Đầu tư nước ngoài tại Hải Dương. Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

1
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, đầu tư nước ngoài trở thành một
xu hướng mạnh đối với các nước phát triển trên thế giới. đối với các nước
chậm phát triển và đang phát triển thì vốn và công nghệ là chìa khoá là điều
kiện hàng đầu để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước nên nhiều quốc gia đã sớm nắm bắt và tận dụng cơ hội này để
phát triển.
Đối với Việt Nam trong điều kiện chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang kinh tế thị trường lại có điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng
trưởng kinh tế chưa cao và để đưa dất nước phát triển nhanh, Đảng ta khẳng
định “phát huy cao nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài”
Hải Dương là một thành phố đang trên đà phát triển mạnh của miền
Bắc tỉnh đã xác định rõ lợi thế so sánh, xu hướng phát triển kinh tế quốc tế và
khẳng định thu hút vốn đầu tư nước ngoài là những giải pháp quan trọng để
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng và đóng góp vào sự phát triển của
cả nước nói chung. Có thể nói sau hơn 10 năm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, tỉnh Hải Dương đã thu được những kết quả quan trọng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động thu hút sử dụng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở tỉnh Hải Dương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của
tỉnh, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và hiệu quả sử dụng chưa cao.
Chính vì vậy, để nhìn lại những thành quả đã đạt được và tiếp tục đẩy mạnh
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại hải Phòng, em đã lựa chọn đề tài “Đầu
tư nước ngoài tại Hải Dương. Thực trạng và giải pháp.”.
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả
huy động và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương, vai trò của
đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế- xã hội và trên cơ sở đó đưa ra
1
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
1

tố: tình hình chính trị, chính sách – pháp luật, vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên,
trình độ kinh tế, đặc điểm văn hoá xã hội. Các nhóm yếu tố này có thể làm
tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận
chuyển, đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư, cung cấp đước nguồn nguyên liệu
đầu vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này
không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà
đầu tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ.
1.2 Tình hình chính trị
Tình hình chính trị ổn định của nơi tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng
hàng đầu để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các
khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác sự ổn định
chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó
giảm được rủi ro cho các nhà đầu tư. Một nước, một vùng không thể thu hút
được nhiều đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị luôn luôn mất ổn định.
1.3 Chính sách, pháp luật
Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lí hợp lí và ổn
định của nước chủ nhà. Môi trường này gồm những chính sách, quy định đối
với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện. Một môi
3
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
3
4
Chuyên đề tốt nghiệp
trường pháp lí hấp dẫn đầu tư nước ngoài nếu có các chính sách, quy định hợp
lí và tính hiệu lực cao trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lí quan trọng
không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho
chính các nhà đầu tư trong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài.
1.4 Trình độ phát triển kinh tế

Trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, Hải Dương đã
đạt được những thành tựu đáng kể nhờ vào những lợi thế so sánh và các chính
sách, biện pháp thu hút đầu tư của mình. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
tựu đạt được, hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài tại Hải Dương trong thời
gian qua còn có nhiều khó khăn. Phát huy những thành tựu đã đạt được và
khắc phục những khó khăn, hạn chế là chủ trương của tỉnh nhằm tăng cường
thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nươc ngoài mà đặc biệt là
vốn FDI cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững của tỉnh, xứng đáng với
vị trí là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh của vùng
kinh tế Bắc Bộ và của cả nước.
2.1. Thuận lợi
2.1.1 Điều kiện tự nhiên xã hội
a. Vị trí địa lí
Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
diện tích tự nhiên 1660,78 km
2
, toạ độ địa lý ở 20
o
57' độ vĩ bắc và 106
o
18' độ
kinh đông, gồm một thành phố và 11 huyện, dân số là 1.7 triệu người, chiếm
khoảng 2.23% dân số cả nước. Hải Dương tiếp giáp với các tỉnh: Quảng Ninh,
Bắc Giang ở phía bắc; Hải Phòng ở phía đông; Thái Bình ở phía nam và
Hưng Yên, Bắc Ninh ở phía tây. Tỉnh có 2 tuyến quốc lộ lớn chạy qua: quốc
lộ 5A nối Hà Nội với Hải Phòng và quốc lộ 18 nối Bắc Ninh với Quảng Ninh.
Nằm trên hành lang Hà Nội - Hải Phòng, Hải Dương có vị trí quan trọng
trong tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Thành phố Hải Dương trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá khoa học kỹ
thuật của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45 km về phía

