LUẬN VĂN: Vấn đề cơ bản và chung nhất về một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN doc - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Vấn đề cơ bản và chung nhất về một
nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN Phần I: Phần mở đầu

Tất cả mọi người đều mong muốn một cuộc sống trong một xã hội tốt đẹp ngày càng
tốt hơn. Một xã hội mà trong đó mọi người hạnh phúc bình đằng ai ai cũng có việc làm
sống trong một môi trường trong sạch văn minh và hiện đại. Chính vì vậy mà bất cứ một
xã hội nào mà trong đó chứa đựng những mẫu thuẫn và đi ngược lại với mong muốn của
con người đều sẽ phải diết vong thể thay vào đó một xã hội tốt hơn vì thế mà xã hội loài
người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển biến đổi để hoàn thiện mình bắt đầu là xã hội
nguyên thuỷ đến chiếm hữu nô lệ và đến phong kiến cao hơn gần đây là chủ nghĩa tư bản
với sự phát triển vượt bậc về kinh tế và khoa học kỹ thuật với một nền kinh tế thị trường

Phần hai: Nội dung chính của đề tài.
A. Cơ sở lý luận về vấn đề
( Lý luận của Mac- Lênin về kinh tế thị trường )
I. Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường:
1. Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá:
1.1. Khái quát về kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức kinh tế – xã hội đã tồn
tại trong lịch sử hai hình thức này được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội,trình độ phân công lao động động xã hội, trình độ phát triển và
phạm vi của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên, người sản xuất cũng đồng thời là người tiêu dùng. Tự
sản xuất, tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự nhiên. Mục đích của sản xuất là tạo
ra những giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản
xuất, vì thế có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên gồm hai khâu: sản xuất –
tiêu dùng. Các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế tự nhiên đều mang hình thái hiện vật.
Trong nền kinh tế hàng hoá,mục đích sản xuất là trao đổi hay để bán. Mục đích đó
được xác định từ trước quá trình sản xuất và có tính khách quan. Sản xuất và toàn bộ quá
trình tái sản xuất đều gắn với thị trường.
1.2.Những tiền đề của quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình k hách quan. Nó bắt đầu khi
kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ làm xuất hiện những tiền đề kinh tế hàng hoá.
Trong lịch sử, những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ hàng hoá - tiền tệ tồn tại đan
xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá cũng chính là sự xuất hiện
những tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định kinh tế hàng hoá . Mỗi bước phát
triển của kinh tế hàng hoá là một bước đẩy lùi kinh tế tự nhiên. Như vậy, quá trình vận
động và phát triển của kinh tế hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự nhiên và khẳng định
mình là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội độc lập

2.1. Những điều kiện hình thành kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường được hình thành với những điều kiện sau:
Một là: sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động. Cần
khẳng định rằng sự xuất hiện hàng hoá sức lao động là một tiến bộ lịch sử. Ngươi lao động
của mình và là chủ thể bình đẳng trong việc thương lượng với người khác
Hai là: Phải tích luỹ được một số vốn nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích thu lợi nhuận
Ba là: Kinh tế tiền tệ, cho nên vai trò của tiền tệ vô cùng quan trọng. Vì vậy để hình
thành kinh tế thị trường cần phải có hệ thống tài chính, tác dụng ngân hàng tương đối phát
triển
Bốn là: Sự hình thành kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một kết cấu hạ tầng tương
đối phát triển. Trên cơ sở đó mới bảo đảm cho lưu thông hàng hoá và lưu thồng tiền tệ để
thuận lợi nhằm mở rộng quan hệ trao đổi
Năm là: Tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước. Đối với nước ta, đây là vấn đề có
tính then chốt để hình thành nền kinh tế thị trường
Với tác động của tất cả các tiền đề trên, nền kinh tế thị trường được xã hội hoá cao,
các quan hệ kinh tế mang hình thái phổ biến là quan hệ hàng hoá - tiền tệ và nó được tiền
tệ hoá. Các quy luật của kinh tế thị trường được phát huy tác dụng một cách đầy đủ.
3. Những đặc trưng của kinh tế thị trường .
Những đặc trưng chung nhất, vốn có của kinh tế thị trường :
Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Đây là đặc trưng quan trọng nhất
của kinh tế thị trường.Đặc trưng này xuất phát từ đặc điểm khách quan của việc tồn tại nền
kinh tế hàng hoá. Đồng thời cũng là biểu hiện và là yêu cầu nội tại của kinh tế hàng hoá.
Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua, bán hàng hoá.
Trong đó người mua chọn người bán, người bán tìm người mua. Họ gặp nhau ở giá cả thị
trường
Ba là: Giá cả để hình thành ngay trên thị trường.Giá cả thị trường vừa là biểu hiện

