Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHoá luận tốt nghiệp
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÀI CHÍNH
THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG
HOÁ CỦA DNN&V
GV hướng dẫn : TS. Nguyễn Hữu Khải
SV thực hiện : Bùi Xuân Thắng
Lớp : A6 K38-KTNT
1.1. Thuế xuất nhập khẩu 19
1.2. Thuế giá trị gia tăng 20
1.3. Thuế tiêu thụ đặc biệt 21
1.4. Thuế thu nhập doanh nghiệp 21
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 3
1.5. Các loại thuế khác 21
2. Biện pháp hỗ trợ vốn sản xuất hàng xuất khẩu cho DNN&V 23
2.1 Các biện pháp đầu tư 23
2.1.1. Quỹ đầu tư mạo hiểm 24
2.1.2. Quỹ hỗ trợ phát triển 24
2.2 Các biện pháp tài chính tín dụng 26
2.2.1. Tín dụng ngân hàng 26
2.2.2. Cho thuê tài chính 27
2.2.3. Bảo lãnh tín dụng 28
3. Biện pháp sử dụng chính sách tỷ giá hỗ trợ xuất khẩu cho DNN&V 29
III. Vai trò của các biện pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu 30
1. Kích thích thúc đẩy các tầng lớp dân cư bỏ vốn đầu tư trực tiếp thành lập
doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu hoặc mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu
của các DNN&V hiện có 31
2. Góp phần tăng khả năng tích luỹ và huy động vốn từ bên ngoài, giúp doanh
nghiệp tăng năng lực tài chính để phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng thị
trường xuất khẩu 32
3. Góp phần quan trọng trong hướng dẫn và điều tiết hoạt động xuất khẩu của
các DNN&V, hướng các hoạt động đó vào ngành nghề và khu vực khuyến khích
xuất khẩu theo định hướng của Nhà nước 33
4. Tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của
các DNN&V trên thị trường trong nước và nước ngoài 34
sách tỷ giá hối đoái 66
CHƯƠNG III– MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG
HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CHO DNN&V BẰNG CÁC
BIỆN PHÁP TÀI CHÍNH 69
I. Định hướng phát triển DNN&V Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 và kinh
nghiệm hỗ trợ xuất khẩu cho các DNN&V ở một số nước 69
1. Định hướng phát triển DNN&V giai đoạn 2001 - 2010 69
1.1. Hỗ trợ phát triển DNN&V là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 69
1.2. DNN&V cần được ưu tiên phát triển trên cơ sở thị trường trong một số
ngành có lựa chọn 70
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 5
1.3. Ưu tiên phát triển DNN&V ở nông thôn cả trong nông nghiệp và dịch
vụ, coi DNN&V là một bộ phận quan trong chiến lược công nghiệp hoá-
hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn 70
1.4. Khuyến khích phát triển DNN&V trong một số ngành, địa bàn nhất
định mà doanh nghiệp lớn không có lợi thế tham gia 71
1.5. Phát triển DNN&V trong mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp
lớn 72
1.6. Tiến tới thành lập KCN tập trung dành riêng cho khu vực DNN&V 72
2. Kinh nghiệm của một số nước (Mỹ, Nhật Bản, CHLB Đức, Hàn Quốc,
Malaysia, ) trong việc sử dụng các biện pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu cho
các DNN&V 72
2.1. Miễn giảm thuế thúc đẩy đầu tư 73
2.2. Cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định 74
2.3. Áp dụng các chính sách tín dụng ưu đãi 74
2.4. Thực hiện các biện pháp bảo đảm và bảo lãnh tín dụng 76
II. Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hỗ trọ xuất khẩu cho
Bảng 1
Phân loại DNN&V của khu vực EU
5
Bảng 2
Đóng góp vào GDP của khu vực DNN&V giai đoạn 1998-
2002
10
Bảng 3
Đóng góp vào xuất khẩu của khu vực DNN&V
ở một số nước trên thế giới
16
Bảng 4
Trình độ công nghệ của các DNN&V thành phố HCM năm