+ Tiểu vùng có địa hình tương đối cao từ phía bắc huyện Bình Giang,
Cẩm Giàng, nam Chí Linh, Nam Sách, Gia Lộc và phần Tây Bắc Tứ Kỳ.
6
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Tiểu vùng có địa hình trung bình: Gồm phần nam huyện Ninh Giang,
huyện Thanh Miện.
+ Tiểu vùng thấp gồm các huyện Tứ Kỳ, phần nam Kinh Môn, đông
Nam Sách, và Thanh Hà, có địa hình dạng vàn thấp và trũng.
c. Khí hậu
Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4
mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 -
1.700 mm. Nhiệt độ trung bình 23,30C; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ
ẩm tương đối trung bình 85 - 87%. Khí hậu thời tiết đặc biệt thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt
là sản xuất cây rau mầu vụ đông và các ngành khác. Dựa vào nhiệt độ bình
quân dưới 16
o
C và lượng mưa bình quân nhỏ hơn 1500 mm, khí hậu Hải
Dương có thể chia làm 2 vùng:
+ Vùng khí hậu bán sơn địa: Gồm huyện Chí Linh và các xã vùng đồi
huyện Kinh Môn, có nhiệt độ thấp hơn các huyện khác, năm rét đậm thường
có sương muối, tính chất hạn rõ ràng hơn các huyện khác.
+ Vùng khí hậu đồng bằng: Gồm các huyện còn lại của tỉnh, có nền
nhiệt lượng cao, mưa phùn đông xuân nhiều hơn.
Khí hậu của tỉnh Hải Dương không khắc nghiệt, ổn định, ít xảy ra thiên
tai như hạn hán, bão lụt, … rất thuận lợi cho đời sống và cho sản xuất. Đây là
một trong những điều kiện rất quan trọng tạo được tâm lí yên tâm cho các nhà

: 0,8 –
1,7 %, Al
2
O
3
17 – 19% cung cấp đủ nguyên liệu cho sản xuất sứ trong tỉnh và
một số tỉnh khác. Sét chịu lửa ở huyện Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất
lượng tốt, tỷ lệ Al
2
O
3
từ 23,5 – 28%, Fe
2
O
3
từ 1,2 – 1,9 % cung cấp nguyên
liệu sản xuất gạch chịu lửa trong tỉnh và một số tỉnh khác. Bôxít ở huyện Kinh
Môn, trữ lượng 200.000 tấn, hàm lượng Al
2
O
3
từ 46,9 – 52,4%, Fe
2
O
3
từ 21 –
26,6%, SiO
2
từ 6,4 – 8,9%.
Tài nguyên khoáng sản phong phú sẽ làm giảm chi phí đầu vào, chi phí

