Lời mở đầu
Cũng nh ăn uống, mặc là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống con ngời.
Nó quan hệ đến nhiều lĩnh vực xã hội ,nh địa lý, lịch sử, kinh tế, lễ giáo đẳng
cấp phong tục tập quán... nhất là ở lĩnh vực văn hoá tinh thần nó thể hiện cụ thể
rõ nét về trinh độ và thị hiếu thẩm mỹ của mỗi con ngời, mỗi dân tộc, mỗi thời
đại. Nó là những vật phẩm bảo vệ con ngời khỏi ảnh hởng của môi trờng tô
điểm và làm đẹp thêm con ngời. Cùng với sự phát triển của khoa hoc kỹ thuật,
và các nghành khoa học khác,nghành công nghiệp thời trang cũng phát triển
không ngừng tạo thế đứng vững chắc trong xã hội .
Trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 với chinh sách mở cửa
giao lu kinh tế , hội nhập ,giao lu quốc tế , thời trang Việt Nam đã và đang từng
bớc thâm nhập vào thị trờng thời trang khu vực và thế giới. Thông qua các ch-
ơng trình biểu diễn, các cuộc thi, các nhà tạo mốt Việt Nam đã có nhiều hơn
các cơ hội để tự khẳng định mình, tạo một dấu ấn riêng cho thời trang Việt Nam
trong khu vự c và thời trang thế giới. Ngời dân , đặc biệt là các hoạ sĩ thiêt kế
Việt Nam tinh thần dân tộc, cộng với ảnh hởng của một nền văn hoá đã găn bó
máu thịt vào trong tièm thức cuả họ chính vì vậy mà nhng đề tài khai thác
chính của họ chú ý khai thác khía cạnh của văn hoá truyền thống dân tộc nh-
ng giá trị văn hoá truyền thống ấy đợc cách tân, biến đổi mang tính thẩm mỹ
phù hợp vơi nhu cầu, xu thế ăn mặc của thời đại.
Với tôi bên cạnh sự kế thừa, giữ gìn bản sắc dân tộc, giá trị văn hoá
truyền thống, tôi muốn tìm cho mình một hơng riêng,chính vì vậy mà đề tài tốt
nghiệp ở tôi nghiên cứu săp nêu ra đây đó là dựa theo ý tởng Sắc màu sơn mài
và họa tiết trong bức tranh phong cảnh của Nguyễn gia Trí để đa ra bộ su tập
Lộng lẫy vàng son
Không biết từ bao giờ khi nhắc đến nghệ thuật Việt Nam, thì một trong
những nét đặc thù tiêu biểu đậm nét văn hoá nhất đợc thế giới quan tâm đến
chính là sơn mài.
1
Với những bức tranh sắc màu huyền ảo,độc đáo ,chỉ việt nam mới có ,với
hình chú mục đồng thổi sáo những giai điệu thanh bình trên cánh đồng lúa bao
Đi tìm lời giải mốt thời trang là gì thật khó ! có rất nhiều cách định
nghĩa mà cha định nghĩa nào thoả mãn nổi.
Có một thực tế, khi đứng trớc một sự vật ,hiện tợng nào đó gần với nghệ
thuật mà cần chính xác tuyệt đối thì rất khó định nghĩa cho đợc. Khi tiến hành
nghiên cứu lịch sử thời trang và cá vấn đề liên quan tới mốt thời trang, đi đến
một thống nhất chung nh sau.
Thời trang là trang phục đơng thời, là tập hợp những thói quen và thị
hiếu phổ biến trong cách ăn mặc, thịnh hành trong một môi trờng xã hội nhất
định, vào một khoảng thời gian nhất định. Và nhìn vào trang phục mà ngời ta có
thể nhận biết đợc ra niên đại,một giai đoan lịch sử một cách tơng đối .điều đó
chứng tỏ rằng trang phục luôn gắn liền với một thời đại nào đó. Nó là tấm gơng
phản ánh đời sống xã hội .
Mốt có nghĩa là cách thức, phơng pháp, quy tắc, mức độ ...đó là phơng
pháp tồn tại cái mới trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời, trớc hết là trong
lĩnh vực trang phục. Mốt là một hiện tợng thông qua những phơng tiện biểu
hiện bên ngoài để phản ánh phản ánh đời sống tinh thần và là sự khẳng định cá
nhân trớc cộng đồng, mốt là do con ngời muốn tự tách mình, tự khẳng định
mình trớc cộng đồng, con ngời cá nhân không muốn lẫn vào cộng đồng .
