BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN THỊ LỢI
NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
TRÊN MỘT SỐ LOẠI ĐẤT CHÍNH
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. TRẦN NGỌC NGOẠN
2. PGS. TS. ĐẶNG VĂN MINH
THÁI NGUYÊN, 2011 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa
từng được công bố trong bất kỳ luận án nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Lợi
LỜI CẢM ƠN
HSTNN Hệ sinh thái nông nghiệp
HTTT Hệ thống trồng trọt
NPK Phân tổng hợp đạm, lân, kali
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
GTSXCN Giá trị sảm xuất công nghiệp
BQ Bình quân
NSLT Năng suất lý thuyết
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu của đề tài
2
3. Yêu cầu của đề tài
2
4. Giới hạn của đề tài
3
5. Những đóng góp mới của đề tài
3
PHẦN THỨ HAI: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
4
2.1. Cơ sở khoa học của hệ thống cây trồng
4
2.1.1. Một số khái niệm
4
2.1.1.1. Hệ thống cây trồng
20
2.2. Tình hình nghiên cứu hệ thống cây trồng
22
2.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
22
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
28
PHẦN THỨ BA: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1. Phạm vi, đối tượng và địa bàn nghiên cứu
33
3.1.1. Phạm vi nghiên cứu
33
3.1.2. Đối tượng và địa bàn nghiên cứu
33
3.2. Nội dung nghiên cứu
34
3.2.1. Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở
huyện Đồng Hỷ tới hệ thống cây trồng nông nghiệp
34
3.2.2. Đánh giá hiện trạng hệ thống cây trồng nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ
34
3.2.3. Nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng nông nghiệp trên một loại
đất chính của huyện Đồng Hỷ
34
3.2.3.1. Nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng thích hợp trên đất ruộng
của huyện Đồng Hỷ
34
3.2.3.2. Nghiên cứu một số biện pháp canh tác cải tiến thích hợp đối với
cây chè trong thời kỳ kinh doanh trên đất gò đồi ở huyện Đồng Hỷ
45
3.3.6.2. Năng suất điều tra và thu được từ các mô hình trên đất ruộng
được xử lý, phân tích thống kê theo công thức
: 45
3.3.6.3. Năng suất mô hình được so sánh theo trương trình SAS
45
3.3.6.4. Hiệu quả kinh tế đươc tính toán theo phương pháp lấy thu trừ chi
phí trong sản xuất = lãi thuần.
45
PHẦN THỨ TƯ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
46
4.1. Kết quả đánh giá một số yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh
hưởng tới hệ thống cây trồng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
46
4.1.1. Đặc điểm địa hình đất đai
46
4.1.2. Đặc điểm về thời tiết khí hậu
48
4.1.3. Đặc điểm kinh tế – xã hội
51
4.2. Kết quả đánh giá một số đặc điểm của hệ thống cây trồng ở huyện Đồng Hỷ
54
4.2.1. Đánh giá đặc điểm hệ thống cây trồng trên đất ruộng
54
4.2.1.1. Cơ cấu diện tích gieo trồng cây hằng năm
54
4.2.1.2. Cơ cấu giống gieo trồng cây hằng năm
56
4.2.1.3. Kỹ thuật trồng trọt cây hằng năm
94
4.3.3.2. Thay đổi giống và tăng vụ trên đất độc canh 2 vụ lúa
96
4.3.3.3. Tăng vụ trên đất cấy một vụ lúa
97
4.3.4. Những đánh giá, phân tích và đề xuất về chuyển dịch cơ cấu cây trồng
. 101
PHẦN THỨ NĂM KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
104
5.1. Kết luận
104
5.2. Đề nghị
106
TÀI LIỆU THAM KHẢO
107 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Các nhóm đất chính ở huyện Đồng Hỷ
46
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu lý hóa tính của một số loại đất chính ở huyện Đồng Hỷ
48
Bảng 4.3: Đặc trưng của bức xạ các tháng trong năm
49
Bảng 4.4: Đặc điểm của một số yếu tố thời tiết huyện Đồng Hỷ
50
Bảng 4.5: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Đồng Hỷ
53
Bảng 4.6: Tình hình phân bổ đất đai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ năm 2005
- 2005 ở huyện Đồng Hỷ
65
Bảng 4.20: Kết quả thăm dò ý kiến của nông hộ về cây trồng trên trên đất gò
đồi ở huyện Đồng Hỷ
66
Bảng 4.21: Kết quả điều tra, phân tích một số cây trồng chính trên đất ruộng ở
huyện Đồng Hỷ
68
Bảng 4.22: Kết quả điều tra, phân tích một số cây trồng chính trên đất gò đồi ở
huyện Đồng Hỷ
70
Bảng 4.23: Tình hình sinh trưởng – phát triển và khả năng chống chịu của các
