Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bước vào kỉ nguyên mới, đất nước ta đang có cả thế và lực để hoàn
thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng thích nghi và phát triển đã
làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta liên tục tăng trong nhiều năm
gần đây. Đặc biệt với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO đã đặt ra những cơ hội và thách thức mới
cho kinh tế nước nhà. Cùng với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán thì
kiểm toán đã trở thành một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế nói chung và các
doanh nghiệp nói riêng khi kinh doanh cũng như tham gia vào thị trường
chứng khoán.
Trước tình hình trên, kiểm toán ra đời và phát triển như một nhu cầu
tất yếu cho việc kiểm tra tính trung thực của các Báo cáo tài chính qua đó
tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, tư vấn và đóng góp ý kiến điều chỉnh nghiệp
vụ, nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý.
Kiểm toán chi phí hoạt động là một phần trong quá trình kiểm toán đó
và không thể thiếu được trong bất kỳ cuộc kiểm toán nào. Chi phí hoạt động
bao gồm Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp, để có thể tiến
hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi doanh
nghiệp không thể thiếu hai loại chi phí này. Chi phí hoạt động được xác định
là một khoản mục trọng yếu trong báo cáo tài chính vì nó là cơ sở để xác
định chỉ tiêu lợi nhuận và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Sau một thời gian được thực tập tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam,
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
thực hiện, em đã sử dụng phương pháp: duy vật biện chứng, logic kết hợp
với các phương pháp tổng hợp, phân tích, mô tả… Từ đó, đánh giá những
ưu, nhược điểm và những vấn đề còn tồn tại cần hoàn thiện tại công ty.
5. Kết cấu luận văn
Trên cơ sở đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu, kết cấu luận văn
tốt nghiệp được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kiểm toán Chi phí bán hàng và Chi
phí quản lý doanh nghiệp trong kiểm toán BCTC.
Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục Chi phí bán hàng và
Chi phí quản lý doanh nghiệp trong kiểm toán BCTC do Công ty kiểm
toán Deloitte Việt Nam thực hiện.
Chương 3: Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm toán
khoản mục Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp trong kiểm
toán BCTC do Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam thực hiện.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kiến
thức, bài luận văn của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận
được sự giúp đỡ và góp ý quý báu của các thầy cô để bài luận văn của em
được hoàn chỉnh hơn. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các
thầy cô trong khoa đã nhiệt tình giúp đỡ em để em hoàn thành tốt kỳ thực
tập vừa qua. Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS. Phạm Tiến
Hưng - Người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài này. Em cũng chân
thành cảm ơn Ban giám đốc, cùng với các anh chị trong Công ty TNHH
Deloitte Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập
tại công ty.
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
đất, các chi phí văn phòng, chi phí quản lý hành chính và các chi phí khác.
Đặc điểm chung của các khoản Chi phí hoạt động này như sau:
- Chi phí hoạt động là những chi phí gián tiếp, các khoản chi phí này
phát sinh không trực tiếp liên quan đến quá trình sản xuất tạo ra sản
phẩm.
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Cơ sở để ghi nhận các loại chi phí này là dựa vào các chính sách, quy
định của Nhà nước cũng như của đơn vị, bao gồm các quy định về
việc chi tiền hoa hồng trong giao dịch, môi giới bán hàng; quy định về
tiền công tác phí cho nhân viên bán hàng; quy chế về chi tiếp khách,
quảng cáo…
- Chi phí hoạt động là một trong các cơ sở để xác định chỉ tiêu lợi
nhuận và các loại thuế khác nên rất nhạy cảm với các gian lận nảy
sinh trong quá trình xác định lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp.