Mốt và thời trang là có thuộc tính chung đó là phản ánh thói quen và thị
hiếu thẩm mỹ trong cách ăn mặc đã đợc xã hội chấp nhận. Nhng giữa chúng có
sự khác nhau: thời trang là cách mặc thịnh hành, gắn liền với một thời kỳ lịch
sử dài, còn mốt thống trị nhất thời trong một thời gian ngắn. Thời trang chỉ liên
quan tới lĩnh vực may mặc, trong khi mốt liên quan đén mọi lĩnh vực hoạt động
của cuộc sống. Thời trang thờng bó hẹp trong một pham vi không gian nhất
định vì nó có khuynh hớng gắn với một bộ phận xã hội một địa phơng, một dân
3
tộc hay một vùng thế giới. Mốt và thời trang có hai tính chất chung ; tính văn
hoá - xã hội và tinh nghệ thuật.
1.2 Tính chất và đặc điểm của sản phẩm thời trang
1.2.1 Tính văn hoá, xã hội: Mốt và thời trang là những hiện tợng xã hội vô
mọi ngời.
Do đó trong mức độ nào đó cách mặc thể hiện mối quan hệ giữa con ngời
với con ngời trong cộng đồng xã hội: con ngời không thể thoát ly thị hiếu của
thời đại mình.Vì lẽ đó mốt thời trang là phơng tiện văn hoá liên kết mọi ngời
trong xã hội với nhau .
1.2.2 Tính nghệ thuât
Nhiệm vụ chung của mọi ngành nghệ thuật - văn học, âm nhạc, hội hoạ,
kiến trúc - là sáng tạo ra cái đẹp, cái đẹp là phạm trù thẩm mỹ thuộc tính nhân
sinh. Trớc cái đẹp con ngời thấy thêm tin yêu cuộc sống vì cái đẹp gợi lên tình
cảm tơi sáng, hân hoan, tăng thêm sức mạnh, khát vọng sống, gợi niềm cảm
phục, tạo khí thế hăng say lao động sản xuất.
Mốt - thời trang là một nghệ thuật bởi nó gắn liền với cái đẹp. Nó
chuyên chở cái đẹp không phải trong ý niệm trừu tợng mà thể hiện ở cái cụ
thể. Bởi suy cho cùng mỗi con ngời mỗi dân tộc có điều kiện sống, ăn mặc khác
nhau nhng đều có điểm chung đó là hớng tới cái đẹp.
Chúng ta biết mỗi bộ môn nghệ thuật đều có phơng tiện biểu đạt riêng...
phơng tiện biểu đạt của nghệ thuật trang phục là vật liệu, hình thể, dáng vẻ mầu
sắc, đờng nét trang trí. Các yếu tố đó phải đợc kết hợp với nhau một cách có tổ
chức sao cho đạt đợc hiệu quả thẩm mỹ.
Trên thực tế trang phục luôn có hai chức năng chính đó là chức năng sử
dụng và thẩm mỹ. Ngay cả những quần áo mặc thờng ngày, chức năng thẩm
mỹ vẫn cần đợc chú trọng, có điều, ở đây giá trị đó đợc đo bằng bằng thớc đo
khác - tính thực tiễn hay mức độ tiện lợi trong sử dụng, chính vì thế nghệ thuật
tạo mốt quần áo thuộc nghành mỹ thuật ứng dụng. Nhiệm vụ của mỹ thuật học
ứng dụng là tim ra sự thống nhất giữa hình thức và nội dung. Nội dung ở đây đ-
5
ợc hiểu theo nghĩa sử dụng quần áo. Hình thức đợc hiểu là yếu tố thẩm mỹ và
giá trị nghệ thuật.
Ngày nay các mốt quần áo thờng là đẹp. Ngời ta đánh giá cao giá trị
thẩm mỹ của chúng, tuy nhiên cái đẹp vẫn luôn tự hoàn thiện mình , vì con ngời
cho hiện tợng các sản phẩm thời trang lụi tàn trớc lại suất hiện trong thời điểm
hiện tại nào đó. Theo dõi dự đoán sự phát triển thời trang là việc làm rất khó,
phụ thuộc vào nhiều các điều kiện phát triển kinh tế - kỹ thuật và tâm lý xã hội.
