TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH DOANH QUỐC TẾ
TÊN ĐỀ TÀI:
CHIẾN LƯỢC MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH RA THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY
WAL-MART
Họ và tên sinh viên:
1. Đinh Trần Mai Quế Chi 007
2. Trương Chí Hiếu 018
3. Phạm Thị Kiều Loan 030
4. Trần Thị Bích Ngân 036
5. Thuyên Tuyết Nhi 039
6. Phạm Thị Phương Thảo 048
7. Nguyễn Thị Mỹ Trang 053
8. Nguyễn Huỳnh Tường Vi 059
9. Phan Thị Mỹ Xuân 060
Lớp : LT7 – A1
Nhóm : 5
GVHD : ThS Trần Thị Phương Thủy
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012
MỤC LỤC
Lịch sử phát triển của Wal-Mart 1
1. Một số lợi ích Wal-Mart đạt được khi mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị
trường quốc tế 4
2. Rủi ro Wal-Mart gặp phải khi thâm nhập các thị trường bán lẻ khác 6
Giải pháp giảm thiểu rủi ro khi thâm nhập các thị trường này 6
2.1 Rủi ro Wal-Mart gặp phải khi thâm nhập các thị trường bán lẻ khác 6
2.1.1 Rủi ro phát sinh từ mô hình hoạt động của Wal-Mart 6
2.1.2 Rủi ro phát sinh từ chính sách hoạt động của Wal-Mart 7
đời từ đây tại Rogers, Arkansas vào cùng năm.
Năm 1968, Wal-Mart mở rộng ra ngoài Arkansas đến hai bang miền Nam là
Missouri và Oklahoma.
Ngày 31-10-1969, Wal-Mart trở thành công ty đại chúng. Vào mùa xuân
năm 1971, lần đầu tiên cổ phiếu của Wal-Mart đã được chia 100% và bán trên thị
trường với giá 47 USD. Đến năm 1972, cổ phiếu của Wal-Mart được niêm yết trên
Sàn giao dịch Chứng khoán New York.
Năm 1974, Wal-Mart bắt đầu mua lại những chuỗi cửa hàng nhỏ hơn như
cửa hàng 16 Mohr Value ở Michigan và Illinois. Wal-Mart lại mua lại công ty giày
Hutcheson 4 năm sau đó. Đến năm 1976, Wal-Mart có 18 cửa hàng và Samton
1
quyết định đóng cửa tất cả cửa hàng “5 xu và 1 hào” để tập trung phát triển Wal-
Mart.
Năm 1978, Wal-Mart mở hiệu thuốc, cửa hàng dịch vụ ô tô, và trang sức đầu
tiên.
Năm 1980, Wal-Mart đạt 1 tỉ USD trong gần 20 năm từ ngày thành lập.
Từ đây, Wal-Mart có mặt trên khắp nước Mỹ: Georgia và Nam Carolina (1981),
Indiana, Iowa, New Mexico và Bắc Carolina (1983), Virginia (1984), Wisconsin và
Colortado (1985), Minnesota (1986), Michigan, Tây Virginia, và Wyoming (1988).
Điều này làm cho các chủ doanh nghiệp nhỏ sợ hãi khi Wal-Mart di chuyển tới địa
phương của mình, nhưng thực ra, Wal-Mart không làm tổn hại cũng như không
giúp đỡ những ông nhỏ này mà chỉ là những trở ngại mới cho việc làm ăn của
những người này.
Năm 1988, trung tâm thương mại Wal-Mart đầu tiên ra đời. Gần đây nhất,
San Diego đã bãi bỏ pháp lệnh qui định chặt chẽ về việc xây dựng các trung tâm
thương mại và Wal-Mart đang lên kế hoạch xây dựng 12 trung tâm thương mại
trong khu vực này.
Năm 1991, Wal-Mart hướng tới kinh doanh trên thị trường quốc tế với mục
tiêu đầu tư bân ngoài đầu tiên là di chuyển tới Mexico.