- Tất cả các chỉ tiêu về chi phí phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh có mối quan hệ rất chặt chẽ với các chỉ tiêu phản
ánh trên Bảng cân đối tài sản: tiền lương; công cụ, dụng cụ; khấu hao
tài sản cố định; tiền… Cụ thể như sau:
• Đối với các khoản chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng và
nhân viên quản lý doanh nghiệp: Đây là một trong những khoản
chi quan trọng, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu chi phí ở
các doanh nghiệp. Tiền lương và các khoản trích theo lương còn
liên quan trực tiếp tới lợi ích của người lao động, mà ở đây là của
nhân viên bán hàng và quản lý doanh nghiệp nên nó còn mang
thêm nhiều ý nghĩa về mặt xã hội. Ngoài ra, khoản chi phí này còn
nghiệp
Nguyên tắc hạch toán chi phí hoạt động
Khi hạch toán chi phí hoạt động kế toán cần tuân thủ một số các quy
định sau:
- Nguyên tắc nhất quán
- Nguyên tắc thận trọng
- Nguyên tắc phù hợp
- Nguyên tắc trọng yếu
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Nguyên tắc cơ sở dồn tích
Hạch toán kế toán chi phí hoạt động
Theo chế độ kế toán hiện hành thì chi phí bán hàng được hạch toán
vào tài khoản 641 và chi phí quản lý doanh nghiệp được hạch toán vào tài
khoản 642 và được chia thành các tiểu khoản chi phí nhỏ hơn tùy vào điều
kiện và yêu cầu của công tác quản lý khoản chi phí này trong doanh nghiệp.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số các TK có liên quan khác như TK 111,
112, 334, 214, 331, 3331…
Sơ đồ hạch toán tổng quát đối với 2 chỉ tiêu chi phí này xem chi tiết tại
Phụ lục 1 và Phụ lục 2.
Hệ thống chứng từ và sổ sách sử dụng
- Hệ thống chứng từ sử dụng:
• Các loại phiếu thu, phiếu chi, giấy báo Nợ, giấy báo Có của ngân
hàng.
• Các chứng từ liên quan đến nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, đồ
dùng sử dụng cho hoạt động quản lý và bán hàng, phiếu nhập
xuất…
kiểm tra việc ghi chép đúng đắn và đúng kỳ hay những sự điều chỉnh
thường xuyên của các cấp quản lý.
- Đối với các chi phí liên quan đến nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
hay khấu hao TSCĐ, có chính sách và các định mức cụ thể đối với
từng chỉ tiêu như những kế hoạch, quy định về mua sắm và định mức
tiêu hao, phương thức phân bổ các loại vật liệu hay dụng cụ dùng cho
hoạt động bán hàng hay quản lý chung của doanh nghiệp hay những
quy định về khung và tiêu thức khấu hao cho các loại TSCĐ liên
quan.
- Đối với các chi phí liên quan đến tiền lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý đơn vị cần có
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
những quy chế, quy định chặt chẽ từ khâu tiếp nhận và quản lý nhân
sự; theo dõi và ghi nhận thời gian lao động; tính lương, lập bảng
lương và chi chép sổ sách; thanh toán lương và các khoản khác cho
nhân viên đến khâu giải quyết chế độ về lương, các khoản trích theo
lương và chấm dứt hợp đồng lao, đặc biệt là đối với nhân viên quản
lý.
- Đối với khoản chi phí bảo hành sản phẩm (nếu có), cần có chính sách
cụ thể quy định những trường hợp cũng như phương thức bảo hành
đối với từng loại sản phẩm và đảm bảo thực hiện đúng những quy
định này.
- Các khoản chi phí bằng tiền khác và chi phí dịch vụ mua ngoài thì
cũng cần có những quy định, định mức, kế hoạch cụ thể nhằm tối
thiểu hóa chi phí. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý đến kiểm soát nội bộ
đối với các khoản chi phí dễ xảy ra sai sót như chi về tiếp khách, hội
bán hàng và quản lý doanh nghiệp: Nhìn chung, số lượng TSCĐ
này hay nghiệp vụ mua sắm các TSCĐ là không lớn trong kỳ nên
thường được kiểm tra 100% kết hợp với việc theo dõi tính hợp lý
của tiêu thức khấu hao với từng tài sản và quá trình hạch toán kế
toán.