- Tài nguyên rừng
Là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng nhưng Hải Dương có
diện tích rừng ở vùng đồi núi thuộc 2 huyện Chí Linh và Kinh Môn. Theo số
liệu thống kê năm 2003, diện tích rừng tập trung có 13975 ha, trong đó đất có
rừng: 9867 ha (rừng tự nhiên: 3103 ha, rừng trồng: 6764 ha). Rừng tự nhiên
nghèo cả về số lượng lẫn chất lượng, hệ động vật rừng hầu như đã giảm sút
9
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiêm trọng; rừng trồng chủ yếu là cây bạch đàn, keo và một số ít thông, do
mới được trồng nên chưa khép tán và chất lượng không cao.
d. Dân số - Lao động
Theo số liệu của Cục Thống kê Hải Dương, dân số của tỉnh năm 1995 là
1608970 người và tính đến tháng 31/12 năm 2003 là 1695568 người, tốc độ
tăng bình quân thời kỳ này là 0, 99%/năm. Là tỉnh có quy mô dân số không cao
trong nước ta song mật độ dân số trung bình của tỉnh Hải Dương lại rất cao:
1020.95 người/km2, gấp 27 lần bình quân của thế giới và gấp gần 5 lần bình
quân cả nước. Có 1441233 người sống ở khu vực nông thôn, chiếm 85% dân
số toàn tỉnh, còn lại 254335 người sống ở khu vực thành thị chỉ chiếm 15%.
Lao động trong độ tuổi năm 2003 là 970366 người, trong đó hơn 75% là lao
động nông nghiệp, tốc độ tăng lao động hàng năm (giai đoạn 1998-2003)
khoảng 2,2%/năm. Lao động nông nghiệp có trình độ khá cao: 24% lao động
có trình độ văn hoá cấp III, 61% có trình độ văn hoá cấp II và 15% có trình độ
cấp I.
Như vậy, nguồn nhân lực Hải Dương khá dồi dào, có văn hoá, có khả
năng tiếp thu khoa học kĩ thuật, chịu khó học hỏi tiếp thu kinh nghiệm và
bước đầu có ý thức sản xuất hàng hoá…đó là thế mạnh rất lớn. Tuy vậy, đất
hẹp, người đông- do hệ quả của việc tăng dân số quá nhanh trong những năm

1652.9
5979
3.6
511
1664.7
6715
4.03
506
1675.6
6667
3.97
480
1678.4
6925
4.1
518
1695.5
7340.5
4.3
521
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2004; NXB TK 2004.
2.1.2 Cơ sở hạ tầng
Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện
thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.
+ Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố
hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh .
- Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là
đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại; các tuyến đường tỉnh lộ những năm qua được
đầu tư nâng cấp tương đối đồng bộ cho nên rất thuận tiện cho việc đi lại của
ngươi dân và vận chuyển hàng hoá :

+ Hệ thống thương mại khách sạn: Trên địa bàn tỉnh có 18 doanh nghiệp
nhà nước, 12 Hợp tác xã Thương mại, 54 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
20.298 cửa hàng kinh doanh thương mại. Có 1 Trung tâm thương mại tại thành
phố Hải Dương, là đầu nối giao dịch và xúc tiến thương mại, thông tin, tiếp thị
dự báo thị trường tư vấn môi giới đàm phán ký kết hợp đồng
Hệ thống khách sạn, nhà hàng bao gồm quốc doanh, tư nhân và các tổ
chức khác, có đầy đủ tiện nghi sang trọng, lịch sự đáp ứng nhu cầu của khách
12
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
12
13
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng trong nước và quốc tế.
+ Cơ sở y tế: mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật y tế từ tỉnh đến huyện
được củng cố nâng cấp đáp ứng nhu cầu cơ bản trong khám và chữa bệnh cho
nhân dân. Đến nay toàn tỉnh có 6 bệnh viện tuyến tỉnh, 1 khu điều dưỡng, 1
khu điều trị bệnh phong và 13 trung tâm y tế huyện, 6 phòng khám đa khoa
khu vực, 236 trạm y tế xã phường. Bình quân 10000 dân có 4 bác sỹ, 21
gường bệnh. Ở tuyến tỉnh đã được đầu tư một số thiết bị hiện đại trong khám
điều trị bệnh như: Máy siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp..
Đây là những cơ sở hạ tầng hiện có và ngày một nâng cấp hoàn chỉnh
để thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Hải Dương.
2.1.3 Cơ chế chính sách
a. Xúc tiến, vận động đầu tư
Trong những năm gần đây, tỉnh tạo mọi điều kiện thuận lợi có thể cho
nhà đầu tư đến Hải Dương hoạt động sản xuất, kinh doanh, không phân biệt
nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài. Triển khai thực hiện tốt Luật Đầu tư,
Luật Doanh nghiệp để khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển
mạnh các loại hình kinh tế dân doanh.
Các sở, ngành đẩy mạnh việc cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ xúc

