Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình phát triển ở VN - Pdf 12

Lời nói đầu
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng đờng lối,
chiến lợc phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá
trình phát triển kinh tế của một đất nớc. Trong đó, việc xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý là một trong những vấn đề hết sức quan trọng.
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 đến nay, rõ nhất là từ
năm 1990 cơ cấu kinh tế nớc ta đã có sự chuyển dịch theo hớng tích cực phù
hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng các ngành công
nghiệp và dịch vụ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn. Những chuyển biến đó đã
góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trởng nhanh và ổn định.
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó cũng mới
chỉ là bớc đầu và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm. Cho đến nay, n-
ớc ta vẫn là nớc nông nghiệp, dân c sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Để đạt đợc mục tiêu đến năm 2020: "Đa nớc ta cơ bản
trở thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu
kinh tế ngành hợp lý với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm dới 10%, công
nghiệp 35 - 40%, dịch vụ chiếm 50 - 60% trong tổng GDP". Mà Đại hội VIII đã
đề ra thì còn nhiều vấn đề phải đợc tiếp tục nghiên cứu và có giải pháp sát thực.
Với lý do đó, em chọn đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong
quá trình phát triển ở Việt Nam". Đề tài này đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn
của T.S và sự giúp đỡ của các giảng viên trong Khoa khoa học quản lý. Do
trình độ và thời gian có hạn, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy, cô trong Khoa để bài viết sau đợc
hoàn chỉnh hơn.Ch ơng 1
Một số vấn đề lý luận chung về chuyển dịch
cơ cấu ngành trong nền kinh tế

1.1 Một số lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc cha phù hợp
để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ
cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Xu hớng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
là chuyển dịch theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nghĩa là tỷ trọng và vai
trò của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hớng tăng nhanh còn tỷ trọng của
ngành nông nghiệp có xu hớng giảm. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy muốn
chuyển từ một nền nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua
các bớc: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm
40-60%, công nghiệp từ 10-20%, dịch vụ từ 10-30%) sang nền kinh tế công,
nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp 15-25%, công nghiệp 25-35%, dịch
vụ 40-50%) để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển (tỷ trọng
ngành nông nghiệp dới 10%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ 50-60%).
1.1.1.3 Những yếu tố ảnh hởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành của nền
kinh tế.
- Sự phát triển các loại thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế có ảnh hởng
trực tiếp và quyết định đầu tiên tới cơ cấu ngành của nền kinh tế. Bởi lẽ, thị tr-
ờng là yếu tố hớng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều xuất phát từ quan hệ cung - cầu trên thị tr-
ờng để định hớng chiến lợc kinh doanh của minh. Sự hình thành và biến đổi
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thích ứng với các điều kiện
của thị trờng, dẫn tới từng bớc thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đất nớc. Bởi vậy, sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trờng
trong nớc (thị trờng hàng hoá dịch vụ, thị trờng vốn, thị trờng lao động, thị tr-
ờng khoa học - công nghệ...) có tác động mạnh đến quá trình hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nớc là cơ sở hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền váng và có hiệu quả. Việc xác định
các ngành mũi nhọn, các ngành cần u tiên phát triển phải dựa trên cơ sở xác
định lợi thế so sánh và các nguồn lực (cả trong và ngoài nớc có khả năng khai