Năm 1992, nhà sáng lập Wal-Mart qua đời ở tuổi 47.Tuy nhiên, thành công
mô từ năng lực mua toàn cầu. Các nhà cung ứng hàng hóa chính của Wal-Mart là
những công ty quốc tế lâu đời; ví dụ như GE (thiết bị gia dụng), Unilever (hàng hóa
thức ăn), và Procter & Gamble (các sản phẩm chăm sóc cá nhân) là những nhà cung
ứng chính của Wal-Mart và họ đã có các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc
tế từ rất lâu. Cùng với sự mở rộng ra thị trường quốc tế, Wal-Mart đã dùng quy mô
tăng trưởng của nó để đòi hỏi có được chiết khấu nhiều hơn nữa từ những nhà cung
ứng cho nó, điều này làm cho công ty có khả năng bán cho khách hàng giá hàng
thấp hơn nữa, làm tăng thị phần, và cuối cùng là kiếm thêm lợi nhuận. Thứ hai, Wal-
Mart thấy rằng nó đang được lợi từ những ý tưởng thông qua 14 quốc gia mà nó
đang cạnh tranh. Ví dụ, một cửa hàng hai tầng ở New York đã bất ngờ thành công
nhờ vào sự thành công trước đó của các cửa hàng Wal-Mart nhiều tầng ở Hàn
Quốc. Những ý tưởng khác như là khu gian hàng bán rượu riêng ở các cửa hàng
Wal-Mart ở Argentina, và bây giờ cách làm này trở nên thông dụng trên các cửa
hàng Wal-Mart toàn cầu. Thứ ba, việc mở rộng ra nước ngoài cũng mang lại cho
Wal-Mart một tỷ lệ phần trăm thu nhập không nhỏ từ việc chênh lệch tỷ giá tiền tệ
của các nước khác so với đồng USD, đồng thời tránh được rủi ro trong việc biến
4
động tỷ giá của đồng đô la Mỹ, cũng như việc hưởng lợi từ yếu tố thuế của những
nước này. Mặc khác, việc có nhiều cửa hàng ở khắp nơi trên thế giới làm cho khả
năng nhận diện thương hiệu Wal-Mart của khách hàng trên thề giới cũng trở nên
thuận lợi và dễ dàng hơn.
5
2. Rủi ro Wal-Mart gặp phải khi thâm nhập các thị trường bán lẻ khác
Giải pháp giảm thiểu rủi ro khi thâm nhập các thị trường này
2.1 Rủi ro Wal-Mart gặp phải khi thâm nhập các thị trường bán lẻ khác
Vào năm 1990, Wal-Mart nhận ra rằng cơ hội phát triển của nó ở Mỹ đang
trở nên bị giới hạn hơn. Các nhà lãnh đạo công ty tính toán rằng vào đầu những năm
2000, các cơ hội phát triển nội địa sẽ bị kiềm hãm lại do thị trường đã bão hòa. Vì
vậy, công ty đã quyết định mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường toàn cầu.
Đầu tiên, người ta đã chế giễu ý định này. Họ cho rằng Wal-Mart là một
lệ thương mại ở lục địa già đặt ra nhiều hạn chế. Chẳng hạn, năm 1997, Wal-Mart
bắt đầu tấn công thị trường Đức, khối tiêu thụ lớn thứ ba trên thế giới sau Mỹ và
Nhật Bản, bằng cách mua hai công ty bán lẻ Wertkauf và Interspar, nhưng cho tới
nay vẫn không tiến lên được, Wal-Mart chiếm chưa tới 5% thị trường và vẫn bị lỗ.