• Đối với các chi phí khác như chi phí dịch vụ mua ngoài hay chi phí
bằng tiền khác: Các chi phí phát sinh đều giữa các kỳ và với số tiền
lớn như các chi phí về thuê nhà, thuê xe… sẽ được kiểm tra bằng
thủ tục ước tính và so sánh chi phí. Các chi phí còn lại do phát sinh
nhỏ lẻ và không đều như các khoản chi tiếp khách, hội nghị, tiếp
xúc bán hàng… cần được áp dụng thủ tục phân tích và phương
pháp kiểm toán chọn mẫu.
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Các chỉ tiêu chi phí luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu thu
chi tiền mặt, tiền gửi… là những yếu tố động và dễ xảy ra gian lận.
Ngoài ra, chúng cũng có liên hệ mật thiết với các khoản mục như phải
trả nhân viên, TSCĐ, vật liệu, công cụ dụng cụ… nên có sự kết hợp
khi kiểm toán 2 khoản mục chi phí này với việc kiểm toán các khoản
mục khác trên bảng cân đối kế toán.
Kiểm toán Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp
Mục tiêu và căn cứ kiểm toán
Mục tiêu kiểm toán
Mục tiêu kiểm toán đối với chỉ tiêu Chi phí bán hàng và Chi phí quản
lý doanh nghiệp là:
- Kiểm tra xem các chi phí được hạch toán vào Chi phí bán hàng và Chi
phí quản lý doanh nghiệp đảm bảo có căn cứ hợp lý, tính toán, đánh
Công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán
được tiến hành một cách có hiệu quả. Các bước công việc trong thủ tục này
nhằm thu thập hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu
về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và các bên hữu quan để đánh
giá rủi ro đối với khoản mục Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh
nghiệp. Sau đó đánh giá khả năng tồn tại những sai sót trọng yếu, đưa ra
đánh giá ban đầu về mức trọng yếu, thực hiện các thủ tục phân tích để xác
định thời gian cần thiết để thực hiện cuộc kiểm toán đồng thời xác định khối
lượng các thủ tục kiểm toán cần thực hiện. Cụ thể các bước công việc như
sau:
- Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng đối với chi phí hoạt động
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Các chính sách, thủ tục mà kiểm toán viên cần thu thập đối với khoản
mục chi phí hoạt động là các quy định mà đơn vị áp dụng để hạch toán
lương, thưởng cho nhân viên bán hàng, nhân viên ở bộ phận quản lý, các
quy định về công tác phí cho nhân viên đi công tác, quy định về chi phí đối
với hoạt động hoa hồng, quảng cáo… hay các định mức mà doanh nghiệp
quy định cho các loại phí nhất định. Ngoài ra, kiểm toán viên còn tìm hiểu
các hoạt động của doanh nghiệp để kiểm tra, giám sát chi phí phát sinh. Để
tiến hành tìm hiểu các hoạt động kiểm soát của khách hàng áp dụng đối với
chi phí hoạt động có thể sử dụng các câu hỏi sau:
• Doanh nghiệp có thiết lập các quy định về hạch toán chi phí, và
chi phí phát sinh có tuân theo các thủ tục đó không.
• Các chứng từ chi có theo đúng mẫu nhà nước quy định không
và có đầy đủ các chữ ký cần thiết không.
• Có phân cấp phê duyệt các loại chi phí không.
• Đánh giá ảnh hưởng của các sai sót có thể xác định được và không
xác định được lên Báo cáo tài chính
Kiểm toán viên xác định mức trọng yếu chung cho toàn bộ Báo cáo tài
chính sau đó tiến hành phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên
Báo cáo tài chính. Việc phân bổ này giúp kiểm toán viên xác định được số
lượng bằng chứng cần phải thu thập cho từng khoản mục với mức chi phí
thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên Báo cáo tài chính
không vượt quá mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu. Cơ sở để thực
hiện phân bổ là dựa vào bản chất của khoản mục, rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát được đánh giá sơ bộ đối với từng khoản mục, kinh nghiệm của
kiểm toán viên và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục.