ờng hợp doanh nghiệp bị thua lỗ thì Nhà nớc sẽ bù lỗ.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năng
sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng của
chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế) mà còn tạo ra
những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện một số ngành công nghiệp non trẻ
công nghệ tiên tiến nh: dầu khí, điện tử... do đó có triển vọng phát triển mạnh
mẽ trong tơng lai.
Trên đây, chúng ta vừa xem xét một số khái niệm cơ bản cũng nh các nhân
tố ảnh hởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Qua đó, giúp cho chúng
ta hiểu rõ hơn về bản chất của vấn đề để từ đó có thể rút ra những kết luận mang
tính giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình phát triển.
4
1.1.2 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển
kinh tế.
Cơ cấu kinh tế hợp lý giúp cho việc thu đợc mức tăng sản xuất xã hội lớn
nhất, mới có thể phân bố hợp lý lực lợng sản xuất, phát triển các mối quan hệ
đối ngoại, đa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất.
Để làm sáng tỏ kết luận trên, ta có thể phân tích ví dụ sau đây về cơ cấu
ngành sản xuất của hệ thống kinh tế - xã hội cho năm 1976 ở Việt Nam.
Bảng 1: Bảng cân đối liên ngành của Việt Nam năm 1976
ĐV: Triệu
Ngành sản xuất
Giá trị tổng
sản lợng
Tiêu dùng sản xuất
I II III
Sản lợng
cuối cùng
Công nghiệp (I)
Nông nghiệp (II)

7940
2200
1530
6310
Năm
1976
Theo tỷ lệ % ta có:
Bảng 2:
I II III Cộng
Giá trị tổng sản lợng 39.18 33.89 26,93 100
Chi phí lao động 25.22 56.16 28,62 100
Tổng số vốn đầu t (trong và ngoài nớc) có thể huy động cho năm sau là
1878 triệu đồng và có thể phân bố cho các ngành với mức tiếp nhận cùng hiệu
quả thu đợc nh sau:
5
Bảng 3:
Công nghiệp Nông nghiệp Các ngành khác
Mức % tiếp nhận
Hiệu quả (Mức tăng sản lợng/1
triệu đồng vốn đầu t)
25 %- 38%
20%
25 35%
25%
30 42%
22%
Vợt quá mức, hiệu quả là 15% 22% 20%
Ta xét 2 phơng án phân bố vốn đầu t nh sau:
Bảng 4:
Vốn đầu t Công nghiệp Nông nghiệp Các ngành khác

8057,38
6475,26
3905
913
12172
1116,76
1177,15
355,17
1200,64
259
1191,45
CPLĐ
LN
GTTSL
1967,8
1308,48
9311,46
3602,48
1806,32
8057,38
2259,87
1564,3
6475,26
Năm 1977
Phơng
án 1
Bảng 7: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phơng án II)
Đơn vị: Triệu đồng
Ngành sản
xuất

3586,12
1797,07
8022,63
2254,62
1563,39
6460,24
Năm 1977
Phơng
án 2
Nh vậy, với cùng một mức vốn đầu t nh nhau (2878 triệu) nếu đầu t theo tỷ
lệ khác nhau vào các ngành khác nhau, sẽ dẫn tới kết cấu chi phí lao động khác
nhau và hiệu quả thu đợc mức tăng sản phẩm xã hội khác nhau (Bảng 6,7,8)
7
Phơng án I Phơng án II
I II III I II III
Kết cấu vốn 35% 25% 40% 40% 20% 40%
Kết cấu lao động 25,13% 46% 28,87% 25,16% 45,95% 28,89%
Mức tăng TSL + 414,1 triệu đồng + 345,28 triệu đồng
Ta thấy phơng án I hơn hẳn phơng án II mặc dù số vốn đầu t nh nhau.
Chính vì vai trò cơ cấu kinh tế trong việc phát triển, cho nên có nhiều tác
giả đã nói rằng: thực chất của chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội là chiến lợc
không ngừng hoàn thiện và chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
1.1.3 Lý luận về mối liên hệ giũa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát
triển nền kinh tế.
Quá trình phát triển tăng trởng kinh tế của một quốc gia thờng đợc xem
xét nh là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu ngời. Mặc dù có
nhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trởng nhng chỉ tiêu trên
vẫn đợc coi trọng và làm thớc đo cho sự phát triển kinh tế. Một xu hớng mang
tính quy luật là cùng với sự phát triển của kinh tế là một quá trình thay đổi về cơ
cấu kinh tế, tức là một sự thay đổi tơng đối về mức đóng góp, tốc độ phát triển

