nghiên cứu - trao đổi
20 tạp chí luật học số 6/2007
ThS. Nguyễn Thị Thu Hà *
rong quỏ trỡnh thi hnh ỏn dõn s cú th
gp nhng tr ngi khỏch quan dn n
vic thi hnh ỏn cha th thc hin c,
tm thi b giỏn on, khụng th thi hnh ỏn
tip c hoc khụng th thi hnh ỏn c.
Vỡ vy, c quan thi hnh ỏn phi ra cỏc quyt
nh hoón thi hnh ỏn, tm ỡnh ch thi hnh
ỏn, ỡnh ch thi hnh ỏn hoc tr li n yờu
cu thi hnh ỏn. Qua nghiờn cu cỏc quy nh
ca Phỏp lnh thi hnh ỏn dõn s nm 2004
(PLTHADS nm 2004) chỳng tụi cú mt s ý
kin trao i v hoón, tm ỡnh ch, ỡnh ch
v tr li n yờu cu thi hnh ỏn dõn s.
1. Hoón thi hnh ỏn
Theo T in ting Vit hoón l
chuyn thi im ó nh lm vic gỡ ú
sang thi im khỏc mun hn;
(1)
tm l
lm vic gỡ ú ngng li trong mt thi
cng ch thi hnh ỏn thỡ c quan thi hnh
ỏn ra quyt nh hoón thi hnh ỏn, cũn nu
xut hin thi im bn ỏn, quyt nh ó
thi hnh c mt phn hoc c quan thi
hnh ỏn ó ra quyt nh cng ch thỡ c
quan thi hnh ỏn ra quyt nh tm ỡnh ch
thi hnh ỏn. iu ny ó c quy nh ti
khon 1 iu 24, khon 2 iu 25 Phỏp lnh
thi hnh ỏn dõn s nm 1993. Khụng hiu vỡ
lớ do gỡ, da trờn c s no m PLTHADS
nm 2004 khụng tip tc k tha nhng quy
nh ny ca Phỏp lnh thi hnh ỏn dõn s
nm 1993, bi nú hon ton phự hp vi bn
cht, c im ca vic hoón thi hnh ỏn v
tm ỡnh ch thi hnh ỏn. Vỡ vy, chỳng tụi
T
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 6/2007 21
kin ngh nờn b sung vo iu 27
PLTHADS nm 2004 cỏc cn c quy nh
ti im a, b khon 1 iu 26 v chuyn quy
nh ti im c, d khon 1 iu 26 sang
iu 27 PLTHADS nm 2004.
Theo im c khon 1 iu 26
quyt nh hoón thi hnh ỏn sao? V vic ra
quyt nh hoón thi hnh ỏn v quyt nh
tip tc thi hnh ỏn n bao gi dng li?
Khon 4 iu 14 PLTHADS nm 2004,
khon 1 iu 8 Ngh nh s 173/2004/N-
CP ngy 30/9/2004 ca Chớnh ph quy nh
khi t chc thi hnh ỏn thỡ c quan thi hnh
ỏn phi cú trỏch nhim xỏc minh iu kin
thi hnh ca ngi phi thi hnh ỏn, phi xỏc
minh khi no ngi phi thi hnh ỏn cú iu
kin thi hnh ỏn v khi phỏt hin ngi
phi thi hnh ỏn cú iu kin thi hnh ỏn
thỡ c quan thi hnh ỏn li tip tc thi hnh
ỏn. Do ú, trng hp ny khụng nờn quy
nh thi hn hoón thi hnh ỏn m ch nờn
quy nh khi iu kin hoón thi hnh ỏn
khụng cũn thỡ th trng c quan thi hnh ỏn
ra quyt nh tip tc thi hnh ỏn.
Theo im d khon 1 iu 26
PLTHADS nm 2004 thỡ phi hoón thi hnh
ỏn trong trng hp cú tranh chp v ti sn
kờ biờn m ang c to ỏn th lớ, gii
quyt. Tuy nhiờn, õy cng khụng phi l
cn c ca hoón thi hnh ỏn vỡ nh phõn tớch
trờn, hoón thi hnh ỏn ch trong trng hp
bn ỏn, quyt nh dõn s cha c a ra
thi hnh, c quan thi hnh ỏn ó ra quyt
nh thi hnh ỏn nhng cha t chc cng
ch thi hnh ỏn v cha thi hnh c khon
no cũn õy l trng hp c quan thi hnh
thi hành bản án, quyết định đó. Thời hạn tạm
đình chỉ thi hành án không quá 6 tháng, kể
từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thi hành
án…”. Theo chúng tôi, thời hạn tạm đình chỉ
thi hành án theo quy định của PLTHADS
cần phải được quy định lại vì nó mâu thuẫn
với thời hạn mở phiên toà giám đốc thẩm, tái
thẩm quy định tại Điều 293, Điều 302, Điều
310 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Theo
Điều 293 BLTTDS thì thời hạn mở phiên tòa
giám đốc thẩm, tái thẩm là 4 tháng kể từ
ngày nhận được kháng nghị. Điều 302
BLTTDS quy định quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm có hiệu lực pháp luật ngay,
trong khi đó khoản 2 Điều 27 PLTHADS
năm 2004 lại quy định thời hạn tạm đình chỉ
thi hành án là không quá 6 tháng, kể từ ngày
ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Như
vậy, khi đã có quyết định giám đốc thẩm, tái
thẩm rồi mà vẫn còn tạm đình chỉ bản án,
quyết định bị kháng nghị là không hợp lí.