Tuy nhiên con ngời có thể làm chủ đợc xu hớng thời trang thông qua việc điều
tiết quá trình biến đổi của phong cách trang phục và dần thích nghi với hiện t-
ợng thay đổi bất thờng trong ý thích ngời tiêu dùng.
1.2.4 Tính tâm lý - xã hội:
Mốt nảy nở lan truyền khi đợc hàng loạt ngời sử dụng là khía cạnh tâm
lý xã hộ của mốt. Không có một kiểu nào thành mốt khi chỉ là kiểu cách của
một ngời. Ngợc lại, mốt chỉ do một ngời tạo ra. Nhng khi đợc ngời khác sử
dụng sẽ trở thành mốt. Nói cách khác, mốt chỉ thành mốt khi nó đợc số đông
chấp nhận.
Nh một quy luật tất yếu, mốt luôn xuất hiện bất ngờ thờng là ở lực lợng
vòng ngoài của xã hội - những ngời luôn săn lùng kiểu trang phục mới nhng
lại ít có kiểu thức về mỹ thuật, xã hội... Dần dần những mốt đó lan vào bên
trong, lực lợng chính thống - những ngời có văn hoá, kiểu mặc nào đợc các
lực lợng này chấp nhận thì quá trình xã hội hoá của mốt xem nh hoàn tất.
Những đó cũng chính là lúc mốt tự giải thể mình để một mốt mới xuất hiện
nơi vòng ngoài xã hội. Về thực chất cơ chế tác động lây lan mốt dựa trên cơ
sở tâm lý là ngời ta không ai muốn kém hơn ngời khác.
Một khía cạnh tâm lý khác của hiện tợng mốt: cùng một kiểu mốt không
phải mỗi ngời đều nhận thức nh nhau. Thanh niên chấp nhận mốt rất nhanh mà
không hề phê phán hay xét nét nó. Ngợc lại, ngời có tuổi lại quay lng lại với
mốt. Bởi ngời già có tuổi thờng hay định kiến thị hiếu thẩm mỹ của họ đã xác
định và rất khó thay đổi, họ chín chắn qua năm tháng cuộc đời. Trong khi đó
7
cthnah niên đang định hình dễ dàng chấp nhận cái mới. Mặc dù vây mốt luôn
biến đổi để hoàn thiện mình qua nhiều lần, nhng nó vẫn tồn tại, vẫn không mất
đi cái chính của nó cho đến khi xuất hiện một mốt mới thay thế.
1.2.5 Tính chu kỳ:
liệu, qua đó để biết cách thích hợp thích nghi ăn mặc đợc thnah lịch duyên
9
dáng, hấp dẫn, nhờ biết dùng quần áo để nhấn mạnh đến những u điểm và che
dấu khuyết điểm của mình.
Đờng nét là cơ bản tạo nên hình thể y phục và khi mặc vào bạn sẽ có một
ihnhf dáng nhất định, quần áo đợc chia cắt thành những hình dáng nhất định.
Quần áo đợc chia thành những hình dáng và và không gian khác nhau bởi
những đờng túi áo, cổ áo, tay áo... Tất cả tạo nên vẻ đẹp mắt hài lòng vì ngoài ý
nghĩa cấu trúc, đờng nét còn có khả năng khêu gợi đợc những phản ứng tình
cảm.
Hình thể và không gian do các đờng nét gặp nhau kết hợp tạo thành. Th-
ờng hình dáng chính của quần áo tơng ứng với dạng hình học.
Màu sắc gây nên những phản ứng mạnh đến nỗi phải hiểu rõ tính chất
của chúng mới có thể sử dụng khôn ngoan trong các kết hợp màu quần áo. màu
ohân biệt với nhau nhờ sắc chính. Màu chính gồm màu lục, lam, vàng.
Hoa văn là các hoạ tiết đợc trang trí trên sản phẩm thời trang, trên trang
phục nó đóng góp làm đẹp nhờ tơng tác cộng hởng, tạo nên ảo giác và phản ứng
tâm lý mà ngời mặc khéo léo sử dụng có thể tạo đợc những tác dụng mong
muốn nh làm cho ngời trông cao lên hay thấp xuống, to ra hay nhỏ đi.
Chất liệu là đặc tính của vật liệu (vải) làm nên trang phục nó tạo cảm
giác và phản ứng.