giống lúa thí nghiệm – vụ xuân năm 2004
72
Bảng 4.24: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống lúa thí
nghiệm vụ xuân năm 2004
73
Bảng 4.25: Kết quả kiểm chứng năng suất của các giống lúa so sánh trong vụ xuân
2004, 2005, 2006
74
Bảng 4.26: Tình hình sinh trưởng – phát triển và khả năng chống chịu sâu, bệnh
của các giống lúa thí nghiệm – vụ mùa năm 2004 76
Bảng 4.27: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa thí
nghiệm – vụ mùa năm 2004
77
Bảng 4.28: Kết quả kiểm chứng năng suất của các giống so sánh trong vụ mùa
2004, 2005 và 2006
77
Bảng 4.29: Tình hình sinh trưởng – phát triển và khả năng chống chịu của các
Bảng 4.39: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu
tương thí nghiệm trên đất 1 vụ lúa ở vụ xuân năm 2004
88
Bảng 4.40: Kết quả kiểm chứng năng suất đậu tương ở các năm 2004, 2005 và
2006
89
Bảng 4.41: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới năng suất các công thức chè
thí nghiệm năm 2006
89
Bảng 4.42: So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức chè thí nghiệm
91
Bảng 4.43: Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến độ ẩm đất chè thí nghiệm
ở vụ đông xuân năm 2006
92
Bảng 4.44: Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đất đến năng suất chè thí
nghiệm ở vụ đông xuân
93
Bảng 4.45: So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức chè thí nghiệm
94
Bảng 4.46: Năng suất cây trồng ở các mô hình
95
Bảng 4.47: So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình cải tiến trên đất 3 vụ
95
Bảng 4.48: Năng suất cây trồng trong mô hình thực hiện trên đất 2 lúa.
96
Bảng 4.49: So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình cải tiến trên đất 2 lúa
96
Bảng 4.50: Một số chỉ tiêu hóa học đất trên mô hình lúa xuân – lúa mùa –
khoai tây đông
97
Hệ thống cây trồng là sự sắp xếp, bố trí giống và các loại cây trồng trong
không gian và thời gian nhất định, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự
nhiên, kinh tế - xã hội. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm từ cây trồng
không chỉ nhằm đáp ứng về vấn đề lương thực, thực phẩm t
ại chỗ cho người nông
dân, mà còn trở thành loại hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài
nước, góp phần to lớn trong công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của đất
nước. Do vậy để tăng năng suất, sản lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế cây trồng, thì
công tác nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
tình hình hiện nay.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Trung du Bắ
c Bộ, có tổng
diện tích tự nhiên là 354.110 ha, đất đồi núi chiếm gần 80% và mật độ dân số tương
đối đông (1.046.163 người), lao động nông nghiệp chiếm trên 80%, như vậy xét về
mặt dân số, đất đai thì kinh tế nông lâm nghiệp đóng vai trò chủ yếu. Nhằm phát
huy thế mạnh của tỉnh, trong những năm vừa qua Thái Nguyên đã triển khai nhiều
công trình nghiên cứu khoa học về nông nghiệp, lâm nghiệp. Bao gồm các hoạt
động cơ bản là: Thực hiện nghiên cứu khoa học để lựa chọn cây, con có thế mạnh,
có khả năng phát triển phù hợp với điều kiện của tỉnh nói chung và từng vùng sinh
thái trên địa bàn nói riêng, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm của thị trường
trong và ngoài nước đối với các mặt hàng nông sản; Nghiên cứu và chuyển giao để
áp dụng những kỹ thuật tiến bộ mớ
i về giống, công nghệ sản xuất trong chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp với từng vùng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
cao nhất trong đầu tư; Có những cơ chế và chính sách thích hợp để khuyến khích và
thúc đẩy công tác nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nông lâm
nghiệp vào sản xuất thực tế. Huyện Đồng Hỷ là một trong những địa ph
ương nằm
trong vùng phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích tự nhiên là
46.177 ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp chiếm gần 26%; Đất lâm nghiệp
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng hệ thống cây trồng nông nghiệp trên đất ruộng và đất gò đồi
ở huyện Đồng Hỷ.