Hai là: Thị trường các yếu tố sản xuất. Trên thị trường này người ta mua bán các
yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất như các loại nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, sức
lao động .
Vai trò của thị trường: Thị trường là nơi trực tiếp trả lời các câuhỏi sản xuất cái
gì?,sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Thị trường là nơi kiểm tra cuối cùng các
chủng loại hàng hoá, số lượng hàng hoá , cũng như chất lượng sản phẩm.Thị trường kiểm
nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối với tiêu dùng xã hội. Trên ý nghĩa đó có thể nói thị
trường điều tiết sản xuất và là động lực của sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
ngày càng năng động hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn thị trường là nơi cuối cùng để
chuyển lao động tư nhân cá biệt thành lao động xã hội.
2. Cơ chế thị trường :
Nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và lưu
thồng hàng hoá, điều tiết sự vận động của kinh tế thị trường.
Hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm cơ chế thị trường. Một cách
khái quát hơn thì cơ chế thị trường chính là “ bộ máy ” kinh tế điều tiết toàn bộ sự vận
động của kinh tế thị trường, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thông qua sự
tác động của các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật giá trị-quy
luật kinh tế căn bản của sản xuất va lưu thông hàng hoá .
Sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện : Giá cả thị trường lên xuống xoay
quanh giá trị thị trường của hàng hoá, nghĩa là sự hình thành giá cả thị trường phải dựa trên
cơ sở giá cả thị trường. Ngoài giá trị thị trường sự hình thành giá cả thị trường còn chịu tác
động của quan hệ cung cầu hàng hoá. Tính quy luật của quan hệ giữa giá cả thị trường với
gía trị trong sự tác động của quan hệ cung cầu được biểu hiện:
- Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường
- Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn gía trị thị trường.
Sự vận động của gía cả thị trường cũng có tác động tới quan hệ cung cầu hàng hoá.
Nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó giảm xuống, nó sẽ kích thích mức cầu, làm cho

Khả năng tách rời giá trị của giá cả không phải là nhược điểm của quy luật giá cả
mà trái lại nó là vẻ đẹp riêng của quy luật giá trị, là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị.
Nếu giá cả thị trường của hàng hoá luôn ngang bằng với giá trị của nó thì không có sự
hoạt động của quy luật giá trị, nói cách khác đi điều đó có nghĩa là phủ định sự hoạt động
của quy luật giá trị.
Nói đến cơ chế thị trường cần phải nói tới cạnh tranh.
Đó là sự danh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm dành lại phần sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá có lơị cho mình để thu lợi nhuận cao.
Cạnh tranh là môi trường tồn tại của cơ chế thị trường nó đòi hỏi mỗi chủ thể kinh
tế phải chuẩn bị cho mình khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trường.
Sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan đối với những
xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua vai trò của kinh tế thị trường là
một trong những nguyên nhân thất bại trên lĩnh vực kinh tế.
Trong lịch sử cơ chế thị trường có được không gian rộng lớn ở giai đoạn cạnh tranh
tự do tư bản chủ nghĩa vì vậy tác động của cơ chế thị trường được phát hiện khá sớm. Cơ
chế thị trường được coi là “ bàn tây vô hình ” điều tiết sự vận động của nền kinh tế hàng
hoá.
Cơ chế thị trường có các ưu thế sau:
Trước hết cơ chế thị trường kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng
năng xuất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất
Hai là cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Vì
trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hoá mới
và đưa ra sớm nhất thì sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất.
Ba là trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng. Do đó nó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hoá
và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội
- Cơ chế thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không tự giải quyết