2.2. Các giai đoạn phát triển của trang phục Việt Nam:
Để có một diện mạo trang phục của chúng ta ngày nay có là nhờ một qúa
trình hình thành và phát triển không ngừng, nó phát triển song song với sự phát
triển kinh tế, văn hoá.
Từ thời các vua Hùng nổi hiệu trống đồng dựng nớc. Nó còn hình thành
những nền tảng văn hoá Việt Nam và trong nền tảng ấy có nền tảng của văn hoá
trang phục. Nhân dân đã biết dùng các loại cây, da động vật làm lên những vật
che chắn cơ thể. Tiếp theo là nuôi tằm nhả tơ dệt thành vải và đã có truyền
thuyết về nghề trồng dâu nuôi tằm, những dấu tích để lại còn lu giữ trên mặt đồ
11
Điển hình là chiếc áo dài đặc trng cho phụ nữ Việt Nam theo phơng án
của hoạ sĩ Lê Phó và Cát Tờng. Bên cạnh đó cách ăn mặc của Châu âu cũng có
những ảnh hởng không nhỏ đến trang phục của chúng ta. Đó là chiếc áo sơ mi,
quần âu, áo veston, cavat, mũ phớt, giày da...Tiếp đó để phù hợp với các cuộc
chiến tranh chống Pháp, Mỹ để đáp ứng nhu cầu linh hoạt của các hoạt động,
Nam mặc áo chấn thủ, đại cán; nữ mặc áo cánh nâu, màu đen, sáng... tất cả đều
đi dép, đội mũ nón... và ở miền bắc vẫn còn những nơi mặc áo tứ thân, yếm.
Những năm sau chống Pháp 1954 nớc ta đợc giải phóng ở miền Bắc bắt đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ ở miền Nam. Cùng với sự giao lu quan hệ
quốc tế làm thay đổi rất nhiều về trang phục ở hai miền. Sự thay đổi bắt đầu từ
chiếc váy đụp của ngời già thành những chiếc quần chân què, thay vì những
chiếc áo cánh nâu thành những chiếc áo bó sát eo với các dáng dấp đợc cải biến
từ thân áo tới cổ áo. áo dài đợc sử dụng thờng xuyên hơn.
Những năm gần trở lại đây Việt Nam đã dần xây dựng nớc công nghiệp
hoá hiện đại hoá, trang phục cũng cải biến không ngừng cả về hình dáng mẫu
mã màu sắc.
2.3. Nét đặc trng riêng của trang phục các dân tộc
Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em. Tuy cùng một quốc gia
nhng mỗi dân tộc trong quốc gia ấy do điều kiện địa hình sinh hoạt khác nhau
trang phục của họ cũng vậy mỗi dân tộc đều có một kiểu trang phục khác nhau,
mang bản sắc riêng không lẫn lộn. Tuy nhiên tổng kết lại đợc phân làm những
nhóm sau:
Nói đến dân tộc Kinh là dân tộc chiếm đại đa số dân c của nớc ta nó có
những đặc điểm chung đồng thời vẫn mang những nét riêng của từng vùng. ở
miền Bắc ta nghĩ ngay đến chiếc áo tứ thân mớ ba mớ bảy, chiêc yếm đào váy
đụp. ở miền Trung nét đặc trng đó là chiếc áo dài. ở miền Nam dễ nhận ra là
những bộ quần áo bà ba.
12
khăn piêu đợc trang trí cầu kỳ bằng những mũi chít thêu thùa trau chuốt. Nam
giới thì mặc đơn giản hơn là áo ngắn, quần dài màu tràm, dùng thắt lng da hoặc
vải, đầu cũng đội khăn đơn giản hơn.
Trang phục dân tộc Dao:
Việc làm ra quần áo của ngời Dao có truyền thống lâu đời từ xa xa họ
nổi tiếng về nghề trồng bông, chăn tằm, dệt vải, nhuộm vải, cắt may, thêu thùa,
phụ nữ Dao đảm nhiệm mọi khâu trong quá trình làm ra trang phục.
Trang phục đàn ông: Trớc đây đàn ông Dao đều để tóc dài, búi sau gáy,
hay để một chỏm dài trên đỉnh đầu xung quanh cạo trọc. Đàn ông Dao ít để đầu
trần họ thờng vấn khăn kiểu đầu rìu trang phục đàn ông khá đơn giản. Cũng
là áo dài, cổ ngắn, quần chân quê.
Trang phục phụ nữ Dao đó là áo chấm dài đến sau ống chân đợc thêu dệt
công phu và trang trí bằng những qủa bông hoặc len đỏ. Phụ nữ Dao quần chẹt
thì lại có áo trang trí đơn giản hơn và đợc kết hợp với những miếng vải nhỏ màu
trắng đắp lên trên.
+ Còn áo phụ nữ Dao thì lại đợc thêu rất nhiều loại hoa văn trang trí nh
hoa văn sóng nớc, hình sao, cây thông.. chiếc yếm của dân tộc này cũng rất đợc
trú trọng. Họ trang trí lên đó những môtíp hoa văn và điểm những ngôi sao bạc.
+ Trang phục của phụ nữ Dao quần trắng và áo tràm dài xẻ ngực, không
có cổ, thêu ít hơn và trang trí bằng những đờng chỉ đen, đỏ, trắng, vàng nẹp áo
màu trắng đỏ.
+ Trang phục nữ Dao thì phần hoạ tiết trang trí chủ yếu ở phần lng. Tộc
ngời này có một loại mũ đó là mũ ba nừng xơ mớp, bên ngoài cạp chỉ đen, xung
quanh mũ có hai hàng khuy bạc đính song song.
+ ở phụ nữ Dao Tiền khác với dân tộc Dao khác họ mặc váy với hoa văn
thêu kín thân váy, trên trang trí bằng bảy hoặc chín đồng tiền ở phía sau cổ áo
tạo ra sự khác lạ.
14
Y phục nữ Dao áo dài gọi là Dao áo dài có lẽ do cách mặc áo dài chấm
gót của họ. Khác với áo dài của các nhóm Dao Tiền ở đây ngời ta mặc áo xẻ
nó. Góp phần tạo nên diện mạo trong nghệ thuật tạo hùnh Việt Nam.
2.4. Một số nét về trang phục phơng Tây qua các thời
đại:
Quần áo từ thời xa xa, khi nền văn minh nhân loại còn ở mức sơ khai
nhất. Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ cơ thể, chống lại tác động của thiên nhiên,
ngời xa tìm kiếm những tấm phủ, những mảnh che cơ thể. Những kiểu trang
phục ban đầu: các mảnh vải che vai, che ngực,...sau này phát triển thành các
kiểu áo; mảnhvải che mông, đùi... sau này thành các kiểu váy và quần. Vật liệu
dùng che cơ thể ở các vùng giầu thực vật là vỏ, lá, sợi cây; ở các vùng nghèo
thực vật là lông chim, da cá, da thú...
Ban đầu, động lực phát triển quần áo là điều kiện tự nhiên. Bằng chứng là
quần áo phát triển nhanh ở các vùng có khí hậu khắc nghiệt (thờng là các xứ
lạnh) và phát triển chậm ở các vùng cso khí hậu ôn hoà.
Về sau, khi kỹ thuật, văn hoá, xã hội phát triển đến trình độ nhất định,
bên cạnh chức năng bảo vệ cơ thể, trang phục còn mang ý nghĩa xã hội, tâm lý
và thẩm mỹ. Trang phục trở thành đối tợng của nghệ thuật, phản ánh đặc tính
dân tộc.
Để có thể hiểu đợc nguồn gốc sâu xa, động lực phát triển của quần áo
nh hiện nay, chúng ta hãy lần lại lịch sử trang phục thế giới.
2.4.1 Quần áo thế giới thời cổ đại:
Thế giới cổ đại gắn liền với nền văn minh một số quốc gia sớm phát triển
từ thiên niên kỷ thứ IV trớc Công nguyên đến thế kỷ thứ V sau Công nguyên.
Đó là các quốc gia cổ đại Ai Cập, ấn Độ, Trung Quốc, La Mã. Các quốc gia này
đều nằm trên lu vực các con sông lớn màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp nh sông Nin (Ai Cập), sông Hằng (ấn độ), sông Vị (Trung Quốc).
16
Thời Cổ đại, nông nghiệp phát triển, công cụ sản xuất bằng đồng thay
cho đồ đá. Muộn hơn naxuaats hiện công cụ bằng sắt.
Nền văn minh Cổ đại là văn minh chiếm hữu nô lệ. Qua bức phù điêu
trong lăng tẩm của các Pharaông Ai Cập, ta có thể thấy nô lệ thời cổ đại thờng ở