2000
38
Bảng 5
Kim ngạch xuất khẩu DNN&V 2003
42
Bảng 6
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của DNN&V Việt nam
giai đoạn 2000-2003
44
Bảng 7
Cho vay theo cơ cấu mặt hàng năm 2003
54
Bảng 8
Cho vay theo cơ cấu thị trường năm 2003
55
Bảng 9
Kết quả hoạt động tín dụng xuất khẩu tại quỹ hỗ trợ phát
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT
DNN&V Small and medium Enterprise Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNN State-owned Enterprise Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN Private Enterprise Doanh nghiệp tư nhân
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
NHNN State Bank Ngân hàng Nhà nước
NHTMQD
State commecial Bank Ngân hàng thương mại quốc
doanh
NHTM Commercial bank Ngân hàng thương mại
NHNON Bank for agriculture and rural
development
Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn
ICB Industrial and commecial Bank Ngân hàng công thương
VCB Vietnam commecial Bank Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam
BIDV Bank for invesment and
development of Vietnam
Ngân hàng đầu tư và phát triển
HTPT Hỗ trợ phát triển
BLTD Bảo lãnh tín dụng
GTGT Value Added Giá trị gia tăng
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
WTO World trade organization Tổ chức thương mại thế giới
GATT General agreement on trade and
thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
hướng về xuất khẩu.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách
biện pháp đổi mới và phát triển kinh tế xã hội. Luật Doanh nghiệp ban hành năm
2000 tháo gỡ khó khăn và tạo điệu kiện dễ dàng cho thành lập doanh nghiệp, số
lượng doanh nghiệp đã không ngừng tăng lên. Năm 2001, Chính phủ ban hành
Nghị định 90/2001/NĐ-CP về “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”
(Nghi định 90) đồng thời thành lập Hội đồng khuyến khích phát triển DNN&V và
Cục Phát triển DNN&V làm cơ quan đầu mối thực hiện các chương trình hỗ trợ
DNN&V. Nhờ những chính sách chủ trưởng đúng đắn của Đảng, DNN&V Việt
Nam đã bước đầu được hoạt động trong một môi trường khá thuận lợi và cũng đạt
được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những kết quả đó chưa tương xứng với
vị trí và vai trò của DNN&V. Phần lớn các DNN&V vừa mới ra đời còn non trẻ,
hạn chế về nhiều mặt không chỉ là năng lực tài chính mà còn năng lực công nghệ,
nguồn nhân lực, tên tuổi thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường nhìn chung
cũng rất yếu kém.
Nhận thức được điều đó, người viết chọn đề tài: “Một số biện pháp tài
chính khuyến khích xuất khẩu hàng hóa của các DNN&V” làm đề tài Khoá
luận tốt nghiệp của mình với hy vọng cùng các công trình nghiên cứu chung góp
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 11
phần xây dựng các giải pháp tài chính hỗ trợ hiệu quả hoạt động xuất khẩu của các
DNN&V.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm lý luận cũng như thực tiễn hoạt động sản
xuất kinh doanh xuất khẩu của các DNN&V, từ đó xây dựng, kiến nghị những giải
pháp tài chính phù hợp nhằm khuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu cho khu vực
DNN&V, thực hiện mục tiêu đề ra trong Nghị định 90 nói riêng và chiến lược phát
triển kinh tế xã hội chung của đất nước.
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 12
bộ Cục Phát triển DNN&V, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; cán bộ Thư viện Quốc gia,
Viện Quản lý kinh tế thế giới đã giúp em hoàn thành xuất sắc khoá luận này.
Hà Nội ngày 20 tháng 12 năm 2003.