Rủi ro cơ bản đối với khi chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp là bị ghi tăng lên bằng cách vào sổ các chi phí không hợp lệ của
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp hoặc các chi phí không phải của doanh nghiệp. Có thể nhận
diện rủi ro này như sau bằng cách dựa vào các đặc điểm sau:
- Các nghiệp vụ được hạch toán không theo hệ thống
- Các nghiệp vụ bất thường hay các nghiệp vụ phức tạp
- Các nghiệp vụ do ban giám đốc can thiệp một cách bất thường, liên
quan đến đạo đức và tính liêm chính của Ban giám đốc
- Các nghiệp vụ phát sinh lần đầu, không phổ biến trong hoạt động kinh
doanh của khách hàng.
- Các nghiệp vụ với các bên liên quan có quy mô và bản chất bất
thường
- Các nghiệp vụ có khả năng bất hợp pháp
- Các sai sót cũ thường gặp của khách hàng
Thủ tục khảo sát
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500, quy định: “Thử nghiệm kiểm
soát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù
hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ”.
Kiểm toán viên thực hiện các thử nghiệm kiểm soát đối với chi phí
hoạt động để chắc chắn rằng các chi phí này được quản lý theo một cách
thức đảm bảo rằng chúng đã được phát sinh cho các mục đích đã được quy
định. Phương tiện hoặc các thiết bị khác và các đồ dùng cung cấp cho Ban
giám đốc và các nhân viên phải được kiểm soát để đảm bảo rằng chúng
không được dùng cho các mục đích cá nhân.
Cụ thể các thử nghiệm kiểm soát tương ứng với các thủ tục kiểm soát
nội bộ là:
- Xem xét các chính sách, quy định của khách hàng đối với việc hạch
toán chi phí và kiểm tra thực tế công việc có được tiến hành như quy
định của đơn vị hay không đồng thời so sánh với chế độ hiện hành.
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Kiểm tra sự phê duyệt của các khoản chi đặc biệt là các loại chi phí
hoa hồng bán hàng hay chi phí quảng cáo phải được phê duyệt đầy đủ
và phải hợp lý. Ngoài ra các chi phí vận chuyển hàng bán hoặc các chi
phí do nhân viên tự quyết định phải được kiểm tra định kỳ để đảm bảo
rằng các số tiền đó được chi tiêu hợp lý đồng thời đảm bảo rằng các
chi phí này phát sinh đúng mục đích.
- Kiểm tra tính đầy đủ của việc ghi sổ các chứng từ phát sinh liên quan
đến nghiệp vụ chi phí hoạt động bằng cách kiểm tra tính liên tục của
các chứng từ được ghi sổ. Đồng thời xem xét liệu doanh nghiệp có
nguyên nhân cụ thể để xem xét tính hợp lý hay những nghi ngờ về khả
năng sai phạm.
- So sánh tỷ trọng Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp
trên doanh thu và thu nhập khác giữa kỳ này với kỳ trước hoặc so với
số kế hoạch, số dự toán (có thể là số bình quân ngành) để xem xét khả
năng có biến động bất thường không.
- Xem xét sự biến động của từng khoản mục chi phí trong Chi phí bán
hàng, Chi phí quản lý doanh nghiệp giữa các tháng trong năm hoặc
giữa kỳ này với kỳ trước để phát hiện biến động bất thường; nếu có,
cần tìm hiểu nguyên nhân cụ thể để kết luận.
- So sánh Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp trên BCTC
kỳ này với số ước tính của kiểm toán viên về Chi phí bán hàng và Chi
phí quản lý doanh nghiệp kỳ này (ước tính dựa trên số liệu kỳ trước và
tỷ lệ tiêu thụ, doanh thu bán hàng của kỳ này so với kỳ trước) nhằm
phát hiện ra biến động bất hợp lý nếu có.
Kiểm toán viên cũng cần phân tích các thông tin phi tài chính có liên
quan trong mối quan hệ với sự biến động của Chi phí bán hàng, Chi phí
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
quản lý doanh nghiệp để có thể xét đoán rủi ro và đưa ra định hướng kiểm
toán chi tiết phù hợp.