Định hướng XHCN nêu trên không chỉ phản ánh nguyện vọng và lý tưởng của đảng,
của Nhà nước và nhân dân ta mà còn phản ánh xu thế phát triển khách quan của thời đại
cũng như quy luật tiến hoá của lịch sử.
Định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần thiết và có tính
khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trường không có gì mâu thuẫn với định hướng
XHCN. Đại hội VIII Đảng ta đã khẳng định “ cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích
cực to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội ’’. Nó chẳng những không đối lập mà còn là
một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường
XHCN” (2 )
Theo ý kiến của đa số các nhà khoa học Việt Nam, có thể quan niệm định hướng
XHCN của kinh tế thị trường ở nước ta có những nội dung chính sau:
Một là: Hai mặt kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trường nước ta được chủ động
kết hợp với nhau ngay từ đầu thông qua pháp luật, chính sách kinh tế và chính sách xã hội
trên cả tầm quản lý kinh tế vi mô và vĩ mô.
Hai là: Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, môi trường sinh thái của đất
nước được chủ động bảo vệ qua các dự án
(1) cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ CNXH ( NXB sự thật-
1991)
(2) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần 8 ( NXB chính trị quốc gia- 1990)
đầu tư môi sinh và qua việc chấp hành một cách đúng đắn pháp luật, chính sách môi
trường của nhà nước qua từng thời kỳ.
Ba là; Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là nền kinh tế có trình độ phát
triển cao. Nếu như nền kinh tế tiền tệ, kém phát triển, tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân thấp kém dẫn tới mức thu nhập bình quân của dân cư còn thấp không có tích luỹ
từ nội bộ nền kinh tế thì không thể gọi là định hướng XHCN được.
Bốn là: Định hướng XHCN còn được thể hiện trong cơ cấu kinh tế nước ta. Để có
định hướng XHCN, kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo, nó cùng với nền

2.1. Giai đoạn thứ nhất; giai đoạn quá độ chuyển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hướng XHCN về mặt lịch sử giai đoạn này rất quan
trọng là nghị quyết hội nghị BCH trung ương lần thứ VI ( khoá IV ) tháng 9- 1979.
Về mặt logic giai đoạn này bắt đầu từ việc hình thành và củng cố những đơn vị sản
xuất những đội sản xuất hàng hoá theo đúng nghĩa nhằm tạo ra mối quan hệ vừa tự
chủ, vừa lệ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể sản xuất
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là khắc phục tính hiện vật của quan hệ trao đổi,
hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ trên thị trường.
Nội dung được thực hiện với một số giải pháp sau:
- Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm chuyển quan hệ
trao đổi có tính hiện vật sang quan hệ hàng hoá tiền tệ.
- Đẩy mạnh phân cồng lao động xã hội nhằm mở rộng thị trường
- Chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sở hữu có tính đa dạng
với nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
- Đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển các quan hệ kinh tế theo chiều dọc,
sang các quan hệ kinh tế theo chiều ngang.Trong các chính sách kinh tế chúng ta đặc
biệt quan tâm tới chính sách giá cả.
2.2. Giai đoạn hai: Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng XHCN.
Đại hội đảng VI năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan điểm phát triển
kinh tế hàng hoá nhiêù thành phần ở nước ta. Quan điểm này đã được khẳng định rõ hơn
tại đại hội lần VII và VIII của Đảng ta.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là: phát triển và mở rộng quan hệ hàng hoá tiền
tệ tạo điều kiện tiền đề cho kinh tế hàng hoá phát triển.
Chúng ta đang thực hiện những giải pháp sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
- Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng các yếu tố thị trường, phát huy


