LUẬN VĂN: Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty Thương mại Xuất nhập khẩu Hà Nội pot - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn
thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty
Thương mại Xuất nhập khẩu Hà Nội Lời nói đầu Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất
nước trong bối cảnh thế giới có nhiều thuận lợi. Các tổ chức kinh tế, thương mại
khu vực và thế giới đã và đang hoạt động có hiệu quả. Đảng và Nhà nước ta đã gia
nhập vào ASEAN, AFTA và đang trong quá trình hội nhập vào WTO… Hội nhập
với kinh tế trong khu vực và thế giới là yêu cầu tất yếu, khách quan của sự phát
triển kinh tế trong từng nước cũng như toàn thế giới. Nền kinh tế mở cửa đã tạo
điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển nhằm đảm bảo cho sự phát triển lưu

công ty thương mại xuất nhập khẩu Hà Nội trong giai đoạn 1999-2002.
Với mục đích và đối tượng nghiên cứu như trên luận văn được kết cấu thành
ba chương.
Chương I: Những vấn đề chung về hoạt động nhập khẩu hàng hoá
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu của công ty Thương mại Xuất
nhập khẩu Hà Nội thời gian qua
Chương III: Những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở công
ty Thương mại Xuất nhập khẩu Hà Nội

Chương I
Những vấn đề chung về nhập khẩu hàng hóa
i. Khái niệm, chức năng và vai trò của nhập khẩu hàng hoá trong nền
kinh tế quốc dân.
1. Khái niệm nhập khẩu.
Khái niệm: Nhập khẩu được hiểu là việc mua bán và trao đổi hàng hoá dịch
vụ của nước này với nước khác và dùng ngoại tệ để trao đổi.
Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu.
+ Hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua bán ở phạm vi quốc tế, nó không chỉ
là hành vi mua bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ mua bán rất phức tạp,
có tổ chức từ bên trong ra bên ngoài. Vì thế, hoạt động nhập khẩu hàng hoá một
mặt đem lại nhiều hiệu quả kinh tế cao, mặt khác nó có thể gây ra những hậu quả
khôn lường bởi vì nó phải đối đầu với cả một hệ thống kinh tế ở bên ngoài, mà một
nước tham gia nhập khẩu không dễ dàng khống chế được.
+ Hoạt động nhập khẩu là hoạt động giao dịch buôn bán giữa những người có
quốc tịch khác nhau, thị trường vô cùng rộng lớn, khó kiểm soát, đồng tiền thanh
toán là ngoại tệ mạnh, các quốc gia khác nhau tham gia vào hoạt động giao dịch,
buôn bán này phải tuân thủ theo những tập quán, thông lệ quốc tế cũng như của các
địa phương.
+ Hoạt động nhập khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng về cả không gian lẫn thời
gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, song cũng có thể kéo dài hàng

và rẻ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu dùng.
+ Hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện đưa các nước khác hướng vào nước ta
vừa làm kinh tế vừa phát triển sản xuất giúp nền kinh tế nước ta hướng ra nước
ngoài, sẽ có điều kiện cân đối xuất nhập khẩu, tiến lên có thể xuất siêu. Và như vậy

có thể tích luỹ và tăng tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng, kinh tế quốc dân vững
mạnh thì uy tín chính trị cao và có điều kiện góp phần thúc đẩy tiến bộ chung của
của nhân loại .
+ Hoạt động nhập khẩu phát triển có liên quan mật thiết và thúc đẩy các hoạt
động kinh tế đối ngoại khác như: Thông tin và liên lạc quốc tế, tài chính tín dụng
quốc tế, du lịch quốc tế…tạo điều kiện cho việc mở rộng, hợp tác đầu tư quốc tế và
hợp tác trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
+ Hoạt động nhập khẩu góp phần làm cho quá trình liên kết kinh tế xã hội
nước ta với nước ngoài chặt chẽ và mở rộng, góp phần vào sự ổn định kinh tế chính
trị của đất nước.
3. Vai trò của nhập khẩu.
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng trong thương mại quốc tế. Nhập khẩu
tác động một cách trực tiếp và quyết định đến tình hình sản xuất, đời sống. Nhập
khẩu để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản
xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản
xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế nghĩa là nhập khẩu
những thứ mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Làm như vậy
tác động tích cực tới sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng thế mạnh của nền
kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học công
nghệ. Nhìn chung hoạt động nhập khẩu có những vai trò chủ yếu sau:
a. Đối với nền kinh tế thế giới.
+ Thông qua hoạt động nhập khẩu, nền kinh tế của các quốc gia có điều kiện
“xích lại” gần nhau hơn, góp phần vào xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá nền
kinh tế, các nước trên thế giới có thể khai thác được lợi thế của nước mình, sử dụng
tốt các nguồn tài nguyên, nhân lực