2.1.2 Rủi ro phát sinh từ chính sách hoạt động của Wal-Mart
Khi Wal-Mart bắt đầu mở siêu thị ở một thành phố mới, nó lại làm ăn thắng
lợi nhanh chóng bằng một chiêu đơn giản nhưng hiệu nghiệm: giá cả luôn thấp hơn
khoảng 15% giá của đúng loại hàng đó bán ở nơi khác. Dẫn chứng cho những điều
trên, những người chỉ trích công ty cho rằng chính sách nhân viên của Wal-Mart
khiến công ty này bị kiện cáo liên miên. Trung bình công ty lúc nào cũng đang phải
đối phó với 8.000 vụ kiện, phần lớn xuất phát từ nhân viên của Wal-Mart.
Nhưng không thể nói Wal-Mart bán giá rẻ chỉ nhờ họ trả lương nhân viên
thấp. Một trong những bí quyết thành công của họ là ép giá những nhà cung cấp
hàng hóa, đặc biệt là các nhà sản xuất ở nước ngoài. Sự phát triển của các công ty
sản xuất với giá thành rẻ mạt ở Trung Quốc, Ấn Độ là một nguồn lợi cho Wal-Mart.
Mỗi năm Wal-Mart mua khoảng 1,5 tỉ USD hàng hóa từ Trung Quốc, một nửa mua
trực tiếp, một nửa qua các trung gian. Nhiều nhà sản xuất Trung Quốc đã than phiền
bị Wal-Mart đàn áp.
Để sống sót với những đòi hỏi giảm giá thành mà Wal-Mart đã áp đặt, nhiều
công ty sản phẩm tiêu dùng đã buộc phải sa thải nhân công và đóng cửa các nhà
máy tại Mỹ để ưu tiên cho gia công sảm phẩm ở nước ngoài. Nhưng chắc chắn
7
cái chuỗi cung cầu ấy đã thúc đẩy nhanh việc chuyển việc làm của nước Mỹ sang
những nước có mức lương thấp như Trung Quốc.
2.2 Giải pháp giảm thiểu rủi ro khi thâm nhập các thị trường này
Tuy nhiên, vào khoảng giữa những năm 1990, Wal-Mart đã học được những
bài học kinh nghiệm từ những sai lầm của nó trước đó và điều chỉnh các hoạt động
kinh doanh của nó ở Mexico cho phù hợp với môi trường địa phương.
Các quan chức cao cấp của Wal-Mart cho biết tập đoàn này muốn mở rộng
hoạt động kinh doanh sang thị trường bán lẻ khác bằng cách tìm kiếm các đối tác
9
3. Nguyên nhân Wal-Mart bước đầu thâm nhập thị trường Mexico bằng hình
thức liên doanh và mua lại phần vốn góp của đối tác Mexico vào năm
1998
3.1 Wal-Mart bước đầu thâm nhập thị trường Mexico bằng hình thức liên
doanh vì một số nguyên nhân sau
Wal-Mart chọn Mexico là điểm đến đầu tiên trong kế hoạch mở rộng thị
trường ra nước ngoài vì đây là thị trường gần nhất với Mỹ về mặt văn hóa, hành
chính và địa lý. Wal-Mart thâm nhập vào thị trường Mexico vì công ty cho rằng
những nước gần kề với Mỹ thì ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá Mỹ cũng
như người dân sẽ biết đến Wal-Mart nhiều hơn so với một quốc gia ở xa. Chính vì
thế Wal-Mart cho rằng sẽ có được lợi thế khi tham gia vào thị trường Mexico.
Khi nền kinh tế Mexico bắt đầu mở cửa vào giữa những năm 1980, lĩnh vực
bán lẻ của nước này trải qua một quá trình chuyển đổi sâu sắc. Chuyển đổi này
được tăng tốc vào năm 1991 bởi sự xâm nhập của Wal-Mart và có ảnh hưởng lớn
không chỉ đối với lĩnh vực bán lẻ mà còn đối với ngành công nghiệp. Nền sản xuất
hàng tiêu dùng của Mexico được bảo hộ mạnh mẽ cho đến giữa những năm 1980.