1. Nhà nước là 1 hiện tượng lịch sử, ngay từ khi ra đời nó đã có vai trò to lớn
trong xã hội có giai cấp và trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Nhà nước,
một mặt, nó là tổ chức xã hội;mặt khác, chính thông qua quản lý xã hội có hiệu quả mà
nó thực hiện được sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội. Bất cứ nhà
nước nào cũng đều thực hiện chức năng hai mặt của nó. Mặc dù, nhà nước có định
hướng cho sự phát triển và của xã hội nhưng bản thân xã hội lại vận động theo những
quy luật khách quan của nó, quy luật vận động của đời sống sản xuất vật chất và tinh
thần, tạo ra cơ sở mới, điều kiện mới,do đó,đòi hỏi có sự thay đổi tương ứng trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quản lý nhà nước mới có hiệu quả, nhà
nước mới có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hôi
Từ đại hội đảng lần thứ VI của đảng ( 1986) Việt Nam đã chuyển sang phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước,
thực hiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội; hoà nhập khu vực
Trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mac-Lênin về vai trò của nhà nước cần đặc
biệt chú ý tới hai luận điểm quan trọng:
1.1. Ph. Ang ghen đã từng nêu nguyên tắc có tính phương pháp luận về sự
tác động của nhà nước đối với nền kinh tế rằng: sự tác động của nhà nước nếu là
hợp quy luật thì sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển ngược lại,nếu là sự tác động trái quy
luật thì sẽ gây ra khủng hoảng và lãng phí cho xã hội. Đó là nguyên tắc đúng đắn,
phổ biến đối với hoạt động quản lý của mọi kiểu nhà nước. Đối với nhà nước
XHCN nói chung,nhà nươca Việt Nam nói riêng, chúng ta có thể tìm hiểu ví dụ
trong hoạt động của nó để minh hoạ cho hai cách tác động nói trên của nhà nước.
Từ đó có thể dẫn đến kết luận: Nếu muốn bộ máy nhà nước quản lý có hiệu lực,
hiệu quả thì phải tuân theo quy luật vận động khách quan của xã hội, trước hết là
các quy luật kinh tế.
1.2. Nhà nước ta là nhà nước dân chủ;mà nhà nước dân chủ nếu muốn
quản lý có hiệu lực, hiệu quả thì phải thu hút được nhân dân lao động tham gia một
cách rộng rãi và thực sự bình đẳng vào quản lý công việc của nhà nước và xã hội.
Theo C.Mac, chế độ dân chủ thực chất là chế độ “ do dân tự quy định chế độ nhà

Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình nhằm các mục tiêu sau:
- Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững chánh những đột biến
sấu.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội cao, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
kết hợp với công bằng và tiến bộ xã hội.
- Thực hiện nhiệm vụ quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của đảng, đưa
nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
3. Vai trò kinh tế của nhà nước.
Với tư cách là người quản lý, điều hành nền kinh tế thị trường nhà nước giữ vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc định hướng nền kinh tế thị trường theo chủ nghĩa xã hội. Vai
trò kinh tế nói trên được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát huy cao độ mặt tích cực của nền kinh tế thị trường để phát
triển kinh tế, phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân giầu, nước
mạnh, mục đích cuối cùng của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nhà nước lợi dụng
cơ chế cạnh tranh của thị trường và tụ do hoá sản xuất kinh doanh để giải phóng và phát
triển lực lượng sản xuất, khơi dậy các tiềm năng của mọi cá nhân, tập thể lao động và các
cộng đồng dân tộc theo hướng hiện đại, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ,
thực hiện dân giầu nước mạnh – xã hội văn minh. Muốn vậy nhà nước cần hạn chế tối đa
những mệnh lệnh hành chính để cho hoạt động thị trường được đưa ra chủ yếu trên sự
hướng dẫn của các quy luật của kinh tế thị trường. Nhà nước xây dựng thị trường thống
nhất trong các nước, có tính đến đặc thù và trình độ phát triển không đồng đều của các
vùng từng bước tích cực xây dựng hệ thống thị trường đồng bộ, nhanh chóng tiếp cận thị
trường quốc tế. Trong quá trình xây dựng thị trường cần phải tuân thủ nguyên tắc là tốt thì
để cho thị trường tự điều tiết. Nhà chỉ can thiệp khi hoạt động vi mô ảnh hưởng đến toàn