thế nhập khẩu còn tạo ra những nhu cầu mới cho xã hội, tạo nên sự phong phú cho
chủng loại hàng hoá, mẫu mã sản phẩm, chất lượng cho thị trường. Điều đó có
nghĩa là nhập khẩu góp phần tạo ra sự cân đối giữa cung và cầu trong nước, đảm
bảo cho sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác một cách tối đa tiềm năng và khả
năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
+ Nhập khẩu cũng là đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, quy cách, mẫu mã,
chất lượng các loại hàng hoá góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.
Nhập khẩu máy móc thiết bị, đầu tư xây dựng là nơi thu hút hàng triệu lao động,
vừa giải quyết công ăn việc làm, hạn chế tệ nạn xã hội, đẩy mạnh sản xuất kinh
doanh.
+ Nhập khẩu tạo ra sự phát triển thực chất của sản xuất xã hội và thanh lọc các
đơn vị sản xuất yếu kém. Nhờ nhập khẩu mà các luồng thông tin được khai thông,
các mối quan hệ được sử dụng tích cực.
+ Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao chất
lượng sản xuất hàng xuất khẩu tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá ra
nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
+ Nhập khẩu tạo cơ sở để các nước mở rộng các quan hệ với các nước khác
trên thế giới, đồng thời gắn liền sản xuất trong nước với phân công lao động thế
giới. Chính vì vậy mà hoạt động nhập khẩu là một trong những nội dung chính
trong chính sách kinh tế đối ngoaị của mỗi nước đối với phần còn lại của thế giới.
Như vậy có thể nói đẩy mạnh nhập khẩu sẽ tạo động lực cần thiết cho việc
giải quyết các vấn đề thiết yếu của nền kinh tế mỗi quốc gia, thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giúp các nước khai thác triệt để lợi thế của
mình trong phân công lao động quốc tế. Điều này nói lên tính khách quan của việc
tăng cường nhập khẩu trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước.
c. Đối với các doanh nghiệp.

+ Qua hoạt động nhập khẩu, các sản phẩm nhập ngoại có tính cạnh tranh cao,
chất lượng, mẫu mã tốt buộc các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải đổi mới,

a. Khái niệm:
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp hay còn gọi là nhập khẩu tự doanh là hình
thức nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp các
hàng hoá và dịch vụ mà không qua một tổ chức trung gian nào.
b. Đặc điểm:
+ Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí và rủi ro cũng như phải chịu mọi trách
nhiệm pháp lý về hoạt động nhập khẩu của mình.
+ Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu
nhiều hơn so với các hình thức nhập khẩu khác. Doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai
trò là người bán trực tiếp, do đó nếu nhập khẩu có quy cách, chất lượng tốt, mẫu mã
đẹp, giá cả phù hợp sẽ nâng cao uy tín doanh nghiệp , thu được lãi cao.
+ Doanh nghiệp phải chịu mọi nghĩa vụ thuế liên quan đến lĩnh vực nhập khẩu
như thuế nhập khẩu, thuế mặt hàng…
c. Quy định của chính phủ Việt Nam đối với hình thức nhập khẩu trực tiếp.
Pháp luật Việt Nam quy định về quyền kinh doanh nhập khẩu như sau:
+ Thương nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập
theo quy định của pháp luật được phép nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã
đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
+ Các chi nhánh thuộc Tổng công ty, công ty được nhập khẩu theo uỷ quyền
của Tổng giám đốc Tổng công ty, giám đốc công ty phù hợp với nội dung trong
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Tổng công ty, công ty.

+ Trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải
đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành phố.
Tổng cục hải quan xây dựng hệ thống mã số nói trên và hướng dẫn việc đăng ký mã
số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu.
+ Đối với doanh nghiệp thành lập theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
hoạt động nhập khẩu được thực hiện theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và
các văn bản pháp luật có liên quan.
2. Nhập khẩu uỷ thác.