Tỉnh đã và đang tăng cường cải cách thủ tục hành chính theo Đề án cải
cách thủ tục hành chính theo chế độ “1cửa” của tỉnh nhằm tạo cơ chế thông
thoáng, để tăng cường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Tỉnh đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa,
một đầu mối” trong các khâu liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp như: thẩm định dự án đầu tư; chấp thuận đầu tư cho
thuê đất; cấp giấy phép xây dựng; cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư; cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh... tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh
chóng đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
14
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
14
15
Chuyên đề tốt nghiệp
d. Hỗ trợ doanh nghiệp
Tỉnh đẩy mạnh nghiên cứu, tìm giải pháp tạo chuyển biến mới trong
công tác thu hút vốn đầu tư, song song với giải quyết kịp thời các vướng mắc
phát sinh của các DN. Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các DN đẩy nhanh
tiến độ thực hiện các dự án, sớm đưa vào hoạt động. Phát huy tối đa năng lực
sản xuất hiện có của các DN, nhất là DN sản xuất điện, xi măng, vật liệu xây
dựng..Bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào
các KCN, tỉnh tiếp tục ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các cụm công
nghiệp đã được phê duyệt.
Xác định, tạo môi trường đầu tư thuận lợi có ý nghĩa quyết định đối với
việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nên trong thời gian qua, tỉnh
Hải Dương đã có các cơ chế chính sách thông thoáng, tạo điều kiện hỗ trợ,
khuyến khích các nhà đầu tư và xin được thực hiện cơ chế ủy quyền của các
Bộ ngành trong việc thực hiện cơ chế “một cửa tại chỗ” cho các nhà đầu tư,
thông qua một loạt quyết định của UBND tỉnh và một số Bộ, ngành. Sự ra đời
của những chính sách và qui chế đó đã tạo điều kiện rất thuận lợi, cải thiện

Tuệ Tĩnh (thời Trần), Nguyễn Trãi (thời Lê) ,Trần Nguyên Đán, Mạc Đĩnh
Chi, Phạm Sư Mạnh, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Hải Thượng Lãn
Ông Lê Hữu Trác …với gần 500 Tiến sỹ nho học
Hiện nay, Hệ thống giáo dục của tỉnh rất phát triển. Hằng năm, phong
trào giáo dục Hải Dương luôn được Bộ đánh giá cao, liên tục được khen
thưởng 11/11 chỉ tiêu công tác, có năm được Bộ tặng cờ thi đua 'Đơn vị dẫn
đầu' toàn quốc (2001).
Điều đó cho thấy Hải Dương có truyền thống văn hóa tốt đẹp, lâu đời,
có phong tục tập tập quán đẹp và lối sống văn minh hiện đại, là tỉnh có trình
độ giáo dục cao. Người dan Hải Dương thông minh, cần cù, và rất hoà đồng,
hiếu khách. Đây chính là một nhân tố quan trọng để thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài đến với Hải Dương để giúp họ giảm được chi phí đào tạo nguồn
nhân lực và tạo điều kiện cho họ hoà nhập với môi trường mới tốt hơn.
16
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
16
17
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2 Khó khăn
Tuy nhiên, trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh hiện nay vẫn
gặp phải một số khó khăn nhất định dưới đây:
* Nuớc ta đang chuyển đổi hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài.
Do đó, không ít nhà đầu tư phân vân cho rằng, khi Nhà nước triển khai luật
mới sẽ có vướng mắc, gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư.
* Các doanh nghiệp nước ngoài tiếp tục mong muốn đầu tư “bám”
theo quốc lộ 5 để thuận lợi trong vận tải hàng hóa nên việc thu hút đầu tư vào
vùng sâu, vùng xa vẫn khó khăn.
* Cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn , cùng với việc gia tăng sức ép cạnh
tranh một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nứơc ngoài sé gặp khó khan, kinh
doanh thua lỗ dẫn đến ngừng triển khai dự án hoặc rơi vào tình trạng phá sản.

