Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM
NHẰM ĐÁP ỨNG TỐT NHẤT NHỮNG QUY ĐỊNH HIỆN
NAY CỦA THỊ TRƯỜNG EU TRONG XU THẾ HỘI NHẬP
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Trung Vãn
Người thực hiện : Đỗ Thị Hải Yến
Lớp : Pháp 2 - K38 E HÀ NỘI - 12/2003
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
ii
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG THỜI GIAN QUA 27
1. Khái quát hoạt động sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
thời gian qua 27
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
iii
1.1. Tiềm năng thuỷ sản của Việt Nam 27
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
1.1.2. Điều kiện về con người 28
1.2. Sản xuất thuỷ sản của Việt Nam 29
1.2.1. Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt 29
1.2.2. Hoạt động chế biến 31
1.3. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam 32
1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản trong thời gian gần đây 32
1.3.2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam 33
2. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU 34
2.1. Bối cảnh chiến lược xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU 34
2.2. Tình hình cạnh tranh trên thị trường thuỷ sản EU 36
2.3. Phương pháp tiếp cận chiến lược thị trường EU của Việt Nam trong
thời gian qua 37
2.4. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang EU thời gian qua 39
2.5. Chiến lược xuất khẩu thuỷ sản theo cơ cấu hàng thuỷ sản 40
2.6. Chiến lược xuất khẩu thuỷ sản theo cơ cấu thị trường (trong khối
EU) 42
3. Những vấn đề đặt ra đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam 43
3.1. Vấn đề về bao bì, nhãn hiệu và xuất xứ hàng hoá 43
3.2. Vấn đề chất lượng sản phẩm 46
3.3. Vấn đề vệ sinh thực phẩm 48
3.4. Vấn đề vệ sinh môi trường 50
3.4. Giải pháp vĩ mô về chính sách đầu tư, khuyến khích công nghệ 79
3.5. Giải pháp về bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên
môn 81
4. Một số kiến nghị, đề xuất 82
4.1. Kiến nghị 82
4.2. Đề xuất từ đề tài nghiên cứu 83
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
vDANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tình hình tiêu thụ thuỷ sản ở một số quốc gia EU năm 2002 3
Bảng 2: Tổng sản phẩm quốc nội của EU trong một vài năm gần đây 6
Bảng 3: Tình hình cung cấp thuỷ sản nội khối của EU 9
Bảng 4: Một số loài thuỷ sản có lượng cung lớn của EU năm 1999 (theo
tên thương mại và tên Latinh) 10
Bảng 5: Thương mại thuỷ sản của EU tại một số thời điểm 11
Bảng 6: Tình hình sản xuất thuỷ sản của Việt Nam 30
Bảng 7: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam 5 năm gần đây 33
Bảng 8: Kim ngạch và tỷ trọng thị trường xuất khẩu thuỷ sản EU trong
tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam (1998-2002) 39
Bảng 9: Kim ngạch và tỷ trọng các thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính
của Việt Nam trong EU năm 2001 42
Bảng 10: Số lượng các doanh nghiệp có chứng nhận ISO 9000 qua các
năm (1998-2002) 48
Để tận dụng lợi thế tự nhiên sẵn có và phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế xã hội quốc gia, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện
pháp khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản, coi đó là một
trong những mũi nhọn kinh tế.
Trong những năm qua sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của chúng ta đã có
những thành công trong việc mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, đóng góp một
lượng ngoại tệ đáng kể cho mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, môi trường hội nhập kinh tế, tự do hoá thương mại hiện nay đặt
ngành xuất khẩu thuỷ sản nước ta trước những khó khăn mà nổi bật là sự cạnh
tranh gay gắt của những đối thủ kinh doanh, sự đòi hỏi ngày một cao của
khách hàng quốc tế.
Trong bối cảnh phục hồi chậm chạp, chưa mấy khả quan của kinh tế
Nhật Bản cùng hàng loạt những tranh chấp, rủi ro trên thị trường Mỹ, EU
càng trở thành mục tiêu quan trọng trong chiến lược đa dạng hoá thị trường
xuất khẩu thuỷ sản của chúng ta. Trở ngại rất lớn của việc phát triển xuất
khẩu vào thị trường giàu có và rộng lớn bậc nhất thế giới này là rào cản phi
thuế quan, tiêu biểu là những quy định, tiêu chuẩn ngặt nghèo về chất lượng
sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường.
Đó chính là lý do em chọn đề tài: “Chiến lược xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam nhằm đáp ứng tốt nhất những quy định hiện nay của thị
trường EU trong xu thế hội nhập” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Nội dung của đề tài gồm 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan về thị trường EU trong xu thế hội nhập hiện nay
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
viii
Chương 2: Thực trạng chiến lược xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang
thị trường EU trong thời gian qua
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam sang thị trường EU những năm tới
EU luôn tỏ ra thận trọng, khuôn mẫu, yêu cầu khắt khe đối với hàng hoá nhập
khẩu từ nước ngoài. Để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, hàng loạt
những quy chế, định chuẩn quốc gia, những quy định bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng về độ an toàn chung của các sản phẩm, những tiêu chuẩn chất lượng
ngặt nghèo đã được thông qua và áp dụng một cách thống nhất trong toàn
Liên minh.
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
2
Thị trường EU về cơ bản cũng giống một thị trường quốc gia, do vậy có
3 nhóm người tiêu dùng khác nhau: nhóm người tiêu dùng thích sử dụng sản
phẩm chất lượng cao cấp, yêu cầu các sản phẩm đặc biệt; nhóm người tiêu
dùng sử dụng các sản phẩm có chất lượng tốt và giá cả không quá đắt, nhóm
người thuộc tầng lớp bình dân có thu nhập ttrung bình yêu cầu mức giá cả
hợp lý. Kể từ những năm đầu của thập kỷ 90, tỷ trọng của nhóm 1 (tiêu dùng
sản phẩm giá cao cấp) đã tăng từ mức 27% những năm 80 lên mức 35%-36%,
trong khi đó nhóm 2 lại giảm từ 49% xuống còn khoảng 30%. Điều này cho
thấy cơ hội thị trường mở ra cho các loại sản phẩm cao cấp và sản phẩm có
sức cạnh tranh về giá.
Bên cạnh những điểm chung, mỗi nền kinh tế trong khối cũng có những
cách ứng xử riêng biệt trong giao dịch thương mại quốc tế. Chẳng hạn, người
Pháp rất quan tâm đến tính đồng nhất và đã thông qua một số điều lệ đặc biệt
bắt buộc phải sử dụng tiếng Pháp trên tất cả các nhãn sản phẩm, trong các tờ
rơi quảng cáo, Doanh nghiệp Đức không chấp nhận mua hàng qua catalo,
không chấp nhận việc nêu ra giá cả trong quảng cáo cá ngừ đóng hộp, doanh
nghiệp Anh lại rất quan tâm đến chất lượng và rất sòng phẳng, luôn tuân theo
luật lệ một cách chính xác
Hệ thống phân phối cũng là một trong những yếu tố cần quan tâm khi
nghiên cứu về thị trường EU. Hệ thống phân phối bao gồm các hình thức: các
trung tâm thu mua, đơn vị chế biến, dây chuyền phân phối, các nhà bán buôn,
Các nước đang
phát triển
Tây Ban Nha 38
Thuỷ sản tươi sống, đông lạnh,
cá ngừ, tôm, cá trích, mực, sò,
hến.
Các nước đang
phát triển
Anh 7,4
Cá vùng nước lạnh như cá
tuyết, cá efin, cá thu hun khói,
cá trích hun khói
Các nước đang
phát triển và nội
khối
Hà Lan
Hải sản tươi sống nhất là tôm
hùm, các loại cá nước lạnh
Chủ yếu từ các
nước trong khối
Nguồn: Trung tâm thông tin Bộ Thương mại
Do thị hiếu người tiêu dùng ở mỗi nước thành viên rất khác nhau nên
cơ cấu tiêu thụ thuỷ sản của EU thay đổi tuỳ theo từng khu vực. Nhìn chung
cơ cấu tiêu thụ thuỷ sản ở thị trường này có thể phân làm 3 nhóm chính:
- Nhóm nước Bắc Âu (Phần Lan, Đan Mạch) ưa chuộng loại cá nước
lạnh, cá trích, cá thu;
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
4
- Nhóm nước khu vực Địa Trung Hải (Italia, Tây Ban Nha, ) chuộng
Thị hiếu đối với sản phẩm thuỷ sản đã có những thay đổi nhất định:
không chỉ là những sản phẩm ướp lạnh, đóng hộp truyền thống mà còn cả
những sản phẩm “ăn liền” sẵn sàng phục vụ các quý khách hàng, đặc biệt là
lớp người tiêu dùng trẻ, thuỷ sản không những dành cho các hộ gia đình mà
hướng mạnh tới các nhà hàng, khách sạn.
Sản phẩm Châu Á tinh khiết và đơn giản đang được tiêu thụ khá mạnh
trong các quốc gia Châu Âu. Xu hướng sử dụng những sản phẩm đơn giản
cùng tồn tại với xu hướng sử dụng các sản phẩm thuỷ sản Châu Á. Người ta
muốn ăn thuỷ sản với đúng nghĩa của nó - một xu hướng làm tăng nhanh nhu
cầu đối với những sản phẩm không bao bột như philê, cá đông lạnh, tôm và
vẹm, tôm hùm và lườn cá ngừ thông thường.
Càng ngày những sản phẩm chưa chế biến, không pha trộn, dễ làm và
ăn nhanh càng được những người tiêu dùng hiện đại của EU quan tâm hơn
cùng với đó là sự hướng tới những sản phẩm sinh thái. Một nghiên cứu về
người tiêu dùng Châu Âu cho thấy 56% số người tiêu dùng sẵn sàng trả giá
cho sản phẩm sinh thái đắt hơn sản phẩm nuôi trồng theo phương pháp công
nghiệp từ 15% trở lên, 33% đồng ý trả đắt hơn đến 15%. Tỉ lệ người tiêu
dùng mua sản phẩm sinh thái với mục đích góp phần bảo vệ tự nhiên cũng
tăng lên trong vài năm qua: 17% người tiêu dùng thường xuyên mua sản
phẩm sinh thái, 51% đôi khi mua. Lý do chọn những sản phẩm này cũng khác
nhau: 71% người tiêu dùng chọn vì quan tâm đến sức khoẻ, 58% vì lý do môi
trường và 23% vì hương vị ngon hơn.
1.3.2.Thu nhập, chất lượng, giá cả tới tiêu thụ thuỷ sản của EU.
Từ những thế kỉ 17, 18, châu Âu và đặc biệt là Tây Âu đã trở thành một
trung tâm văn minh của nhân loại với sự phát triển rực rỡ của các loại hình
nghệ thuật, khoa học. Đây cũng là chiếc nôi của chủ nghĩa tư bản, là nơi tập
trung các quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh. Người dân Tây Âu có thu nhập,
mức sống cao và tương đối đồng đều.
Từ 1997 cho đến 2001, GDP các nước EU đều tăng cả về tổng GDP
lẫn mức bình quân đầu người. Năm 2001 đã bắt đầu có những dấu hiệu không
hàng tại khu vực này là rất cao sang. Vấn đề quyết định tiêu dùng của người
tiêu dùng EU không phải là vấn đề giá cả mà là vấn đề chất lượng hàng hoá.
Họ sẵn sàng trả tiền cho những sản phẩm của những nhà sản xuất hay phân
phối có tiếng tăm với giá rất cao mà không thích đổi sang sản phẩm không nổi
tiếng khác. Đây cũng là một điểm đáng chú ý đối với các sản phẩm thuỷ sản
xuất khẩu vào EU. Các nhà xuất khẩu thuỷ sản nên sử dụng các nhà phân phối
có uy tín để thu hút người tiêu dùng trước khi trực tiếp xuất khẩu vào thị
trường này cũng như cần hiểu rõ không phải lúc nào giá rẻ cũng thúc đẩy
được việc tiêu thụ sản phẩm.
1.3.3.Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng
Một trong những vấn đề ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tiêu thụ
thuỷ sản là các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của Liên minh Châu Âu.
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
7
Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra các
sản phẩm ngay từ nơi sản xuất. Một hệ thống báo động giữa các nước thành
viên EU (từ đây xin được gọi tắt là nước thành viên) được thiết lập nhằm
ngăn chặn sự xâm nhập của những sản phẩm không đủ phẩm chất vào khu
vực. EU đã thông qua những quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
về độ an toàn chung của các sản phẩm bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán
hàng tận nhà, nhãn hiệu,v.v Các tổ chức chuyên nghiên cứu, đại diện cho
giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quy chế định chuẩn quốc gia hay Châu Âu. Các
luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán các sản
phẩm có xuất xứ từ các nước chưa có điều kiện sản xuất đạt mức an toàn
ngang với tiêu chuẩn Châu Âu. Hiện nay khu vực có 3 tổ chức định chuẩn
sau: Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn, Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn điện tử,
Viện định chuẩn viễn thông Châu Âu.
Tất cả các sản phẩm thuỷ sản lưu thông trên thị trường EU đều phải ghi
rõ tên sản phẩm, nhãn mác, danh mục thành phẩm, thành phần, trọng lượng
Châu Á đang ngày càng chú trọng vào nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản cho
xuất khẩu trong khi Liên minh EU lại có chính sách cắt giảm sản lượng đánh
bắt từ 1997-2010 với mục đích giữ gìn nguồn lợi thuỷ sản. Tuy nhiên với sản
lượng xấp xỉ 7,8 triệu tấn thuỷ sản/năm (bao gồm cả thuỷ sản dùng làm thức
ăn công nghiệp), EU là một trong năm khu vực đánh bắt lớn nhất thế giới.
Các quốc gia có sản lượng thuỷ sản khai thác lớn nhất trong EU là Hà
Lan, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Anh.
Hai khu vực đánh bắt đáng kể nhất của EU là vùng đông bắc Đại Tây
Dương và vùng biển Địa Trung Hải.
Năm 1999, trong tổng số 6.728.538 nghìn tấn cá đánh bắt được của khu
vực thì lượng đánh bắt ở vùng Đông bắc Đại Tây Dương là 4.647.469 nghìn
tấn (chiếm 74%). Đan Mạch là quốc gia đánh bắt lớn nhất với 1.4 triệu tấn,
tiếp theo là Anh với 832 nghìn tấn, trong khi đó đánh bắt tại khu vực này chỉ
chiếm có 36% và 69% tổng lượng đánh bắt của Tây Ban Nha và Pháp. Toàn
bộ 6 loài cá được đánh bắt nhiều nhất của EU năm 1998 đều là cá nổi đánh
bắt chủ yếu tại vùng biển này bao gồm: cá trích Đại Tây Dương tại khu vực
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
9
biển Baltic (348.601 tấn trên tổng số 737.368 tấn), cá sác-đin tại khu vực biển
Bắc (684.830 tấn trên tổng 668.573 tấn), cá trích cơm châu Âu, cá thu (bao
gồm cả loài Micromesistius pontasson và loài Trachurus trachurus) tại vùng
biển phía tây và phía nam nước Anh, cá tuyết Đại Tây Dương tại biển Bắc và
biển Baltic.
Đối với vùng Địa Trung Hải, các loài thuỷ sản có sản lượng đánh bắt
lớn nhất là các loại cá. Năm 1999, lượng cá khai thác ở vùng này chiếm 69%
tổng lượng đánh bắt (chủ yếu là cá trống, cá mòi cơm.) các loài nhuyễn thể
(hai mảnh và chân đầu) chỉ chiếm 25%. Các quốc gia đánh bắt chủ yếu của
khu vực phải kể đến Italia với sản lượng 277.984 tấn, Tây Ban Nha đứng thứ
hai với mức 122.359 tấn, Hylạp 109.558 tấn, Bồ Đào Nha chỉ đạt 76 tấn.
gần đây. Trong một tương lai gần (khoảng 10 năm tới), tình hình này có nhiều
khả năng vẫn còn tiếp diễn.
Về cơ cấu cung cấp thuỷ sản của khối, chúng ta có thể thấy sự có mặt
của một số sản phẩm chủ yếu sau:
Bảng 4: Một số loài thuỷ sản có lượng cung lớn của EU năm 1999 (theo
tên thương mại và tên Latinh)
Tên loài Lượng cung (tấn)
Cá mòi cơm châu Âu- Sardina pichardus 93193
Cá trống châu Âu- Engraulis encrasicolus 76084
Trai biển Địa Trung Hải - Mytilus galloprovincialis 53778
Cá vệ nữ sọc - Venus gallina 36836
Cá meluc châu Âu - Merluccius merluccius 19963
Cá phèn (=cá phèn đỏ) - Mullus spp 13392
Cá ngừ vây xanh biển Bắc - Thunnus thynnus 11758
Mực phủ - Octopus vulgaris 10313
Cá tráp sọc - Boops boops 8767
Nguồn: Eurostat, 2001
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
11
3. NHU CẦU NHẬP KHẨU THUỶ SẢN CỦA EU
3.1. Kim ngạch và cơ cấu nhập khẩu thuỷ sản
3.1.1. Kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản
Mặc dù là một trong những khu vực sản xuất nhiều thuỷ sản nhất thế
giới, EU đồng thời cũng là nhà nhập khẩu hàng đầu (hiện đứng trên cả Nhật
Bản và Hoa Kỳ). Kim ngạch nhập khẩu của khối tăng đáng kể qua các năm:
từ 6,4 tỷ USD năm 1985 lên 18,9 tỷ USD năm 1995 và khoảng 36,1 tỷ USD
năm 2002 (bao gồm cả thuỷ sản không được sử dụng làm thực phẩm cho con
người). Nhu cầu thuỷ sản ngày một tăng cộng với chính sách cắt giảm 1/3 sản
cân thương mại thuỷ sản bất lợi, thâm hụt cán cân thường xuyên ở mức trên 8
tỷ USD.
Ngoài Đan Mạch, Ailen và Hà Lan được đánh giá là duy trì tốt cán cân
thương mại thuỷ sản tích cực, các nước thành viên còn lại ít khi tránh khỏi
tình trạng thâm hụt cán cân. Đặc biệt Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Italia luôn
có mức thâm hụt lên tới 1 triệu EUR/năm. Điều này có thể được giải thích là :
mức tiêu thụ thuỷ sản ở cả 4 thị trường này đều rất lớn nhưng ngoài Tây Ban
Nha được xếp vào danh sách những quốc gia có sản lượng thuỷ sản lớn của
khối, các nước còn lại có sản lượng thuỷ sản tương đối khiêm tốn so với nhu
cầu tiêu thụ.
Theo những phân tích, đánh giá của các nhà nghiên cứu thị trường thì
trong tương lai, Liên minh châu Âu vẫn tiếp tục giữ vị trí hàng đầu thế giới về
nhập khẩu thuỷ sản với kim ngạch nhập khẩu ngày một gia tăng. Cơ hội thâm
nhập vào thị trường này đối với các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản trong đó có
Việt Nam vẫn còn đang rộng mở. Vấn đề cần quan tâm đối với các nhà xuất
khẩu là phải tìm được phương thức tiếp cận thị trường hợp lý mà trước hết là
nắm rõ cơ cấu nhập khẩu của khu vực để có chiến lược sản phẩm phù hợp với
khả năng quốc gia và nhu cầu của của các khách hàng EU.
3.1.2. Cơ cấu nhập khẩu thuỷ sản
EU được nhìn nhận là một thị trường có cơ cấu nhập khẩu thuỷ sản khá
đa dạng. Các sản phẩm nhập khẩu của Liên minh bao gồm các loài cá đáy, cá
nổi, nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, các loài giáp xác,
Đứng đầu trong danh sách sản phẩm nhập khẩu cả về mặt khối lượng và
kim ngạch nhập khẩu là tôm và một số loại giáp xác khác. EU tính trong tổng
thể là một trong 3 thị trường tôm lớn nhất thế giới (EU, Nhật Bản, Mỹ) với
mức trung bình 950 nghìn tấn/năm. Trên thị trường Châu Âu có 3 dạng sản
phẩm tôm nhập khẩu chính là: tôm nước lạnh còn vỏ; tôm nước ấm còn vỏ;
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
13
Sản lượng khai thác cá nổi của EU đạt mức khá cao, nhờ đó nhu cầu về cá nổi
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
14
của khu vực không trở nên căng thẳng. Lượng nhập khẩu và chủng loại sản
phẩm này của EU thường giữ ở mức ổn định, chủ yếu nhập khẩu những sản
phẩm có giá trị gia tăng cao như cá thu đóng hộp, cá trích hun khói, cá trích
muối nhạt (matjes), cá trích rưới nước sốt và philê, cá trích cuộn,
3.2. Cơ cấu thị trường nhập khẩu cùng những yêu cầu, quy định
3.3.1. Cơ cấu thị trường nhập khẩu thuỷ sản của EU
EU có một cơ cấu thị trường nhập khẩu sản phẩm thuỷ sản vô cùng
phong phú, đa dạng. Các sản phẩm thuỷ sản không chỉ được nhập khẩu từ các
nước trong khối mà còn mở rộng ra các nước ngoài khối từ châu Mỹ, châu
Đại Dương tới châu Á, châu Phi. Đối với mỗi sản phẩm nhập khẩu thì EU lại
có một danh sách các nhà cung cấp khác nhau.
Trong khuôn khổ của khoá luận này, người viết chỉ xin phép đề cập tới
cơ cấu thị trường nhập khẩu tại một số quốc gia có hoạt động xuất nhập khẩu
thuỷ sản chủ yếu của EU với 4 sản phẩm chủ yếu của khối là cá hồi, cá đáy,
tôm, nhuyễn thể.Tuy đây không hoàn toàn là hình ảnh chung cho Khối nhưng
cũng phần nào phản ánh được tình hình thực tế của thị trường thuỷ sản EU.
a-Sản phẩm cá hồi.
Pháp là nước dẫn đầu trong tiêu thụ cá hồi của EU. Ở Pháp, cá hồi là
một trong những sản phẩm có mức nhập khẩu cao. Nguồn nhập khẩu chủ yếu
của Pháp là từ Nauy, Scốtlen, Chilê và Mỹ.
Tại Đức, cá hồi khá được ưa chuộng và có mức độ tiêu thụ đứng thứ 4
(sau cá minh thái Thái Bình Dương/Alaska, cá trích và cá ngừ California).
Những nhà xuất khẩu cá hồi có thị phần lớn trên thị trường Đức năm 2002 là:
Nauy (61%), Đan Mạch (17%), Anh (7%), Mỹ (6)%, đảo Faroe, Ailen.
Tây Ban Nha là một trong năm quốc gia nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất
thế giới. Tuy nhiên cá hồi không phải là mặt hàng nhập khẩu lớn của quốc gia
Hà Lan, Mỹ, Bănglađét, Ấn Độ.
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Hải Yến - Pháp 2 - K38E
16
Tây Ban Nha cũng là một nước nhập khẩu tôm lớn của EU, hàng năm
nhập khẩu trên dưới 200.000 tấn. Sản phẩm tôm tươi được cung cấp trên thị
trường bởi các xuất khẩu lớn như Cuba, Mỹ, Anh, Trung Quốc.
Người tiêu dùng Italia rất quan tâm đến sản phẩm tôm. Họ thường nhập
khẩu tôm từ các thị trường sau: Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Gana, Nam Phi, Cu
Ba, Pêru, Đan Mạch, Anh.
d-Nhuyễn thể
Người tiêu dùng Pháp ưa chuộng các loại nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Mặt
hàng này phần lớn được nhập khẩu từ các nước sau: Anh, Achentina, Hà Lan,
Chilê, Mỹ, Đan Mạch, Canađa, Niudilân, Pêru.
Tại Đức, mức nhập khẩu nhuyễn thể không nhiều. Nguồn nhập khẩu
chủ yếu từ các nước trong khối, đặc biệt là Italia và một số nước châu Á,
châu Mỹ khác.
Tây Ban Nha là nước nuôi trồng nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên diện tích
khá lớn nhưng hàng năm vẫn phải chờ đợi nguồn cung cấp cả nhuyễn thể hai
mảnh vỏ và nhuyễn thể chân đầu từ đảo Falkland, Marốc, Ấn Độ, Mỹ, Trung
Quốc, Môritani và một số nước EU khác.
Hàng năm người tiêu dùng Italia phải chi xấp xỉ 9 triệu USD cho việc
mua nhuyễn thể hai mảnh vỏ và gần 8 triệu USD cho nhuyễn thể chân đầu.
Tây Ban Nha, Thái Lan, Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Marốc, Nam Phi, Việt Nam, Pêru,
Môritani, Xênêgan là những nhà xuất khẩu nhuyễn thể chính vào thị trường
này.
3.3.2. Những yêu cầu quy định chung về chất lượng thuỷ sản nhập khẩu
vào EU
Để tạo thuận lợi cho việc quản lý chất lượng thuỷ sản nhập khẩu, EU
xếp các nước thứ 3 (các nước không phải là thành viên EU) được xuất khẩu
4.1. Các quy đinh về bao bì, nhãn hiệu và xuất xứ hàng hoá
Với mục đích đảm bảo vệ sinh và đặc biệt là cho phép truy nguyên
(truy tìm nguồn gốc) sản phẩm thuỷ sản, luật pháp EU đòi hỏi tất cả các bao
gói hàng hoá phải có tên nước xuất xứ và dấu chấp nhận của cơ quan kiểm