- Nghiên cứu thử nghiệm các loại giống cây trồng trong các vụ xuân, vụ mùa
và vụ đông đối với đất ruộng; nghiên cứu thí nghiệm một số biện pháp canh tác
thích hợp đối với cây chè ở thời kỳ kinh doanh trên đất gò
đồi. 3
- Xây dựng mô hình canh tác trên đất ruộng dựa vào kết quả nghiên cứu thí
nghiệm đã đạt được; xây dựng mô hình sản xuất chè kinh doanh bền vững và cho
hiệu quả kinh tế cao.
- Đề xuất định hướng phát triển hệ thống cây trồng ở huyện Đồng Hỷ trong
thời gian tới.
4. Giới hạn của đề tài
Tập trung nghiên cứu, phân tích đánh giá tình hình thực trạng sản xuất cây
trồng nông nghiệp trên mộ
t số loại đất chính ở huyện Đồng Hỷ, bao gồm: hệ thống
cây trồng trên đất ruộng 1 vụ, 2 vụ và 3 vụ; hệ thống cây trồng lâu năm trên đất gò
đồi ở huyện Đồng Hỷ; nghiên cứu thí nghiệm bộ giống cây trồng mới có năng suất,
cho hiệu quả kinh tế cao và tiến hành xây dựng mô hình trên các chân đất ruộng ở
huyện Đồng Hỷ; nghiên cứu thí nghiệm liều lượ
ng bón phân vô cơ kết hợp phân vi
sinh đối với cây chè trên đất gò đồi; nghiên cứu thí nghiệm một số biện pháp giữ ẩm
cho cây chè ở vụ đông; xây dựng mô hình sản xuất chè kinh doanh theo hướng bền
vững, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè ở huyện Đồng Hỷ.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Đối với cây trồng hàng năm trên đất ruộng ở huyện Đồng Hỷ, sau khi cải
ti
thiên nhiên mà còn phụ thuộc vào quy mô và phần trả lại của sản phẩm cây trồng,
giá của chi phí đầu vào bao gồm lao động, sự kết hợp giữa các hợp phần công việc,
sức khoẻ của nông dân và chiều hướng của rủi ro (David, 2003) [82].
Theo Zahidul và cs (1982) [104], mô hình cây trồng ở Bangladesh được điều
chỉnh khảo nghiệm thực hiện bao gồm giống cây trồng, quản lý cải tiến chi phí đầu
vào và giới thiệu những giống cây trồng mới cho từng vùng khác nhau có ý nghĩa
quan trọng trong việc gia tăng lương thực và thực phẩm cho người dân địa phương,
làm tăng cường độ màu mỡ của đất. Ở Srilanka, nghiên cứu HTCT cho thấy cải tiến
công nghệ canh tác (cơ cấu cây trồng phù hợp, luân canh tăng vụ, kỹ thu
ật hợp lý
cho từng loại cây trồng) thì tiềm năng sản lượng cây trồng tăng cao rõ rệt tuỳ theo
từng vùng đất khác nhau (Fernando và cs, 1982) [87].
Hoạt động nông nghiệp chính ở các vùng trước tiên là trồng trọt, sau đó là chăn
nuôi (Bộ NN&PTNT, 2003) [6]. Như vậy, có thể thấy rằng hệ thống trồng trọt (HTTT)
là nền tảng chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp. HTTT là một hệ
thống phụ trung tâm c
ủa hệ thống nông nghiệp, hoạt động của HTTT ảnh hưởng mang
tính quyết định đến sự hoạt động của các hệ thống phụ khác (Nguyễn Duy Tính, 1995)
[54]. HTTT là hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại, nó bao gồm các hợp phần 5
cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại và mối quan hệ của chúng
với môi trường. Trong HTTT thì hệ thống cây trồng đóng vị trí chủ đạo. Nghiên cứu
HTCT là xác định HTCT đó có những loại cây gì, giống gì, mùa vụ trồng trọt, công thức
luân canh (Phạm Chí Thành và cs, 1993) [45].
Việc chuyển đổi nền kinh tế trong nông nghiệp ở vùng cao nước ta hiện nay
theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đ
òi hỏi bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để
sản xuất có hiệu quả cao nhất, đảm bảo an toàn về lương thực, bảo vệ môi trường
động theo thời gian.