Những năm qua, Hải Dương nổi lên là một tỉnh có nhiều biến chuyển
rõ nét trong tất cả các mặt đời sống kinh tế - xã hội. Tốc độ tăng trưởng GDP
khá cao, bình quân 10,8%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá. Điều này có
được một phần là do thu hút đầu tư của tỉnh đạt hiệu quả tích cực. Có được
kết quả đó là do Hải Dương đã nỗ lực trong cải cách hành chính, tập trung xây
dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, điện nước, bưu chính-viễn thông.
Từ đó tạo động lực và môi trường phát triển kinh tế, thu hút vốn đầu tư. Tỉnh
đã kết hợp huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển
và đã thu được những kết quả quan trọng, góp phần tăng quy mô nền kinh tế,
tăng thu ngân sách nhà nước, cơ sở hạ tầng được cải tạo nâng cấp và xây
dựng mới, hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu đô thị
mới, các thị trấn, thị tứ, khu du lịch sinh thái... góp phần làm thay đổi tích cực
diện mạo đô thị, nông thôn. Đồng thời với sự phát triển cơ sở hạ tầng, đã từng
bước xây dựng môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
tạo ra nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có tính năng động hơn.
Hiện nay, Hải Dương là một trong những tỉnh, thành phố có tốc độ thu
hút đầu tư cao nhất cả nước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh đầu năm
2007 so với các tỉnh thành khác trên cả nước được thể hiện dưới bảng sau
18
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
18
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 2 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo địa phương
01/01-22/3/2007
Chỉ tiêu
Khu vực
Số dự án được cấp
giấy phép (Dự án)
Số vốn đăng ký (nghìn USD)

Tây Ninh 3 7215 3660
Bình Dương 4 227600 63000
19
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
19
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Đồng Nai 6 23470 13480
Bà Rịa - Vũng Tàu 3 167350 65850
TP- Hồ Chí Minh 30 143714 50597
Long An 3 13700 5800
Trà Vinh 1 10000 3000
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu t ư tỉnh Hải Dương
Qua bảng trên ta có thể thấy Hải Dương là một trong những tỉnh dẫn đầu
về thu hút đầu tư nước ngoài ở miền Bắc nói riêng và cả nước nói chung, đó là
những tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Dương, Bà Rịa
Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh. Chúng ta có thể thấy được vị trí của Hải Dương
trong thu hút đâu tư nước ngoài của cả nước là vô cùng quan trọng, điều này
góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung của cả nước.
20
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
20
21
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1 Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo nguồn vốn
- Cơ cầu nguồn vốn nói chung của tỉnh
Giai đoạn 2001 – 2005, trong tổng số vốn đầu tư thực hiện là 22.615 tỷ
VND, trong đó vốn đầu tư trong nước đạt 18.160 tỷ VND - chiếm 80,3% tổng
vốn đầu tư, đạt 165% so với mục tiêu. Cụ thể: Vốn đầu tư từ ngân sách trung
ương 2.958 tỷ VND - chiếm 13% tổng vốn đầu tư; Vốn ngân sách địa phương