nên vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hoá của các
loại lý thuyết phát triển cũng rất khác nhau. Có thể thấy điều này qua một số lý
thuyết phát triển chủ yếu sau:
1.2.1. Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế.
Năm 1960 cuốn "Các giai đoạn phát triển kinh tế" của nhà kinh tế học Mỹ
Walt-Rostow đã tạo ra sự quan tâm lớn về nghiên cứu quá trình tăng trởng và
phát triển kinh tế của các nớc. Theo W.Rostow, nhìn chung quá trình phát triển
kinh tế của một nớc có thể chia ra 5 giai đoạn: Xã hội truyền thống, chuẩn bị
cất cánh, trởng thành và mức tiêu dùng cao.
* Xã hội truyền thống: Đặc trng cơ bản của giai đoạn này là sản xuất
nông nghiệp giá vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh tế. Năng suất lao động
thấp do sản xuất chủ yếu bằng công cụ thủ công, khoa học - kỹ thuật cha phát
triển mạnh. Hoạt động chung của xã hội kém linh hoạt: sản xuất nông nghiệp
còn mang tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá cha phát triển.
Tuy vậy xã hội truyền thống không hoàn toàn là tĩnh tại, mức sản lợng có
thể là vẫn tăng liên tục, do diện tích canh tác đợc mở rộng, hoặc do áp dụng
những cải tiến trong sản xuất nh: xây dựng các hệ thống thuỷ lợi, áp dụng giống
cây trồng mới. Song nhìn chung nền kinh tế không có những biến đổi mạnh.
Đặc trng cơ cấu ngành kinh tế là: nông - công nghiệp và công nghiệp còn rất
nhỏ bé, chậm phát triển.
* Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Đây đợc coi là thời kỳ quá độ giáa xã hội
truyền thống và sự cất cánh. Trong giai đoạn này những điều kiện cần thiết để
cất cánh đã bắt đầu xuất hiện. Đó là những biểu hiện về khoa học - kỹ thuật đã
bắt đầu đợc áp dụng vào sản xuất cả trong nông nghiệp và công nghiệp với
những thay đổi quan trọng là trong xã hội đã xuất hiện nháng khu vực "đầu tầu"
9
có tác động lôi kéo nền kinh tế. Bắt đầu phát triển các ngành công nghiệp đòi
hỏi phải sử dụng nhiều lao động nh các ngành dệt, may, đồ da, chế biến nông
sản và các hàng tiêu dùng khác... vốn đầu t ít. Giáo dục đợc mở rộng và có
những cải tiến phù hợp để phù hợp với những yêu cầu mới của sự phát triển.