Pháp luật Việt Nam quy định rõ về điều kiện doanh nghiệp được nhập khẩu uỷ
thác như sau:
+ Thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc mã số doanh
nghiệp kinh doanh nhập khẩu được uỷ thác nhập khẩu hàng hoá phù hợp với nội
dung của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
+Thương nhân đã đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu được
nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá phù hợp với nội dung giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh.
+ Việc uỷ thác nhập khẩu và việc nhận uỷ thác nhập khẩu các mặt hàng nhập
khẩu có điều kiện do bộ thương mại hướng dẫn cụ thể.
+ Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên uỷ thác nhập khẩu và bên nhận uỷ thác
nhập khẩu được quy định cụ thể trong hợp đồng uỷ thác nhập khẩu do các bên tham
gia kí kết thoả thuận.
3. Hình thức nhập khẩu liên doanh.
a. Khái niệm
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết
kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh
nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra
chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động
này phát triển theo hướng có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc lãi cùng chia, lỗ
cùng chịu.
b. Đặc điểm
+ So với nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp ít chịu rủi ro hơn bởi vì mỗi

doanh nghiệp nhập khẩu chỉ phải góp phần vốn nhất định và quyền hạn và trách
nhiệm của mỗi bên cũng tăng lên theo vốn góp. Việc phân chia chi phí, các loại
thuế theo tỷ lệ góp vốn, lãi lỗ tuỳ theo hai bên thoả thuận phân chia.
+ Trong nhập khẩu liên doanh, doanh nghiệp đứng ra nhập hàng về sẽ được
tính kim ngạch nhập khẩu nhưng khi đưa hàng về tiêu thụ thì chỉ tính doanh số trên
số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chỉ chịu thuế doanh thu trên số hàng đó.

việc giao hàng thiếu hoặc chậm giao…
5. Hình thức nhập khẩu tái xuất.
a. Khái niệm
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào trong nước nhưng không phải
để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước khác nhằm thu lợi nhuận, những
hàng nhập khẩu này không qua chế biến ở nước tái xuất. Như vậy, nhập khẩu tái
xuất luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu,nước tái xuất.
b. Đặc điểm
+ Doanh nghiệp tái xuất phải thực hiện hai hợp đồng: một hợp đông nhập
khẩu và một hợp đồng xuất khẩu.
+ Doanh nghiệp nhập khẩu tái xuất được tính kim ngạch xuất khẩu và nhập
khẩu, doanh số bán tính trên giá trị hàng xuất khẩu do đó phải chịu thuế doanh thu.
+ Hàng hoá nhập khẩu không nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có thể
chuyển thẳng sang nước thứ ba nhưng trả tiền phải luôn do nước tái xuất thu từ
người nhập khẩu và trả cho nước xuất khẩu. Nhiều khi người tái xuất còn thu được
lợi thế về tiền hàng do thu nhanh trả chậm.

6. Hình thức nhập khẩu theo đơn đặt hàng.
a. Khái niệm
Nhập khẩu theo đơn đặt hàng là hình thức đơn vị ngoại thương chịu mọi chi
phí và mọi rủi ro để nhập khẩu hàng hoá cho đơn vị đặt hàng trên cơ sở đơn đặt
hàng của đơn vị đặt hàng còn đơn vị đặt hàng có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền.
b. Đặc điểm
+ Đơn vị ngoại thương phải kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài theo đúng
đơn đặt hàng về các mặt tên hàng, số lượng, quy cách, chất lượng sản phẩm, điều
kiện kỹ thuật và thời hạn giao hàng.
+ Đối với hình thức này phương thức thanh toán thường áp dụng là: nhờ thu
có chấp nhận, có cải tiến.
Với các hình thức nhập khẩu đa dạng như trên, việc áp dụng hình thức nào còn
phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp nhập khẩu (khả năng tài chính, chiến lược

do đó có lợi cho hoạt động nhập khẩu.
Thanh toán quốc tế thường sử dụng những đồng tiền của các quốc gia khác
nhau, do vậy tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn tới hoạt động nhập khẩu.
Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động nhập
khẩu. Bởi vì hoạt động nhập khẩu không thể tách rời khỏi hệ thống thông tin liên
lạc, hệ thống giao thông vận tải, kho tàng bến bãi Hệ thống cơ sở hạ tầng phát
triển sẽ càng thuận lợi và hạ thấp chi phí cho các doanh nghiệp nhập khẩu.
2. Các nhân tố vi mô.
a. Cơ chế tổ chức bộ máy của doanh nghiệp.