mặt tiêu cực tự phát vừa bảo vệ lợi ích của xã hội, của con người.
Nhà nườc điều tiết nền kinh tế qua các quan hệ sản xuất và phân phối từ tư liện sản
xuất đến vốn, kỹ thuật, công nghệ, lao động, tiền lương, phúc lợi xã hội
Để vừa phát triển kinh tế; vừa đảm bảo công bằng xã hội phù hợp với điều kiện xã
hội ở nước ta. Sự điều tiết của nhà nước vừa nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng
trưởng ổn định, vừa nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động, đảm bảo công bằng xã hội.
Điều quan trọng là nhà nước cần xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách xã hội nhằm
kích thích được con người sáng tạo không ngừng sử lý được sự phân hoá giầu nghèo quá
đáng, thực hiện được các vấn đề xã hội, phúc lợi xã hội và y tế xã hội, văn hoá phù hợp với
trình độ phát triển của nền kinh tế.Thông qua ngân sách, Nhà nước thực hiện điều tiết và
tái phân phối hợp lý để vừa khuyến khích mọi người làm giầu chính đáng, vừa có nguồn để
thực hiện các chính sách xã hội.
Thứ tư: Nhà nước phải xây dựng được hệ thống kinh tế quốc doanh mạnh vì kinh tế
quốc doanh là nhân tố kinh tế quy định và đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa: Thể
hiện đầy đủ nhất tính ưu việt của chủ nghĩa cộng sản đảm bảo sự thống nhất giữa tăng
trưởng kinh tế với công bắng xã hội, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, thống
nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Nhà nước vừa phải tôn trọng tính bình đẳng
của các chủ thể kinh tế không kể họ ở thành phần nào, vừa phải có ý thức đầy đủ đến việc
phát triển kinh tế quốc doanh để nó thực sự giữ vai trò chủ đạo.Nhà nước bằng các chính
sách, biện pháp kinh tế để sao cho:
- Kinh tế quốc doanh phải chiếm được các vị trí kinh tế then chốt có liên quan
đến hoạt động của toàn nền kinh tế cũng như an ninh, quốc phòng và các hoạt động cần
thiết mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì
không sinh lãi hoặc ít lãi. Kinh tế quốc doanh phải chiếm được các ngành kinh tế có kỹ
thuật và công nghệ hiện đại, tạo ra kiểu mẫu về năng suất, chất lượng, hiệu quả để lôi
cuốn các thành phần kinh tế khác theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
- Kinh tế quốc doanh phải tạo ra kết cấu hạ tầng đáp ứng được yêu cầu phát

điển hình dưới đây:
- Trình độ cơ sở vật chất – kỹ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém.
- Hệ thống cơ cấu hạ tầng, dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội chưa đủ để phát
triển kinh tế thị trường ở trong nước và chưa có khả năng để mở rộng giao lưu với thị
trường quốc tế.
- Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả.
- Chưa có thị trường đúng nghĩa của nó.
- Năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn
thấp.
Phần này phản ánh tổng hợp thực trạng kinh tế hàng hoá còn kém phát triển. Do
trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ thấp, kết cấu hạ tầng dịch vụ sản xuất và dịch
vụ xã hội còn kém: cơ cấu kinh tế còn mất cân đối; Thị trường trong nước chưa phát triển
cho nên năng xuất lao động và thu nhập bình quân tính theo đầu người ở nước ta tất yếu
vẫn còn thấp kém. Tình hình này được phản ánh qua các số liệu sau đây:
Theo giá hiện hành
( tỷ đồng )
1998 1989 1990 1991 1992
GNP 13.266 2.308 2.308 69.959 101.870
Tổng đầu tư
Tiêu dùng (C )
Tiết kiệm (S )
1.906
13.291
- 25
2.817
24.358
- 50

cửa kinh tế hàng hoá mặc dù có được sử dụng như chỉ là hình thức.
Việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử, cho nên sự hạn
chế quan hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộ kinh tế, kìm
hãm nhân tố mới, do đó làm cho nhà nước không thể làm chủ những quá trình kinh tế
khách quan mặc dù trong tay nhà nước có thực lực kinh tế to lớn. Vì vậy, Đại hội lần thứ
VII của Đảng ta khẳng định “ xoá bỏ chiệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp,
hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật kế hoạch chính
sách và các công cụ khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng,
vật tư, dịch vụ, tiền vốn, sức lao động thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt trong cả nước
và với thị trường thế giới ” (1).
3. Thực chất quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN.
(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH, NXB sự thật 1991.
3.1. Từ sự phân tích thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang
kinh tế thị trường có thể rút ra kết luận thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế
nước ta sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là quá trình kết hợp
giữa chuyển nền kinh tế còn mang tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa tiến
tới nền kinh tế thị trường và quá trình chuyển cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Lịch sử đã chứng minh rằng không thể chuyển nền kinh tế nhỏ sang nền kinh tế lớn
nếu thiếu “ đòn xeo ” là kinh tế hàng hoá. Chính C. Mac đã coi sự phát triển của kinh tế
hàng hoá là xuất phát điểm và điều kiện quan trọng nhất không thể thiếu được đối với sự ra
đời và sự phát triển của nền sản xuất lớn TBCN. Nội chiến kết thúc, Lênin cũng chủ
trương thi hành chính sách kinh tế mới ( NEP ) về thực chất, đó là sự phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần nhằm khơi dậy sự sống động của nền kinh tế, mở rộng giao lưu
hàng hóa giữa thành thị và nông thôn, thực hiện các quan hệ kinh tế bằng hình thức quan
hệ hàng hóa tiền tệ trên thị trường.

Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm về kinh tế đối ngoại nói trên, hoạt
động kinh tế quốc tế của nước ta đã có những tiến bộ hơn. Xuất khẩu hàng hoá,tăng nhanh
với nhịp độ trên dưới 20% hàng năm ( 1986- 1992 ) bảo đảm nhập khẩu các loại vật tư và
công nghệ chủ yếu cải thiện dần cán cân thanh toán quốc tế, chúng ta đã nhanh chóng điều
chỉnh và khắc phục được những hẫng hụt về nguồn vốn và thị trường từ các nước SNG và
Đông âu.
Hàng hoá xuất khẩu của nước ta đã tìm được những thị trường mới trong khu vực
đông nam ắ và Tây âu. Nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng tăng nhanh./
Trong khi hòa nhập vào thị trường thế giới và đẩy mạnh hoạt động ngoại thương
cần áp dụng có hiệu quả nguyên tắc lợi thế so sanhs. Từ đó cân nhắc và quyết định cụ thể
xem nên sản xuất loại hàng hoá nào, với số lượng bao nhiêu,từ đó xác định rõ quy mô sản
xuất cho thích hợp.
ở nước ta, lợi thế so sánh bắt đầu được phát huy cần khẳng định bản sắc dân tộc và
xác định khu vực mới tạo điều kiện tốt để hội nhập. Lợi thế so sánh của nước ta được thể
hiện ở các mặt sau đây: nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, nguồn nhân lực rồi
rào với tiền công thấp, vị trí lãnh thổ thuận lợi, Đồng thời nhà nước đã có chính sách đầu tư
hấp dẫn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Chúng ta tiếp tục coi trọng các thị trường chuyền thống, nhanh chóng thâm nhập
vào thị trường mới mở rộng thị trường khu vực, cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng
tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu, tạo ra các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như dầu mỏ, nông –
lâm – thuỷ sản chú ý phát triển dịch vụ, vận tải hàng không, thông tin bưu điện quốc tế
Xuất phát từ lợi thế và khả năng thực tế trong nước, phương hướng mở rộng kinh tế
quốc tế nền tập trung vào những vấn đề cơ bản:
Nhà nước cần có chính sách bảo hộ mậu dịch hợp lý nhằm khuyến khích các ngành
kinh tế phát triển, thu hút những sản phẩm quý hiếm và sản phẩm khoa học từ bên ngoài,
ngăn chặn việc nhập khẩu những hàng hoá trong nước có khả năng sản xuất.
Nhà nước cần duy trì sự ổn định về mặt chính trị, kinh tế và xã hội nhằm tạo ra môi

định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được mục tiêu đó cần phải giải quyết tốt một số vấn đề sau đây:
Trước tiên chúng ta phải chủ động tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, phát huy
những ưu thế và động lực của thị trường, đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực của thị
trường. Cụ thể hơn, chúng ta phải phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ; tổ
chức quản lý và hướng dẫn việc thuê và sử dụng lao động; quản lý chặt chẽ đất đai
và thị trường bất động sản;xây dựng thị trường vốn và từng bước hình thành thị
trường chứng khoán.
Thứ hai phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế để thể chế hoá cương lĩnh,
chiến lược và các chủ trương chính sách của đảng,hình thành khuôn khổ pháp lý
đồng bộ cần thiết cho các hoạt động kinh tế. Kinh tế thị trường là một nền kinh t ế
còn mang tính tự phát và cạnh tranh, thậm chí còn khốc liệt với những đặc trưng đó,
nó cần được kiểm soát bởi một hành lang pháp lý đó là hệ thống pháp luật. Bắt
nguồn từ đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật hàm chứa các yếu tố: hướng
dẫn,kiểm soát và định hướng sẽ gây ra tác động biến chứng của thượng tầng kiến
trúc đến cơ sở hạ tầng trong quá trình vận động của cơ chế thị trường theo định
hướng XHCN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status