HTCT hợp lý là phát triển HTCT mới trên cơ sở cải tiến HTCT cũ hoặc phát
triển HTCT. Trên cơ sở thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại
các thành phần cây trồng và giống cây tr
ồng, đảm bảo các thành phần trong hệ
thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt
nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi
trường sinh thái (Lê Thế Hoàng,1995) [20]; (Lê Duy Thước, 1991) [50]. Đứng về
quan điểm sinh thái học, bố trí HTCT hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong
hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào
để đạt năng suất sơ cấp cao nhất (Đào Thế Tuấn,
1989) [63]. Về mặt kinh tế, HTCT hợp lý cần thỏa mãn yêu cầu chuyên canh và tỷ
lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát
triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư
lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả
kinh tế cao. Xác định HTCT hợp lý ngoài
việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,
cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của vùng. Phương hướng sản xuất quyết
định HTCT, nhưng HTCT hợp lý sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách xác
định phương hướng sản xuất (Bùi Phúc Khánh, 1995) [22].
2.1.2. Những yếu tố cơ bả
n ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng
Theo Phạm Chí Thành (1991) [44] thì hệ thống cây trồng chịu sự chi phối
bởi các yếu tố tự nhiên kinh tế – xã hội và điều kiện của nông hộ như đất, lao động,
vốn và kỹ năng sản xuất. Cụ thể bao gồm các yếu tố sau:
2.1.2.1. Nhiệt độ
Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của cây,
sẽ phát tri
ển thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ nhất định. Cây ưa nóng là
những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ trên 20
Căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ của từng nhóm cây: ưa nóng, ưa lạnh hay ngày
ngắn để bố trí sắp xếp HTCT trong năm. Bố trí HTCT trong một năm ở nước ta
được Lý Nhạc và cs (1987) [32] sắp xếp theo 4 vùng và tuỳ thuộc vào yêu cầu nhiệt
độ của từng nhóm cây trồng. Mỗi cây trồng cần một tổng tích ôn nhất định để hoàn
thành chu kỳ sinh trưởng. Tổng tích ôn này phụ thu
ộc vào thời gian và đặc điểm
sinh học của cây trồng và lượng bức xạ mặt trời cung cấp được. Đó là những căn cứ
để bố trí mùa vụ, cải tiến cơ cấu cây trồng, né tránh thời tiết bất thuận.
2.1.2.2. Lượng mưa
Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng. Cây trồng đòi hỏi một
lượng nước lớ
n gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng. Lượng nước mà cây
tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây trồng (gọi là hệ số tiêu
thụ nước) như ngô: 250 - 400, lúa: 500-800, bông: 300-600, rau: 300 - 500, cây gỗ:
400-600, Trần Đức Hạnh và cs, (1997) [19]. Hầu hết lượng nước sử dụng cho nông
nghiệp là nước mặt và một phần nước ngầm, các nguồn này được cung cấp chủ yếu
từ lượng mưa hàng năm. Nước mưa ảnh hưởng đến quá trình canh tác như làm đất,
thu hoạch. Mưa ít hoặc mưa nhiều quá so với yêu cầu đều làm ảnh hưởng tới thời
vụ gieo trồng và thu hoạch. Tùy theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và
khai thác nước đối với một vùng cụ thể, để xem xét lựa chọn cơ cấu cây trồng thích
hợp. Đặc biệt, ở vùng đất đồi núi miền Bắc nước ta thì những trận mưa rào ảnh
hưởng đến xói mòn, rửa trôi lớp đất bề mặt do độ che phủ của cây trồng chưa kép
kín. Tiến trình xói mòn và thoái hoá đất xảy ra khi có những trận mưa rào và lượng 8
nước không thể thâm nhập sâu được vào trong đất và khi đó bắt đầu xuất hiện dòng
chảy bề mặt (Benites, 2007) [79].