22
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo hình thức trực tiếp, gian tiếp
22
23
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2 Cơ cầu đầu tư nước ngoài theo vùng lãnh thổ
Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo vùng, lãnh thổ cũng ngày một cân đối
hơn. Những năm đầu, FDI chủ yếu tập trung ở các huyện dọc theo các tuyến
quốc lộ, đặc biệt là quốc lộ 5. Các dự án đầu tư của nước ngoài thường tập
trung vào các khu công nghiêp lớn như KCN Đại An, KCN Phúc Điền, KCN
Nam Sách, KCN Việt Hoà – Kenmark,… và số còn lại phân bố rải rác trong
địa bàn thành phố Hải Dương hoặc phân bổ về các cụm công nghiệp ở các
huyện như CCN Phú Thứ - Kinh Môn, CCN Đồng Tâm – Ninh Giang, …
Đến nay, tuy các dự án vẫn tập trung ở đây nhưng đã có nhiêù dự án được đầu
tư ở các huyện khác không có đường quốc lộ chạy qua nhưng có lợi thế về
nguyên liệu, lao động.
-Tỉnh đã bước đầu phát huy tiềm năng phát triển của một số địa
phương, nhưng việc phát huy cạnh tranh của các vùng trong phân công lao
động xã hội còn chưa cao. Việc quy hoạch, dự báo phát triển từng lĩnh vực,
từng vùng còn nhiều bất cập.
- Xác định được các khu vực kinh tế trọng điểm là động lực và lôi kéo
sự phát triển các huyện khác mà trong đó thành phố Hải Dương là đầu tàu.
Các huyện như Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh là những trọng điểm công
nghiệp không những đóng góp lớn cho GDP, ngân sách tỉnh mà còn giúp đỡ,
thúc đẩy các huyện khác đi lên.
- Đã có nhiều chương trình đối với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn
như cung cấp điện, nước sạch cho người dân ở những khu vực này. Đời sống
của nhiều người dân đã được cải thiện, qua “chương trình xoá đói giảm
nghèo” đã có 24426 hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ ngheo giảm xuống còn 4.5%

Đối tác đầu tư vào Hải Dương đến từ rất nhiều quốc gia trên thế giới
như: Đài Loan, Hàn Quốc, Bỉ, Canada, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông,
Singapo, Nhật, Anh, Lào, Đức, Ba Lan, Pháp, Mauritius, Samoa, Malaysia,
Đan Mạch,… trong đó Đài Loan và Hàn Quốc là những đối tác lớn, đầu tư
nhiều dự án có quy mô lớn tại tỉnh Hải Dương như Công ti xi măng Phúc Sơn
24
Nguyễn Hải Quỳnh Lớp: Đầu tư 45B
24
25
Chuyên đề tốt nghiệp
liên doanh giứa Đài Loan, Việt Nam với số vốn 265 triệu USD tương đương
với 4248 tỷ VND, Công ti trách nhiệm hữu hạn Sumidenso do Nhật Bản đầu
tư với số vốn đầu tư 66,66 triệu USD tương đương với 1067 tỷ VND, và còn
rất nhiều các dự án đầu tư lớn khác đến từ các nước khác,…Hình thức đầu tư
chủ yếu là thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp liên
doanh. Đi dọc quốc lộ 5 từ Hà Nội về, hai bên quốc lộ, các khu công nghiệp
đã mọc lên san sát. Các nhà doanh nghiệp từ khắp nơi: Đài Loan, Hàn Quốc,
Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh... đều đã có mặt tại Hải Dương.
1.3 Mặt hàng sản xuất của các dự án đầu tư nước ngoài
Mặt hàng sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
thường là các mặt hang tiêu dùng như may mặc, nước uống, thức ăn chăn
nuôi, bánh kẹo, thức ăn chăn nuôi, chế tạo bơm nước, xi măng, rau quả,dụng
cụ thể thao, đồ nội thất văn phòng,… Các dự án đầu tư trên điạ bàn tỉnh Hải
Dương vào các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và hàm lượng chất xám
cao như sản xuất ô tô, linh kiện điện tử,…vẫn chưa nhiều và quy mô chưa
lớn.
2. Tình hình huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Bằng những cơ chế, chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư hợp lý, Hải
Dương đã đạt được những thành tích rất đáng khích lệ trong việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status