Thủ tục kiểm toán chi tiết
Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều tiểu
khoản chi phí khác nhau. Trong đó, một số tiểu khoản đã được khảo sát,
kiểm tra ở các khoản mục khác nên có thể kết hợp thủ tục kiểm toán chi tiết
các tiểu khoản này với kết quả khảo sát ở các khoản mục khác. Trọng tâm
của thủ tục này là một số nghiệp vụ phát sinh những khoản chi phí có số tiền
tra việc phân loại các khoản chi phí có đúng đắn không nhằm phát
hiện những khoản chi phí không được phép hạch toán vào Chi phí bán
hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp và không được coi là chi phí
hợp lý của doanh nghiệp theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc tính toán phân bổ Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý
doanh nghiệp trong kỳ có đúng đắn hợp lý và nhất quán hay không,
theo các nội dung như sau:
• Kiểm tra chính sách phân bổ chi phí như về đối tượng phân bổ,
lựa chọn tiêu thức phân bổ xem có hợp lý, đúng đắn và nhất
quán so với các kỳ trước không.
• Kiểm tra việc ghi sổ kế toán các khoản chi phí có được tính và
phân bổ xem có đầy đủ đúng đắn và đúng kỳ hay không
• Kiểm tra việc trình bày, công bố trên BCTC có phù hợp và
đúng đắn hay không.
Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Giai đoạn cuối của cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải thực hiện một
số công việc trước khi đưa ra ý kiến kiểm toán. Những thủ tục này rất quan
trọng, nếu không thực hiện thì có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Những
thủ tục này bao gồm: rà soát lại hồ sơ kiểm toán, yêu cầu khách hàng cung
cấp thư giải trình, xem xét các thông tin khác liên quan trong Báo cáo tài
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
chính, xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ, xem xét vấn
đề liên tục hoạt động.
VSA 700 quy định: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải soát xét
và đánh giá những kết luận rút ra từ các bằng chứng thu thập được và sử
dụng những kết luận này để làm cơ sở cho ý kiến của mình. Việc này thường
• Doanh nghiệp đó hạch toán vào chi phí hoạt động những khoản
chi không có chứng từ hoặc hạch toán trùng hoá đơn.
• Doanh nghiệp đó hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh cả
những khoản chi mà theo quy định là không được hạch toán
vào chi phí sản xuất kinh doanh như các khoản tiền phạt do vi
phạm pháp luật; các khoản chi phí kinh doanh, chi phí đi công
tác nước ngoài vượt định mức quy định; các khoản chi đầu tư
xây dựng cơ bản; chi mua sắm tài sản cố định; các khoản chi
thuộc nguồn kinh phí khác tài trợ; các khoản chi ủng hộ các cơ
quan, tổ chức xã hội và ủng hộ cán bộ công nhân viên (trừ
trường hợp đó có quy định của Chính phủ cho tính vào chi phí
kinh doanh), chi từ thiện và các khoản chi khác không liên quan
đến doanh thu, thu nhập chịu thuế.
• Doanh nghiệp có sự nhầm lẫn trong việc tính toán, ghi sổ do đó
làm cho chi phí ghi trong sổ sách, báo cáo kế toán tăng lên so
với số phản ánh trên chứng từ kế toán.
• Doanh nghiệp đã tính vào chi phí các khoản trích trước mà thực
tế không chi hết nhằm làm giảm bớt lãi thực tế. Ví dụ: trích
trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí bảo hành sản
phẩm hàng hoá, công trình xây dựng, chi phí lãi vay…
• Doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí trong năm các khoản chi
phí thực tế đã phát sinh nhưng do nội dung, tính chất hoặc độ
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
lớn của khoản chi nên theo quy định các khoản chi này phải
phân bổ cho nhiều kỳ sản xuất kinh doanh.
- Chi phí phản ánh trên sổ sách, báo cáo thấp hơn chi phí thực tế, điều
đổi.
Trần Thị Minh Hà
CQ46/22.05