Sinh viên thực hiện
Bùi Xuân Thắng
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNN&V)
BẰNG CÁC BIỆN PHÁP TÀI CHÍNH
I. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNN&V)
1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1 . Tình hình phát triển và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNN&V) ở một số nước trên thế giới.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) tuy có mặt ở rất nhiều nền kinh tế trên
thế giới, nhưng lại không có một điểm chung thống nhất giữa các quốc gia về khái
niệm cũng như tiêu thức xác định DNN&V. Điều này thể hiện sự khác nhau về
hoàn cảnh lịch sử, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội giữa các quốc gia, đồng thời
thể hiện sự khác nhau trong các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các DNN&V.
Tuy nhiên, việc xác định thế nào là một DNN&V lại có ý nghĩa rất quan
trọng để xác định đúng đối tượng hỗ trợ. Nếu xác định rộng thì các chính sách ưu
đãi lại không đủ sức bao quát, tác dụng hỗ trợ theo đó giảm đi rất nhiều. Ngược
lại, nếu xác định hẹp khái niệm DNN&V thì hiệu quả của sự hỗ trợ lại ít có tác
dụng đến nền kinh tế. Qua thực tiễn nhiều nước, trong đó có một số nước có điều
kiện kinh tế và trình độ phát triển tương tự Việt Nam, có thể thấy rằng các nước
giữa các ngành trong khi có một thực tế là đặc điểm kinh tế giữa các ngành nhiều
khi quyết định qui mô doanh nghiệp.
b. Khu vực ASEAN
Tại các nước ASEAN, khái niệm về DNN&V còn có sự khác nhau. Song
nhìn chung các nước Singapore, Malaixia, Inđônêxia, Thái lan, Philippin đều dựa
vào 2 tiêu chí cơ bản để phân định một doanh nghiệp thuộc quy mô vừa, nhỏ hay
lớn, đó là: số lượng lao động được sử dụng và tổng vốn đầu tư. Singapore quan
niệm DNN&V là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 100 người và
vốn đầu tư dưới 1,2 triệu đô la Singapore. Với Malaixia, DNN&V là những doanh
nghiệp có số lao động dưới 200 người và vốn đầu tư dưới 2,5 triệu riggit. Còn với
Inđônêxia, Thái Lan và Philippin thì có sự phân loại chi tiết hơn thành doanh
nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ (micro-enterprise) trong
đó doanh nghiệp siêu nhỏ thường là những hộ kinh doanh gia đình.
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 14
Như vậy, quan niệm thế nào là một DNN&V ở một số nước ASEAN còn có
sự khác nhau, đồng thời sự phân định này chỉ mang ý nghĩa tương đối và chủ yếu
căn cứ vào quy mô về vốn và lao động. Do đó cách xác định DNN&V cũng mắc
phải một số nhược điểm như cách phân loại một số nước trong khu vực EU, tức là
chưa xét đến yếu tố đặc điểm kinh tế ngành.
c. Mỹ
Tại Mỹ, nơi mà khi nhắc tới, người ta nghĩ ngay đến những tập đoàn kinh tế
hùng mạnh thì vai trò của các DNN&V cũng rất được đề cao. Việc phân loại các
DNN&V cũng đã tính đến sự khác biệt giữa các ngành. Bên cạnh những tiêu chí
định lượng như: Lợi nhuận với mức tăng trưởng hàng năm dưới 150.000 USD
trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và thương mại hay các tiêu chuẩn về lao
động, DNN&V còn được phân loại theo từng ngành riêng biệt như sau:
- Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp: Tổ chức có từ 250 lao động trở xuống
được coi là doanh nghiệp nhỏ.
quan, tổ chức này đưa ra không sai lệch nhiều so với tiêu chuẩn phổ biến chung
của khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, các tiêu chí của các cơ quan đưa ra về
DNN&V lại khác nhau đáng kể. Cụ thể là:
+ Ngân hàng công thương Việt Nam đưa ra qui định DNN&V là doanh
nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, số lao động
thường xuyên dưới 500 người và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng.
+ Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội và Bộ Tài chính quy định tiêu chí xác
định DNN&V tại Thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17/6/1993. Theo đó,
DNN&V là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên dưới 100 người, doanh thu
hàng năm dưới 10 tỷ, vốn pháp định dưới 1 tỷ.
+ Thành phố Hồ Chí Minh xác định doanh nghiệp qui mô vừa là doanh
nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động có trên 100 người, doanh thu
hàng năm trên 10 tỷ đồng. Doanh nghiệp qui mô nhỏ có các tiêu thức dưới mức
trên.
+ Dự án VIE/ US/ 95/ 004 hỗ trợ DNN&V ở Việt Nam do UNIDO tài trợ coi
doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 30 người, vốn đăng ký
dưới 0,1 triệu USD. Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 30
người đến 200 người và vốn đăng ký dưới 0,4 triệu USD. Ngoài hai tiêu thức này,
các DNN&V theo tiêu chuẩn của UNIDO là các doanh nghiệp tư nhân đã đăng kí
kinh doanh theo Luật công ty và Luật doanh nghiệp. Đó cũng là các doanh nghiệp
không thuộc diện siêu nhỏ như các hộ gia đình, cá nhân có đăng kí kinh doanh.
+ Quỹ hỗ trợ DNN&V thuộc chương trình Việt Nam - EU coi DNN&V là
những doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 500 người và vốn điều lệ từ 50.000
USD đến 300.000 USD tức từ khoảng 650 triệu đồng đến 3,9 tỷ đồng Việt Nam
1
.
…và còn nhiều cách quan niệm khác nữa.
Như vậy, mỗi tổ chức, mỗi dự án đều đưa ra định nghĩa riêng về DNN&V.
Điều này tạo ra sự thiếu nhất quán và khó khăn cho Chính phủ trong việc đưa ra
các chính sách ưu đãi một cách công bằng và hiệu quả và cũng gây khó khăn cho
mức vốn đăng ký không quá 10 tỷ VND và/hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người”.
Tuy nhiên, các chính sách và chương trình hỗ trợ của Chính phủ đối với các
DNN&V vẫn gặp khó khăn vì đây thực sự vẫn chưa phải là một định nghĩa toàn
diện về DNN&V. Định nghĩa được đề cập trong Nghị định 90 tuy đã đưa ra hai
tiêu chí quan trọng nhất là lao động và vốn đăng kí để xác định DNN&V, nhưng
định nghĩa này sẽ hoàn chỉnh hơn nếu nó bao hàm cả tiêu chí về doanh thu và tổng
tài sản. Bởi lẽ, vẫn tồn tại một thực tế là các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương
mại và dịch vụ về bản chất có doanh thu cao hơn nhưng tổng vốn đăng kí nhỏ hơn
so với các doanh nghiệp sản xuất. Một trở ngại khác liên quan đến định nghĩa hiện
tại về DNN&V, đó là trong định nghĩa hiện nay không quy định các tiêu chí để
phân chia các DNN&V thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Điều này gây khó khăn cho Chính phủ trong việc xác định trọng tâm hỗ trợ dựa
trên quy mô doanh nghiệp trong nội bộ khu vực DNN&V.
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 17
2. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế quốc dân và trong
hoạt động xuất khẩu.
Trước đây, với sự trỗi dậy của các tập đoàn kinh tế khổng lồ ở các cường
quốc Anh, Mỹ, Nhật như Dupont, General Motor, Ford, IBM… khiến nhiều người
cho rằng hiệu quả đồng nghĩa với qui mô lớn, một doanh nghiệp với quy mô vừa
và nhỏ chỉ được xem như một doanh nghiệp kém hiệu quả, tiền công thấp và cơ sở
sản xuất lạc hậu.
Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, sự đi lên của thời đại trí
thức, trong môi trường cạnh tranh gay gắt và không ngừng biến đổi như hiện nay,
khái niệm “lớn là hiệu quả” đã được thay bằng khái niệm “nhỏ là đẹp”(small is
beautiful). “Nền kinh tế thế giới càng lớn và rộng mở thì các công ty nhỏ và trung
bình sẽ càng thống trị nhiều hơn”(Theo Nghịch lý toàn cầu - John Naisbitt, trang
27-28). Điều đó thể hiện qua việc các DNN&V cung cấp phần lớn việc làm cho xã
68% tổng lượng vận chuyển hàng hoá
3
. Tính đến tháng 6/2003, tổng số DNN&V
đăng kí kinh doanh vào khoảng 20 vạn doanh nghiệp (Chưa kể gần 2 triệu hộ kinh
doanh cá thể), trong đó DNNN chiếm gần 3,5% còn lại chủ yếu là doanh nghiệp
ngoài quốc doanh chiếm xấp xỉ 97%. Các DNN&V hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (17%); xây dựng (14%), nông nghiệp
(14%); số còn lại là lĩnh vực dịch vụ (55%). Đóng góp thông qua nộp thuế của
DNN&V năm 2001 chiếm 6,4% tổng ngân sách Quốc gia, tăng lên hơn 7% trong
năm 2002 (tăng 13% so với năm 2001), vượt chỉ tiêu do Quốc hội đề ra là 3,6%.
Quý I/2003, thuế nộp ngân sách của DNN&V chiếm khoảng 11% tổng số thu
GDP, tăng 28,7% so với cùng kỳ và đạt 26,7% chỉ tiêu do Quốc hội đề ra.
Bảng 2. ĐÓNG GÓP VÀO GDP CỦA KHU VỰC DNN&V
GIAI ĐOẠN 1998-2002 ( Đơn vị: Tỷ đồng)
Khu vực 1998 1999 2000 2001 2002
DNNN 144.406 154.927 170.141 186.958 200.045
Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh 180.396 196.057 212.879 234.011 250.392
Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài 36.214 48.958 58.626 63.524 67.971
Tổng số DNN&V 361.016 399.942 441.646 484.493 518.408
DNNN 40% 39% 39% 39% 39%
Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh 50% 49% 48% 48% 48%
Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài 10% 12% 13% 13% 13%
Tổng(%) 100% 100% 100% 100% 100%
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2001, 2002, “Niên giám thống kê”
2.2. Góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho
người lao động, tạo sự ổn định xã hội.
Sự tăng trưởng lâu dài và ổn định về số lượng việc làm do các DNN&V tạo
ra góp phần làm cho mức thu nhập của người dân nói chung được giữ vững hoặc
nâng cao, sức mua xã hội được duy trì và cải thiện, tăng cường tính linh hoạt và
thích ứng với nền kinh tế, làm dịu bớt những khó khăn, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển ổn định và bền vững.
Ở Việt Nam, hàng năm có thêm khoảng 1,2 - 1,4 triệu người đến tuổi lao
động; ngoài ra, số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển sang làm việc trong
các ngành phi nông nghiệp cũng không nhỏ. Yêu cầu mỗi năm phải tạo thêm được
hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội mạnh đối với Chính phủ và các
doanh nghiệp. Việc tạo thêm việc làm mới không chỉ giải quyết vấn đề xã hội, mà
là giải quyết vấn đề cơ bản của phát triển hiện nay ở nước ta. Trong những năm
qua, các DNN&V mới thành lập và mở rộng quy mô, địa bàn kinh doanh theo
Luật Doanh nghiệp 2000 thực sự là nguồn cung chủ yếu về chỗ làm việc mới cho
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 20
xã hội. Theo báo cáo điều tra của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
cho thấy đối với các doanh nghiệp tư nhân trung bình 70 - 80 triệu vốn đầu tư tạo
ra được một chỗ làm việc; trong khi đó đối với DNNN, thì số vốn tương ứng là
210-280 triệu (Tức là cao hơn gần gấp 3 lần). Trong gần 4 năm qua, các số liệu
thống kê cho thấy đã có khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc mới đã được tạo ra
nhờ các DNN&V, đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp
dân doanh xấp xỉ bằng tổng số lao động làm việc trong các DNNN
4
. Có không ít
DNN&V đã tạo công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng nghìn lao động,
công ty TNHH Đỉnh Vàng (Hải Phòng): 6500 lao động, công ty TNHH Kim Anh
(Sóc Trăng): 3400 lao động là những ví dụ. Các số liệu cũng cho thấy số lượng lao
động trong các DNN&V chiếm gần một nửa (49%) lực lượng lao động trong tất cả
các loại hình doanh nghiệp. Trong lĩnh vực cơ bản của ngành công nghiệp chế
động, đất đai, công nghệ quản lí. Vốn có vai trò lớn trong việc đầu tư trang thiết
bị, cải tiến công nghệ, nâng cao tay nghề cho người lao động và mở rộng quy mô
sản xuất. Tuy vậy, thực tế lại cho thấy rằng ở một số nền kinh tế trong đó có Việt
nam, DNN&V hiện đang rất thiếu vốn trong khi có một nguồn vốn nhàn rỗi lớn
tiềm ẩn trong nền kinh tế chưa được huy động và khai thác một cách hiệu quả.
Việc khởi sự doanh nghiệp với lợi thế vốn nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, tính
chất phân tán rải rác đi sâu vào nhiều vùng, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế như
DNN&V là cơ hội để huy động được các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các
tầng lớp dân cư vào sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn hình thức doanh nghiệp tư
nhân, các hộ gia đình, hợp tác xã vừa huy động nguồn vốn tự có của cá nhân vừa
tận dụng được các nguồn đầu tư đa dạng trong nền kinh tế. Từ đó dần dần tạo ra
tập quán dùng tiền vào đầu tư cho sản xuất kinh doanh thay vì chỉ để tiền nhàn rỗi.
Hơn nữa, với quy mô nhỏ gọn của mình, các DNN&V thường sử dụng
nguyên vật liệu tại địa phương để làm xuất phát điểm tiến hành sản xuất kinh
doanh, điều này rất thiết thực đối với các ngành thủ công truyền thống, tiểu thủ
công nghiệp, DNN&V vì thế có thể góp phần huy động nguồn lực toàn xã hội.
Theo thống kê hiện nay Việt nam có trên 1.400 làng nghề truyền thống ra đời
từ hàng trăm năm nay, đó không chỉ là một phần bản sắc văn hoá dân tộc mà có là
cơ sở để có thể phát huy hiệu quả kinh tế vùng và của cả đất nước. Xuất phát từ
thực tế là các ngành nghề truyền thống thường không tập trung ở một vùng nhất
định nào mà nó hình thành và phát triển ở nhiều địa phương khác nhau, sự đa dạng
và tính linh hoạt trong hoạt động của các DNN&V có thể đáp ứng tốt nhất điều
kiện này.
Sản phẩm truyền thống không được sản xuất hàng loạt mà chủ yếu là sản
xuất theo quy mô nhỏ. Nhiều sản phẩm truyền thống chỉ có thể được tạo ra bằng
những đôi bàn tay khéo léo với sự sáng tạo của các nghệ nhân mang tính chất cha
truyền con nối. Theo thống kê hiện nay Việt nam có trên 1.400 làng nghề truyền
thống ra đời từ hàng trăm năm nay, đó không chỉ là một phần bản sắc văn hoá dân
tộc mà có là cơ sở để có thể phát huy hiệu quả kinh tế vùng và của cả đất nước.
Xuất phát từ thực tế là các ngành nghề truyền thống thường không tập trung ở một
lượng.
- Cơ cấu ngành thay đổi: DNN&V phân bố trong hầu hết các ngành trong nền
kinh tế, cả ngành nghề hiện đại và ngành nghề truyền thống theo phương thức lấy
hiệu quả làm thước đo, đưa cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tích cực.