Vì vậy, để khắc phục mâu thuẫn trên,
khoản 2 Điều 27 PLTHADS năm 2004 nên
sửa lại theo hướng: “Người đã kháng nghị
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có
quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản
án, quyết định đó. Thời hạn tạm đình chỉ
không quá 4 tháng, kể từ ngày ra quyết định
tạm đình chỉ thi hành án. Hết thời hạn tạm
định kể cả nghĩa vụ đối với Nhà nước. Khi nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 6/2007 23
cú quyt nh ỡnh ch thi hnh ỏn thỡ ng
s khụng cú quyn yờu cu thi hnh ỏn na
tr trng hp ngi phi thi hnh ỏn b tũa
ỏn ra quyt nh m th tc gii quyt yờu
cu tuyờn b phỏ sn doanh nghip. Theo
quy nh ca Lut phỏ sn sau khi to ỏn ra
quyt nh m th tc gii quyt yờu cu
tuyờn b phỏ sn, doanh nghip, hp tỏc xó
lõm vo tỡnh trng phỏ sn s phi tin hnh
th tc phc hi hot ng kinh doanh hoc
th tc thanh lớ ti sn. Khi thm phỏn ra
quyt nh ỡnh ch th tc phc hi hot
ng kinh doanh ca doanh nghip, hp tỏc
xó lõm vo tỡnh trng phỏ sn, vic thi hnh
ỏn dõn s b ỡnh ch theo quy nh ti iu
57 Lut phỏ sn cha c thi hnh s c
tip tc thc hin. Do ú, chỳng tụi kin
ngh b sung vo iu 28 PLTHADS nm
2004 quy nh v hu qu phỏp lớ ca vic
ỡnh ch thi hnh ỏn nh sau: 1. Khi cú
quyt nh ỡnh ch thi hnh ỏn thỡ ng s
khụng cú quyn yờu cu thi hnh ỏn na tr
trng hp c quy nh ti khon 5 iu
28 Phỏp lnh ny v cỏc trng hp phỏp
phi tr li n yờu cu thi hnh ỏn. Thc cht
vic quyt nh tr li n yờu cu thi hnh ỏn
ch lm ri rm thờm quỏ trỡnh thi hnh ỏn ch
khụng cú tỏc dng i vi vic thi hnh ỏn. Vỡ
vy, theo chỳng tụi nờn b cn c tr li n
yờu cu thi hnh ỏn trong trng hp cú
quyt nh ỡnh ch thi hnh ỏn.
Th hai, nh ó phõn tớch phn hoón
thi hnh ỏn, nu ngi phi thi hnh ỏn
khụng cú iu kin, kh nng thi hnh ỏn
thỡ vic thi hnh ỏn phi tm thi b giỏn
on. Do ú, õy khụng phi l cn c tr li
n yờu cu thi hnh ỏn m l cn c tm
ỡnh ch thi hnh ỏn. Mt khỏc, nu quy nh
l cn c tr li n yờu cu thi hnh ỏn thỡ
sau khi phỏt hin ngi phi thi hnh ỏn cú
ti sn, kh nng thi hnh ỏn thỡ ngi c
thi hnh ỏn cú quyn np li n yờu cu thi
hnh ỏn. Nhng c quan thi hnh ỏn no s
tip nhn n yờu cu thi hnh ỏn tr li, õy nghiªn cøu - trao ®æi
24 t¹p chÝ luËt häc sè 6/2007
là vấn đề gặp rất nhiều vướng mắc trong
thực tế. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị chuyển
căn cứ trả lại đơn yêu cầu thi hành án do
người phải thi hành án không có điều kiện,
khả năng để thi hành án sang Điều 27
hạn bởi lẽ theo khoản 3 Điều 25 PLTHADS
năm 2004 thì trong trường hợp không có căn
cứ khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án
thì thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết
định không chấp nhận yêu cầu thi hành án
quá hạn. Việc khôi phục thời hiệu yêu cầu
thi hành án trong trường hợp này là do người
yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở
ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả
kháng mà không thể yêu cầu thi hành án
đúng thời hạn. Do đó, nếu ra quyết định
không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá
hạn khi phát hiện thời hiệu yêu cầu thi hành
án đã hết làm cho người ta lầm tưởng rằng
việc ra quyết định không chấp nhận yêu cầu
thi hành án quá hạn trong trường hợp này là
do người yêu cầu thi hành án không có đủ
căn cứ để chứng minh mình gặp phải trở
ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng
chứ không phải do thời hiệu yêu cầu thi hành
án đã hết. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ
sung vào Điều 29 PLTHADS năm 2004 như
sau: “Người có thẩm quyền ra quyết định thi
hành án có quyền trả lại đơn yêu cầu thi
hành án cho người được thi hành án, người
phải thi hành án trong trường hợp thời hiệu
yêu cầu thi hành án đã hết”. Tuy nhiên,
trường hợp này cần phải hiểu là khi thủ
trưởng cơ quan thi hành án chưa ra quyết
định thi hành án, còn nếu đã ra quyết định