Nếu cơ chế bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp sắp xếp hợp lý sẽ giúp
cho các nhà lãnh đạo sử dụng tốt hơn nguồn lực của mình, góp phần nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Ngược lại, nếu bộ máy cồng kềnh, không hợp lý sẽ lãng phí và hạn
chế hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
b. Nhân tố về con người.
Trình độ chuyên môn và năng lực làm việc của mỗi thành viên trong doanh
nghiệp là yếu tố cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh. Các nghiệp vụ
kinh doanh xuất nhập khẩu nếu được thực hiện bởi các cán bộ nhanh nhạy, năng
động, sáng tạo, có trình độ cao và có kinh nghiệm thì chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả
cao.
c. Nhân tố về vốn và trang thiết bị vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Vốn là yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh, doanh nghiệp có vốn lớn thì
càng có nhiều cơ hội nắm bắt những thời cơ hấp dẫn trong kinh doanh và càng có
nhiều lợi nhuận hơn.
Trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật thực chất cũng là vốn của doanh nghiệp.
Nếu trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, hợp lý sẽ góp phần làm tăng tính hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.
IV. nội dung của hoạt động nhập khẩu.
Hình1: Nội dung của hoạt động nhập khẩu.


vai trò quan trọng để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong công tác xuất
nhập khẩu.
Nghiên cứu thị trường của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường bao gồm
các công đoạn sau:
a. Nghiên cứu thị trường trong nước và xác định hàng hoá nhập khẩu
Đây là một trong những nội dung cơ bản và cần thiết đầu tiên của các doanh
nghiệp có ý định gia nhập vào thị trường thương mại quốc tế. Việc đầu tiên là phải
xác định được mặt hàng mình sẽ nhập khẩu sao cho phù hợp với năng lực và đem
lại hiệu quả cao trong kinh doanh.
Mặt hàng mà doanh nghiệp lựa chọn nhập khẩu phải đạt tiêu chuẩn phù hợp
với nhu cầu thị trường trong nước và phù hợp với khả năng cung ứng của doanh
nghiệp. Điều này đòi hỏi phải có sự phân tích, đánh giá kỹ khả năng nội tại của
doanh nghiệp cũng như dự đoán được những khó khăn và thuận lợi của doanh
nghiệp khi quyết định nhập khẩu mặt hàng này để tiêu thụ trong nước. Khi lựa chọn
mặt hàng nhập khẩu, các nhà kinh doanh phải chú ý các vấn đề sau đây:
Thứ nhất: Mặt hàng thị trường đang cần là gì ?
Doanh nghiệp cần khảo sát kỹ thị trường trong nước để biết được hiện tại thị
trường đang có nhu cầu về những mặt hàng nào mà doanh nghiệp có khả năng nhập

khẩu. Khi nghiên cứu thị trường trong nước doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ khía
cạnh thương phẩm để hiểu rõ giá trị, công dụng, nắm được những đặc tính của nó
và những yêu cầu của thị trường về hàng hoá đó như : quy cách sản phẩm bao bì,
cách trang trí bên ngoài, cách lựa chọn phân loại…
Thứ hai: Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào?
Mỗi loại mặt hàng đều có thói quen tiêu dùng riêng, thể hiện ở thời gian tiêu
dùng, thị hiếu tiêu dùng, quy luật biến động của quan hệ cung cầu mặt hàng đó.
Thứ ba: Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
Chu kỳ sống của sản phẩm là tiến trình phát triển việc tiêu thụ của sản phẩm
đó bao gồm bốn giai đoạn : (i) thâm nhập, (ii) phát triển, (iii) bão hoà,(iv) thoái
trào. Do vậy doanh nghiệp nhập khẩu phải nắm được mặt hàng doanh nghiệp dự