* Giai đoạn mức tiêu dùng cao: Trong giai đoạn này có 2 xu hớng cơ bản
về kinh tế. Thu nhập bình quân đầu ngời tăng nhanh tới mức phần lớn dân c có
nhu cầu tiêu dùng vợt quá đòi hỏi cơ bản về ăn, mặc, ở. Thứ hai là cơ cấu lao
động thay đổi theo chiều hớng tăng tỷ lệ dân c đô thị và tăng tỷ lệ lao động có
trình độ chuyên môn và tay nghề cao. Về mặt xã hội các chính sách kinh tế h-
10
ớng vào phúc lợi xã hội nhằm tạo ra nhu cầu cao về hàng tiêu dùng lâu bền và
các dịch vụ xã hội của nhóm dân c. Xét về cơ cấu ngành thì tỷ trọng của ngành
dịch vụ đang có xu hớng tăng lên, vợt qua tỷ trọng của ngành công nghiệp trong
cơ cấu kinh tế quốc dân. Theo lý thuyết phân kỳ phát triển của W.Rostow thì
hầu hết các nớc đang phát triển đang tiến hành công nghiệp hoá hiện nay nằm ở
khoảng giai đoạn 2 và 3, tuỳ theo mức độ phát triển của từng nớc. Ngoài những
dấu hiệu kinh tế - xã hội khác, về mặt cơ cấu phải bắt đầu hình thành một số
ngành công nghiệp chế biến có khả năng lôi kéo toàn bộ nền kinh tế tăng trởng.
Đồng thời cùng với sự chuyển tiếp từ giai 2 sang 3 là sự thay đổi của những lĩnh
vực đóng vai trò đầu tầu. Nghĩa là trong chính sách cơ cấu cần xét đến trật tự
u tiên phát triển những lĩnh vực có thể đảm trách vai trò đó qua mỗi giai đoạn
cụ thể.
1.2.2. Lý thuyết nhị nguyên:
A.Lewis là nhà kinh tế gốc Jamaica, năm 1955 trong tác phẩm "Lý thuyết
về phát triển kinh tế" ông đa ra cách giải thích hiện đại về mối quan hệ giáa hai
khu vực: Công nghiệp và nông nghiệp. Lewis đã đợc giải thởng Nôbel về kinh
tế năm 1979. Ông xuất phát từ t tởng của Ricardo, lu ý đến mối quan hệ giáa
công nghiệp và nông nghiệp trong việc giải quyết lao động d thừa ở nông thôn.
Ông đa ra khả năng mở rộng khu vực công nghiệp bằng cách sử dụng nguồn lao
động nông thôn không hạn chế. Mô hình này đã đợc hai nhà kinh tế học là John
Fei và Gustar Rairis áp dụng vào phân tích quá trình tăng trởng ở các nớc đang
phát triển.
Lý thuyết nhị nghuyên cho rằng ở các nền kinh tế có 2 khu vực kinh tế
song song tồn tại: Khu vực kinh tế truyền thống chủ yếu là sản xuất nông

từ khu vực nông nghiệp trong trờng hợp khi nó có mức lơng cao hơn so với khu
vực nông nghiệp (ngời lao động sẽ đợc mức lơng cao hơn mức thu nhập khi họ
còn ở nông thôn). Nhng khả năng duy trì sự chênh lệch này sẽ cạn dần cho tới
khi nguồn lao động d thừa từ nông nghiệp không còn náa. Đến lúc đó, việc tiếp
tục di chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm cho sản lợng
nông nghiệp giảm đi, khiến cho giá cả hàng nông phẩm tiêu dùng tăng lên kéo
theo mức tăng lơng tơng ứng trong khu vực sản xuất công nghiệp. Chính sự tăng
lơng của khu vực công nghiệp sẽ đặt ra giới hạn về mức cầu tăng thêm về lao
động của bản thân nó. Nh vậy, mặc dù về mặt kỹ thuật, công nghệ, khu vực
công nghiệp hiện đại có thể có khả năng thuế mớn không hạn chế nhân lực, nh-
ng về mặt thu nhập và độ co dãn cung cầu nhân lực của 2 khu vực thì sức thu
nạp lao động từ nông nghiệp của công nghiệp là có giới hạn.
Một hớng phát triển khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả
năng di chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực công nghiệp thành thị. Quá
trình chuyển dịch lao động chỉ trôi chảy khi "tổng cung" về lao động từ nông
nghiệp phù hợp với "tổng cầu" ở khu vực công nghệp. Sự di chuyển này không
chỉ phụ thuộc vào mức chênh lệch về thu nhập mà còn phụ thuộc vào "xác suất"
tìm đợc việc làm đối với những ngời lao động nông nghiệp. Khi đa thêm yếu tố
"xác suất tìm đợc việc làm" vào phân tích, ngời ta thấy xuất hiện những tình
huống làm yếu đi khả năng di chuyển lao động giáa 2 khu vực nh sau:
- Sự năng động của bản thân khu vực công nghiệp: Về mặt này, so với nền
công nghiệp ở các nớc phát triển thì khu vực đợc gọi là "công nghiệp hiện đại"
ở các nớc chậm phát triển yếu kém hơn rất nhiều. Vì vậy, để vừa có thể tăng c-
ờng khả năng cạnh tranh với các nền công nghiệp nớc ngoài, vừa làm "đầu tầu"
lôi kéo sự tăng trởng của toàn bộ nền kinh tế thì khu vực công nghiệp hớng tới
12
những ngành kỹ thuật cao. Nhng những ngành này cần tăng hàm lợng vốn đầu
t hơn là cần tăng hàm lợng lao động vì thế, khu vực "công nghiệp hiện đại" ở
các nớc chậm phát triển cũng có nguy cơ gặp phải vấn đề d thừa lao động chứ
không riêng gì ở khu vực nông nghiệp.