2.1.2.3. Đất đai
Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất trên thế giới,
9
1982) [99]. Như vậy, bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp hữu hiệu điều khiển
dinh dưỡng đất. Nước ta có khoảng 25 triệu ha đất vùng đồi núi, chiếm 2/3 tổng
diện tích đất tự nhiên của Việt Nam, có độ dốc nhất định. Gieo trồng cây ngắn ngày
thường làm giảm hàm lượng hữu cơ và dự trữ mùn, đạm. Hệ số mùn hoá thấp chỉ
4 – 5 %/năm, phần lớn chất hữu cơ ở dạng tự do và liên kết kém bền vững với
Sesquioxyd có chỉ số Polime cực thấp, dễ bị khoáng hoá và rửa trôi. Bề mặt chất
hữu cơ liên kết yếu đã kéo theo hàng loạt suy thoái về cơ chế vật lý đất đai, chế độ
nước dự trữ và dạng dinh dưỡng dễ tiêu. Để phục hồi đất đồi núi cần bổ sung vùi
vào đất một lượng chất hữu cơ mới (phân chuồng, phân xanh, cỏ rác, tàn dư cây
trồng ) khoảng 10-15 tấn/ha/năm. Chuyển từ cơ cấu độc canh cây ngắn ngày sang
đa canh sẽ tăng mạnh mức hữu cơ và nhịp độ tuần hoàn hữu cơ trong đất. Đây là
một đảm bảo cho sử dụng đất lâu bền (Nguyễn Văn Bộ, 2001) [5].
2.1.2.4. Cây trồng
Cây trồng là thành phần trung tâm của hệ sinh thái đồng ruộng (Đào Châu
Thu và cs, 1990) [49]. Bố trí HTCT hợ
p lý là lựa chọn loại cây trồng nào để lợi
dụng được tốt nhất các điều kiện tự nhiên cũng như các nguồn tài nguyên khác của
vùng. Sử dụng những nguồn lợi đó một cách tốt nhất, nghĩa là phải lựa chọn cho
cây trồng những điều kiện thuận lợi nhất để chúng sinh trưởng, phát triển và cho
năng suất cao. Theo nghiên cứu của Vilamanya (1986) [100] ở vùng Galicia của
Tây Ban Nha, mô hình luân canh cây trồng được bố trí năm thứ nhất: ngô trồng xen
với cỏ Ý; năm thứ hai: cây ngô (khoai tây) với cây lúa mì hoặc lúa mạch đen với
cây củ cải Thụy Điển và sau đó là lúa mạch đen và bỏ hoang. Điều kiện khí hậu và
các yếu tố khác như độ màu mỡ của đất, hình thức canh tác và yêu cầu lao động ảnh
hưởng đến thâm canh cây trồng và mức độ thâm canh ảnh hưởng đến tổng năng suất
khô hàng năm trên đơn vị sử dụng đất. Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà
con người ít có khả năng thay đổi, còn với cây trồng thì con người có thể thay đổi
các yếu tố đầu vào, chọn lựa, di thực, (Edwards, 1989) [85]. Với trình độ công
sinh vật có ích khác. Các thành phần sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quần
thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp. Tạo
dựng và duy trì cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế được các
mặt có hại, phát huy mặt có lợi đối với con ng
ười là vấn đề cần quan tâm trong
HSTNN. Bố trí HTCT cần chú ý đến các mối quan hệ giữa các thành phần sinh vật
trong HSTNN, dựa theo các nguyên tắc là: (i) Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các
sinh vật với cây trồng; (ii) Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống có hại 11
đối với cây trồng cũng như đối với lợi ích của con người. Các mối quan hệ giữa
sinh vật với cây trồng trong hệ sinh thái được biểu hiện qua các mối quan hệ cạnh
tranh, cộng sinh, ký sinh và ăn nhau theo nguyên tắc hình tháp số lượng trong dây
chuyền dinh dưỡng (Lê Văn Khoa và cs, 1997) [24]. Vì vậy, khi chuyển đổi cơ cấu
cây trồng cần chú ý đến các nội dung sau: (i) Xác định thành phần, tỷ lệ giống cây
trồng thích hợp vớ
i điều kiện cụ thể của từng vùng, từng cơ sở sản xuất; (ii) Chọn
thời vụ tốt nhất để tránh thời tiết bất thuận, tránh độc canh, chọn giống gieo trồng
hợp lý sẽ bảo đảm năng suất, sản lượng, chất lượng cây trồng, hạn chế được tác hại
của cỏ dại, sâu bệnh và thời tiết bất lợ
i gây ra; (iii) Trồng xen nhiều loại cây trồng
trong cùng một diện tích một cách hợp lý có thể hạn chế được sự gây hại của cỏ dại,
sâu bệnh, đồng thời làm tăng được hệ số sử dụng đất đai.
2.1.2.6. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh tế. Mục tiêu của sản xuấ
t nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng và phát
triển kinh tế-xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của
toàn xã hội khi nguồn lực tự nhiên có giới hạn. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh