phát triển do sự mở rộng
phạm vi hoạt động và bành trướng thị trường của các MNC và TNC. Hơn nữa các MNC
hay TNC lại nắm một lượng lớn công nghệ và thiết kế của thế giới, họ có thể thu được lợi
18
nhuận dựa trên việc ký kết các hợp đồng mua bán giấy phép cho các công ty con hoặc chi
nhánh ở nước ngoài. Vì vậy những công ty này có thể đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, chi
phí rẻ và khả năng cung cấp khối lượng hàng hóa lớn của thế giới. Chính vì những luận
điểm trên mà việc các công ty lớn có khả năng đảm nhiệm những khâu quan trọng trong
chuỗi giá trị tòan cầu sẽ trở thành những tác nhân quan trọng chi phối và thúc đẩy hiệu
quả sản xuất cho toàn chuỗi.
Tuy nhiên sự tham gia vào thị trường toàn cầu cũng chụi sự tác động của chính
sách thương mại tại thị trường tiêu thụ cuối cùng. Nó thể hiện các quyết định mang tính
chiến lược của các công ty hàng đầu trong chuỗi giá trị. Ở một số nước hoặc một số khu
vực, những công ty này sẽ ra các quyết định chiến lược trong việc sắp xếp các công đoạn
sản xuất để cân bằng lại những tác động của chính sách tỷ giá , những ràng buộc dân tộc,
đạo đức đối với các giao dịch thương mại.
Việc chuyên môn hóa sản xuất theo từng công đoạn của chuỗi giá trị sẽ giúp điều
chỉnh tốt hơn tòan bộ chu kỳ sản xuất và cả sự liên kết với thị trường tiêu dùng cuối cùng
để từ đó làm cho quy trình sản xuất một sản phẩm nào đó sẽ trở nên hòan thiện hơn.
Tóm lại, việc tham gia chuỗi giá trị sẽ tăng khả năng chuyên môn hóa từ đó tăng
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lơn thực hiện chiến lược tìm
kiềm nguồn cung cấp với chi phí rẻ ở những nứơc đang và chậm phát triển còn những
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ sản xuất sản phẩm tốt hơn để cung ứng và thu lợi nhuận
nhiều hơn.
c. Tăng thu nhập cho các chủ thể trong chuỗi

thành viên tham gia hệ thống sản xuất toàn cầu.
2. Đặc điểm của ngành gia công phần mềm.
2.1 Khái niệm về phần mềm và gia công phần mềm
2.1.1 Khái niệm về phần mềm, sản phẩm và dịch vụ phần mềm
a. Phần mềm
20
Có rất nhiều cách thức khác nhau để định nghĩa phần mềm, tùy theo mục đích sử
dụng và nghiên cứu. Nếu xét trên góc độ kỹ thuật thì phần mềm được định nghĩa như sau:
“(1) Các lệnh hay chương trình máy tính khi được thực hiện thì đưa thực hiện thì đưa ra
hoạt động và kết quả mong muốn; (2) Cấu trúc dữ liệu làm cho chương trình thao tác
thông minh thích hợp và (3) Các tài liệu mô tả thao tác và cách dùng chương trình
” 1
Còn theo luật công nghệ thông tin năm 2007 của nước ta có định nghĩa về phần
mềm như sau:” Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu,
mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định”. Nói cách
khác, phần mềm hiểu theo nghĩa thông thường là một tập hợp các chương trình, các câu
lệnh và chương trình con để điều khiển, vận hành máy tính. Khái niệm phần mềm được
đặt ra để phân biệt với khái niệm phần cứng(tức là các phần hữu hình của hệ thống máy
tính như bộ xử lý trung tâm, bàn phím, màn hình, linh kiện của máy tình và các thiết bị
liên quan). Bên cạnh đó, phần mềm không chỉ là tập hợp các lệnh và số liệu đi kèm,
thường được gọi là chương trình(programme), mà còn gắn liền với tài liệu hướng dẫn sử
dụng và dịch vụ đi kèm như tư vấn, huấn luyện, hỗ trợ kỹ thuật…Với cách hiểu này,
phần mềm còn bao gồm khả năng, kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng của kỹ sư- người chế
tạo ra phần mềm.
Phần mềm có nhiều loại khác nhau, tuy nhiên do mục đích của khóa luận không đi
sâu vào khía cạnh kỹ thuật nên chỉ phân loại phần mềm theo mục đích sử dụng. Với căn
cứ này, phần mềm được chia thành 3 loại: Phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng va
phần mềm lập trình.
 Phần mềm hệ thống(system software): hay còn gọi là Hệ điều hành(như Windows,
Linux hay BeOS…) là những phần mềm được viết ra nhằm quản lý và điều hành mọi

người sử dụng hoặc nhà cung cấp dịch vụ cài đặt cho các thiết bị hay hệ thống. Chúng
gồm hai loại: phần mềm ứng dụng và phần mềm hệ thống.
22
 Phần mềm chuyên dụng: là sản phẩm phần mềm được phát triển theo yêu cầu cụ
thể và riêng biệt của khách hàng.
 Sản phẩm thông tin số hóa: Là nội dung thông tin số hóa được lưu trữ trên một vật
thể nào đó.
c . Dịch vụ phần mềm
Dịch vụ phần mềm bao gồm các dịch vụ xoay quanh việc cung cấp sản phẩm phần
mềm như tư vấn phần mềm; tích hợp, cung cấp hệ thống; dịch vụ gia công phần mềm;
dịch vụ hệ huấn luyện, đào tạo sử dụng phần mềm….
Dịch vụ tư vấn phần mềm bao gồm: tư vấn, cung cấp thông tin, hướng dẫn, trao đổi
về phần mềm, nghiên cứu về nhu cầu, giải pháp và kinh nghiệm trong thiết kế, cài đặt,
nâng cấp hệ thống mạng máy tính.
Dịch vụ tích hợp, cung cấp hệ thống bao gồm tư vấn, kết nối phần cứng, thiết bị
mạng và phần mềm chuyên dụng thành một hệ thống hòan chỉnh, bao gồm cả dịch vụ
huấn luyện và đào tạo đi kèm.
Dịch vụ xử lý dữ liệu: là dịch vụ nhập dữ liệu, xử lý dữ liệu điện tử số hóa cho
khách hàng.
Dịch vụ huấn luyện và đào tạo phần mềm: là huấn luyện, đào tạo về chuyên môn
liên quan đến công nghệ phần mềm.
Dịch vụ phần mềm tại chỗ(outsite service): là việc công ty phần mềm đưa nhân viên
phần mềm của mình sang cơ sở của khách hàng để sản xuất, phát triển, triển khai(cài đặt),
bảo trì phần mềm và thực hiện các dịch vụ liên quan tới phần mềm.
Dịch vụ gia công phần mềm: là dịch vụ mà bên nhận gia công sẽ thực hiện một phần
hoặc tòan bộ các bước trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh
cho bên đặt gia công. Một mặt, bên đặt gia công thường có ý tưởng và trong nhiều trường
hợp, họ biết cách bán các sản phẩm đó trong khi bên nhận gia công thường thiếu hai yếu
tố này. Một khác, các công ty đi đặt gia công thường là các công ty ở các nước phát triển,
mặt bằng lương rất cao nên họ muốn thuê các công ty ở các nước phát triển, mặt bằng

và công nghệ cao từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đã ngày càng phát
triển, đặc biệt trong các lĩnh vực CNTT và công nghệ cao của Mỹ, nơi những sản phẩm
làm ra có thể dễ dàng vận chuyển (như các sản phẩm chip nhỏ gọn) hoặc truyền tải qua
Internet (phần mềm, dữ liệu…). Mục đích chính của quá trình chuyển việc làm sang các
nước đang phát triển của các doanh nghiệp lớn tại Mỹ là để tận dụng nguồn nhân công
giá rẻ, nhưng có trình độ tương đương với các nhân viên tại Mỹ. Các tập đoàn lớn về
công nghệ như Intel, IBM, HP đều xây dựng những trung tâm nghiên cứu phát triển và
sản xuất tại châu Á, tập trung ở các quốc gia có nguồn nhân lực trình độ cao với mức
lương thấp hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc .Ngoài lý do tiết kiệm chi
phí này, ngày nay, đối với các công ty đi thuê gia công, đây còn là một cách để họ có thể
có được những giải pháp nhanh hơn, tốt và hiệu quả hơn.
2.2 Đặc điểm của ngành gia công phần mềm
Trước tiên, đây là ngành tạo nhiều công ăn việc làm và đem lại mức thu nhập cao.
Theo một nghiên cứu gần đây của các chuyên gia phần mềm thuộc Đại học Carnergie
Mellon(Mỹ) thì “ Trung bình 1 người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất chỉ tạo được
công ăn việc làm cho 7-8 người ở các ngành khác. Trong khi ở lĩnh vực CNTT, hệ số này
sẽ là 1/21,3. Tức là, chỉ cần có 1 triệu lao động hoạt động trong ngành này thì sẽ tạo được
việc làm cho 21 triệu người có thu nhập cao”. Hơn thế nữa, CNTT nói chung và GCPM
xuất khẩu nói riêng còn là ngành có vốn đầu tư thấp nhưng mang lại lợi nhuận rất cao,
theo điều tra của Bộ lao động Mỹ năm 2007, nó là một trong 10 ngành mang lại thu nhập
cao nhất.
Theo ước tính, nhu cầu lao động của thế giới trong lĩnh vực CNTT nói chung vẫn
rất cao. Cũng theo điều tra của Bộ Lao động Mỹ, ước tính hiện giờ trên thế giới vẫn thiếu
khoảng hơn 1 triệu lao động trong lĩnh vực CNPM, dự tính đến năm 2020, con số này sẽ
lên đến 3triệu. Gia công nói chung là một miếng bánh ngon mà hầu hết các quốc gia đều
nhắm tới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Chính vì vậy, đặc biệt với những nước
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status