Nhưng với mức thuế giảm hơn một nửa vào thập kỷ sau, các nhà bán lẻ Mexico
bắt đầu cung cấp hàng tiêu dùng được nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Một khi Mexico
khởi động tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (the North
American Free Trade Agreement - NAFTA), thị trường này trở nên hấp dẫn trong
mắt các nhà bán lẻ lớn của Hoa Kỳ nhờ vào lợi thế dân số ngày càng tăng và quá
trình đô thị hoá sôi động. Sự tham gia của các nhà bán lẻ nước ngoài tại thị trường
Mexico bắt đầu bằng việc các giám đốc điều hành của các nhà bán lẻ lớn Mexico
tiếp cận đối tác của họ ở Texas và California về khả năng hợp tác. Và về phần mình,
Wal-Mart đã gia tăng mối quan tâm dành cho thị trường Mexico song song với sự
tiến triển các cuộc đàm phán NAFTA.
Đầu tiên Wal-Mart thâm nhập vào thị trường Mexico bằng cách liên doanh
vì đó là những thị trường không cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành
10
công ty này vào năm 1998. Lúc này công ty đã phát triển rất tốt, đã đủ lớn mạnh
để giành quyền kiểm soát liên doanh. Đây là thời cơ để Wal-Mart bành trướng tại
Mexico, thực hiện những chiến lược mới tại nơi đây. Và Mexico là một bàn đạp
vững chắc giúp Wal-Mart mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế sang Bắc Mỹ và
sau đó là trên toàn thế giới.
12
4. Chiến lược xuyên quốc gia của Wal-Mart
Để thắng lớn dù các đối thủ đang vật lộn trong bối cảnh kinh tế thế giới đang
eo sèo là nhờ Wal-Mart luôn có những chiến lược dài hạn và triển khai với những
chiến thuật linh hoạt đáng tham khảo.
Được mệnh danh là tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, Wal-Mart đã cho cả
thế giới thấy được sự thành công vượt bậc của mình. Wal-Mart không chỉ là siêu thị
lớn nhất nước Mỹ, không chỉ là siêu thị lớn nhất thế giới. Wal-Mart hiện là công ty
lớn nhất thế giới với doanh thu 1 tỉ USD một ngày, 42 triệu USD một giờ, từng giờ
của từng ngày trong năm. Wal-Mart thực chất không chỉ là công ty lớn nhất thế giới
- nó là công ty lớn nhất trong lịch sử thế giới.
Điểm khiến Wal-Mart nổi bật và luôn là cái tên được mọi người dân trên
thế giới biết tới, là niềm tự hào của nền kinh tế Mỹ đó chính là chính sách về giá
của tập đoàn bán lẻ này. Trong chiến lược này, sản phẩm hay dịch vụ mà Wal-
Mart cung cấp hoàn toàn giống với sản phẩm hay dịch vụ của các đối thủ. Chẳng
hạn, các mặt hàng được Wal-Mart bán có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau như
Unilever, Procter & Gamble (P&G), Nestle, những thương hiệu đã quá quen thuộc
với người tiêu dùng và đương nhiên có thể dễ dàng mua được ở bất kì cửa hàng
bán lẻ nào. Vậy tại sao nhiều người lại thích tìm đến Wal-Mart để mua những món
hàng này mà bỏ qua những địa điểm bán hàng của đối thủ? Vì họ tin rằng họ sẽ mua
được cũng những món hàng như vậy nhưng với giá rẻ hơn. Tập đoàn này đã được
xây dựng đặc biệt với lợi thế chi phí thấp như một phần chính trong chiến lược tổng
thể của mình và trong nhiều năm qua chưa một phút nào tập đoàn bán lẻ này cho
phép mình quên đi mục đích cốt lõi mà họ muốn đem đến cho khách hàng là những
sản phẩm giá rẻ.
Mặt khác, những đợt giảm giá khuyến mại được lên lịch trước từ lâu nhưng
chúng vẫn tạo ra những chu kỳ tiêu thụ không ổn định. Người tiêu dùng đâm nghiện
với giá bán rẻ hơn và chống lại giá bán tiêu chuẩn. Các hãng cung cấp đâm nghiện
với những đợt bùng nổ sản lượng do việc giảm giá khơi mào, nhưng cũng cần phải
bán với giá tiêu chuẩn để duy trì một biên độ lợi nhuận hợp lý. Còn các cửa hàng thì
14
“phát khùng” vì trữ hàng cho những đợt khuyến mại, vì bày trí lại kiểu trưng bày,
và đối phó với hàng đống sản phẩm không chịu nhúc nhích khi đợt giảm giá kết
thúc. Để trừ khử những chuyện đó, Wal-Mart muốn những hãng bán hàng cho mình
cộng hết tất cả các khoản giảm giá của các đợt khuyến mại trong năm và trừ vào trị
giá sản phẩm của nguyên một năm. Thế là hiện ra cái giá bán lẻ thấp và cố định của
từng ngày. Với số lượng và chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, Wal Mart tự
tin với hàng loạt mặt hàng luân phiên giảm giá mỗi ngày. Hãy chỉ cho người tiêu
dùng biết rằng Wal-Mart luôn luôn có sản phẩm bán với giá đó – rẻ hơn giá tiêu
chuẩn của những nơi khác, gần với giá khuyến mại. Hãy san bằng và làm cho hợp
lý nhu cầu của người tiêu dùng – họ chỉ mua khi họ cần. Điều đó khiến việc cung
ứng hàng dễ dự đoán hơn.
Sự thành công trong chiến lược toàn cầu với mục tiêu theo đuổi giá rẻ đã
khiến cho bảng xếp hạng Fortune 500 và Fortune Global 500 đã liên tục tốn nhiều
giấy mực khi phải để người khổng lồ nằm ở vị trí số 1 và số 2 trong nhiều năm liền,
với mức doanh thu còn vượt lên trên nhiều đại gia trong ngay cả những ngành công
nghiệp lờ lãi như dầu khí (Exxon Mobil), hay máy bay (Boeing), ôtô (Ford, General
Motors), hàng điện tử (General Electric), và thậm chí cả tài chính-ngân hàng (Citi
Group).
4.2 Áp lực nội địa hóa cao trong quá trình theo đuổi chiến lược xuyên quốc
gia của Wal-Mart
Tuy nhiên, không phải chiến lược giá rẻ luôn giúp cho Wal-Mart đứng vững
trên mọi thị trường, lấy ví dụ tiêu biểu nhất là việc thất bại tại thị trường Hàn Quốc
vào năm 2006 của công ty đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển chiến
lược mới công ty nhằm chinh phục thị trường quốc tế. Điều này còn chứng minh
Quốc, Wal-Mart mới chỉ chiếm được 4% thị phần xếp thứ 5, doanh thu của Wal-
Mart tại thị trường Hàn Quốc chỉ đạt khoảng 800 triệu USD, thua lỗ đến 10 triệu
USD và cuối cùng phải bán lại hệ thống 16 cửa hàng của mình cho Shinsegae – 1
công ty nội địa với giá 882 triệu USD.
16
Vậy thất bại của Wal-Mart tại Hàn Quốc là do đâu?
Là một quốc gia châu Á, do đó Hàn Quốc cũng có những nét tiêu dùng rất
đặc trưng giống một số nước khác trong khu vực như: thói quen đi chợ nhiều lần
trong một tuần, việc sử dụng thực phẩm hàng ngày thường là thực phẩm tươi sống,
cũng như việc đi chợ hay đi siêu thị thường là những người vợ hay những người nội
trợ trong nhà đảm nhiệm. Do đó, công việc “đi chợ” của họ rất khác so với những
người phương tây mà các tập đoàn lớn quen phục vụ trước đây ở thị trường Mỹ hay
châu Âu. Họ đi chợ mỗi ngày và mua các đồ ăn còn tươi như tôm cá vẫn còn bơi
trong chậu, thịt vừa được giết mổ mà chưa cho đông lạnh và những mớ rau xanh
tươi không đóng trong những túi nilon cho bữa cơm của mình thay vì cả tuần và
mua đồ đông lạnh và ăn sẵn. Vì thế họ sẽ thích vào những khu chợ hay cửa hàng
nhỏ gần nhà hơn là phải lái xe vào các trung tâm thương mại hay ra ngoại ô để mua
một con cá hay mớ rau.
Thói quen đi siêu thị cả gia đình và cùng nhau bàn bạc mua sắm các đồ dùng
trong gia đình hay cho những người thân cũng thường thấy ở người dân Hàn Quốc,
nên nhóm tư vấn đóng vai trò rất quan trong đối với hành vi mua của người tiêu
dùng. Việc lựa chọn giờ đây không phải là của một cá nhân nữa mà phải làm sao để
vừa lòng rất nhiều người và do đó việc lựa chọn của họ sẽ khó tính hơn. Thể hiện
sự kỹ tính trong chọn lựa cũng như tìm kiếm hàng hoá và so sánh các sản phẩm hay
những thông tin về sản phẩm cũng là rất quan trọng đối với người tiêu dùng.
Ngoài ra người Hàn còn có nhiều nét văn hoá rất khác trong tiêu dùng. Đầu
tiên phải kể đến là lòng tự tôn dân tộc của họ rất lớn, thể hiện ở việc là chúng ta rất
ít khi nhìn thấy người dân Hàn Quốc tiêu dùng các sản phẩm nước ngoài mà trong
khi trong nước có thể sản xuất được mặc dù đó là thương hiệu rất lớn và được ưa
chuộng trên thế giới. Rất ít khi thấy họ sử dụng xe BMW hay Nokia thay vào đó
Nhưng cũng nhân sự kiện trên mới thấy được sự năng động và lòng quyết
tâm chinh phục khách hàng của các ông chủ Wal-Mart.
Trước khó khăn ở Đức như vậy, gần đây, công ty Wal-Mart đã thí nghiệm tại
thành phố Dortmund một trò thu hút khách hàng mới, là mở những giờ đi mua sắm
dành riêng cho những khách độc thân!
18
Chiều thứ sáu, những người độc thân đến cửa hàng Wal-Mart sẽ được mời ăn
bánh, uống rượu vang do công ty khoản đãi, và có một bảng ghi danh với chi tiết về
đời sống, sở thích, số điện thoại để làm quen với nhau. Số người đến mua hàng đã
tăng lên tại 14 cửa hàng thí nghiệm trò này trong số 90 cửa hàng Wal-Mart. Và đã
có 30 cặp trở thành bạn tâm tình qua việc mối lái của Wal-Mart.
Hiện tượng trên cho thấy một đặc điểm của công ty Wal-Mart là nắm rõ tâm
lý khách hàng. Điều này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc chinh phục các
thị trường quốc tế với nhiều loại khách hàng có sở thích, thị hiếu và thói quen tiêu
dùng khác hẳn nhau bên cạnh yếu tố quan trọng luôn giúp công ty thành công là giá
cả cạnh tranh. Wal-Mart cũng tận dụng kỹ thuật tin học để tập trung các dữ liệu về
người tiêu thụ, về khách hàng của chính họ, giúp cho họ làm kế hoạch sát thực tế
hơn.
Thực tiễn xâm nhập các thị trường quốc tế đã giúp cho Wal-Mart tìm thấy
được chiến lược kinh doanh đúng đắn cho mình: áp dụng chính sách giá rẻ và đáp
ứng thị trường địa phương. Trong chiến lược xuyên quốc gia này, Wal-Mart đã
hoàn toàn đúng đắn với phần thưởng là vị trí hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻ trên thế
giới. Nhưng dù bán theo cách gì, họ vẫn được tin tưởng sẽ giữ vững vị trí là công ty
lớn nhất tại Mỹ và thế giới.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS Phạm Thị Hồng Yến (2012), Giáo trình Kinh doanh Quốc tế, Nhà xuất
bản Thống kê.
2. />3. />free-trade-agreement-nafta