nhau nên sự ảnh hưởng của nhân tố này đối với thị trường hàng hoá cụ thể rất đa
dạng về phạm vi và mức độ.
* Nhóm các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến đổi của dung lượng thị
trường: Các nhân tố thuộc đối tượng này rất nhiều, nó ảnh hưởng tới sự biến đổi
của dung lượng thị trường hàng hoá trong thời gian tương đối dài. Ví dụ như nhân
tố tiến bộ khoa học công nghệ, các biện pháp chính sách của nhà nước, thị hiếu và
tập quán của người tiêu dùng, ảnh hưởng của hàng hoá thay thế.
* Nhóm các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường:
Các nhân tố này như hiện tượng đầu cơ đột biến về cung cầu, các yếu tố tự
nhiên như hạn hán, lũ lụt, động đất…
Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường. Khi nghiên
cứu thị trường hàng hoá khác nhau phải vào đặc điểm của chúng để đánh giá đúng
ảnh hưởng của các nhân tố. Điều quan trọng là khi phân tích ảnh hưởng của các

nhân tố đối với sự thay đổi dung lượng thị trường là phải xác định nhân tố nào có
nghĩa quyết định tới xu hướng phát triển của thị trường trong giai đoạn hiện nay và
trong tương lai.
c. Nghiên cứu về giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới.
Nghiên cứu về giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới là vấn đề hết sức quan
trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành nhập khẩu. Giá cả hàng
hoá trên thị trưòng phản ánh quan hệ cung cầu hàng hoá đó trên thị trường thế giới.
Vấn đề xác định đúng đắn giá cả hàng hoá trong kinh doanh thương mại quốc tế có
ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động nhập khẩu.
Trong buôn bán quốc tế giá cả hàng hoá được coi là giá tổng hợp, trong đó bao
gồm giá vồn hàng bán, bao bì, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm và các loại chi
phí khác tuỳ theo các bước thực hiện của các bên tham gia. Nghiên cứu giá cả hàng
hoá bao gồm nghiên cứu giá cả của mặt hàng nhập khẩu tại từng thời điểm trên
từng thị trường, xu hướng biến động của giá cả thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
tới nó.
Khi nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới cần nghiên cứu các

phương Tây. Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới xu hướng biến động của giá cả các
loại hàng hoá trên thị trường thế giới. Sự vận động có tính chất quy luật của các
nước phương Tây sẽ làm cho quan hệ cung cầu thay đổi do đó làm thay đổi dung
lượng thị trường thị trường.
+ Nhân tố lũng đoạn và giá cả.
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đối với việc hình thành và biến động giá cả
hàng hoá trên thị trường thế giới. Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá khác
nhau đối với một loại hàng hoá, thậm chí có trường hợp trên cùng một thị trường.
Tuỳ theo người mua và người bán mà trên thị trường thế giới xuất hiện hai loại giá

lũng đoạn cao và giá lũng đoạn thấp. Giá lũng đoạn cao là giá bán các thiết bị máy
móc do các nhà tư bản công nghiệp ở các nước tư bản có nền công nghiệp phát triển
tạo ra, giá lũng đoạn thấp là giá nguyên vật liệu của các nhà sản xuất nhỏ ở các
nước kém phát triển bán cho các nhà tư bản ở các nước phát triển.
+ Nhân tố cạnh tranh: Cạnh tranh có thể làm cho giá biến động theo xu hướng
khác khau, nó phụ thuộc vào đối tượng tham gia cạnh tranh là người mua hay người
bán.
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau xảy ra khi lượng cung trên thị
trường cao hơn lượng cầu trên thị trường, kết quả là làm cho giá sẽ giảm xuống.
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau xảy ra khi lượng cầu trên thị
trường cao hơn lượng cung trên thị trường, kết quả là làm cho giá sẽ tăng lên.
+ Nhân tố lạm phát.
Giá của hàng hoá không những được quyết định bởi giá trị của hàng hoá mà
còn quyết định bởi giá trị của tiền tệ của những nước có vị trí quan trọng trong
thương mại quốc tế: Ví dụ như USD, Fr…. Do đặc điểm của nền kinh tế hiện nay
giá trị đồng tiền luôn luôn thay đổi, nó gắn liền với vấn đề lạm phát. Lạm phát làm
cho giá cả hàng hoá tăng lên ở các mức độ khác nhau.
Ngoài các nhân tố trên giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới còn phụ thuộc
vào một số nhân tố như tính thời vụ, chính sách của Nhà nước, an ninh chính trị
quốc gia…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status