- Cơ cấu lãnh thổ thay đổi: DNN&V phân bố ở hầu hết mọi khu vực lãnh thổ,
đặc biệt tại các vùng, các địa bàn mà các doanh nghiệp lớn bỏ qua hay các vùng
kém lợi thế. DNN&V góp phần đáng kể vào quá trình đô thị hoá phi tập trung
thông qua việc phát triển DNN&V ở nông thôn cho phép giảm dần lực lượng lao
động trong nông nghiệp chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ mà không
có hiện tượng di dân lên khu vực đô thị. Song song đó là xu hướng hình thành
những khu vực tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ nhỏ ngay tại khu vực
nông thôn, tiến tới hình thành các đô thị ngay trong lòng nông thôn, đó chính là
Một số biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
DNN&V
Bùi Xuân Thắng – Anh 6 K38 KTNT 23
hiệu quả đô thị hoá phi tập trung mà việc phát triển các DNN&V mang lại. Tuy
nhiên, DNN&V ở Việt Nam chưa phát huy lợi thế này mà vẫn còn tập trung quá
nhiều ở một lĩnh vực, ở một địa bàn hoạt động, chủ yếu ở các khu đô thị.
Bên cạnh đó, phát triển DNN&V, với lợi thế là một loại hình doanh nghiệp
năng động, linh hoạt và sáng tạo trong kinh doanh, góp phần đưa số lượng các
doanh nghiệp tăng lên đáng kể, làm tăng tính cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi ro
trong nền kinh tế. DNN&V cũng tạo ra số lượng lớn và đa dạng các chủng loại
hàng hóa, dịch vụ với giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu đa dạng, nhất là các nhu cầu
nhỏ lẻ của người tiêu dùng phù hợp với thị hiếu và tập quán của từng địa phương.
Ngoài ra, các DNN&V có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ và chuyển
hướng kinh doanh nhanh giúp cho nền kinh tế năng động hơn. Sự có mặt của các
DNN&V trong nền kinh tế một mặt có tác dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn
kinh doanh có hiệu quả hơn thông qua các hợp đồng phụ làm đại lý, vệ tinh cho
các doanh nghiệp lớn, giúp sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, cung cấp nguyên liệu,
thâm nhập vào các ngõ ngách của thị trường mà các doanh nghiệp lớn không thể
trên thế giới.
Ở các nước thành viên OECD, vai trò của DNN&V trong hoạt động xuất
khẩu được thể hiện rõ nét. Hiện nay, khoảng 25% DNN&V trong ngành công
nghiệp của các nước thành viên OECD có khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế. Con số này chắc chắn sẽ tăng lên trong tương lai. Khu vực DNN&V ở các
nước này đóng góp 25-35% tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng công
nghiệp trên toàn thế giới và chiếm một tỉ lệ nhỏ hơn một chút trong đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Bảng 3 dưới đây cho thấy rõ hơn sự đóng góp của khu vực
DNN&V vào xuất khẩu của một số nước trên thế giới.
Bảng 3: ĐÓNG GÓP VÀO XUẤT KHẨU CỦA CỦA KHU VỰC DNN&V
Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Nước
Tỷ lệ xuất khẩu
(%)
A. Các nền kinh tế phát triển
1. Mỹ (2001)
2. Nhật bản (2000)
3. Pháp (2000)
4. Hàn Quốc (2000)
5. Đài Loan (2001)
6. Xingapo (2000)
B. Các nền kinh tế đang phát triển
1. Thái Lan (2000)
2. Philippin (1999)
3. Inđônêxia (1998)
4. Trung Quốc (1998)
31
13,5
26
43
hành một vài công đoạn của quá trình sản xuất, hoặc gia công theo đơn đặt hàng
của nước ngoài, hay sản xuất những sản phẩm yêu cầu công nghệ không quá cao
như các sản phẩm thủ công truyền thống, hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, với thế mạnh
về số lượng, các DNN&V có thể kết hợp với nhau để sản xuất ra những sản phẩm
có giá trị xuất khẩu cao hơn. Bên cạnh đó, DNN&V có khả năng thích ứng, phát