Tuy nhiên, trong sự phát triển luôn có cạnh tranh giữa các nớc về các sản
phẩm, hàng hoá. Do đó, để phát triển đợc các ngành kinh tế nội địa, Nhà nớc
cần có nháng chính sách bảo hộ, cụ thể là:
13
+ Chính sách bảo hộ mậu dịch: Nhà nớc thực hiện hàng rào thuế quan cao
và chế độ hạn ngạch nhâp khẩu nhằm hạn chế các loại hàng nhập khẩu và nâng
sức cạnh tranh về giá của các mặt hàng nội địa.
+ Chính sách tỷ giá hối đoái: Để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng hàng
hoá nội địa, các Chính phủ thờng duy trì chế độ tỷ giá hối đoái theo hớng nâng
cao trị giá đồng tiền bản điạ nhằm làm yếu khả năng cạnh tranh của hàng ngoại
trên thị trờng nội địa.
Nh vậy, theo lý thuyết này, để phát triển cần xây dựng một nền kinh tế đa
ngành và hạn chế giao lu, trao đổi với bên ngoài, hay nói cách khác đó là nền
kinh tế "tự cung, tự cấp". Với những chính sách trên, hầu hết các quốc gia đang
phát triển theo mô hình này đã đạt đợc mức tăng trởng tơng đối cao trong giai
đoạn đầu. Mặc dù về thực chất, sự tăng trởng này chủ yếu bắt nguồn từ điểm
xuất phát thấp, khiến cho một mức gia tăng nhỏ về số lợng tuyệt đối cũng đẩy
chỉ số tơng đối lên rất cao, song nó cũng tạo ra sự thay đổi về cơ cấu kinh tế
nhất định, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia vốn trớc đây là
xứ thuộc địa. Đáng tiếc rằng, tốc độ tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của mô hình này đã không thể tiếp tục duy trì lâu hơn. Các nớc khác nhau tuỳ
vào những điều kiện cụ thể của mình mà lần lợt rời bỏ mô hình trớc những giới
hạn không sao vợt qua đợc. Các nhà kinh tế học đã tổng kết các lý do cơ bản
của tình hình này là:
+ Mô hình này tự nó giả định phát triển đồng thời tất cả (hay ít nhất cũng
là hầu hết) các ngành kinh tế quốc dân. Yêu cầu này không thể đáp ứng đợc bởi
các nền kinh tế kém phát triển do bị quá tải về vốn đầu t, khả năng công nghệ
kỹ thuật và quản lý.
+ Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đa nền kinh tế
đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài. Điều này chẳng những ng-

để cùng một lúc phát triển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại. Vì thế, việc phát
triển cơ cấu không cân đối là một sự lựa chọn bắt buộc. Lý thuyết này là cơ sở
để hình thành lên mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu. Về mặt lý
thuyết, mô hình này dựa trên nháng xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế dới
tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật và lựa chọn một cơ cấu kinh tế
không cân đối để hình thành các cực tăng trởng dựa trên những lợi thế so sánh
trong quan hệ ngoại thơng. Các tiếp cận cơ cấu kinh tế trong mô hình công
nghiệp hoá này có một số đặc trng là:
+ Quá trình công nghiệp hoá đợc bắt đầu từ việc tập trung khai thác các
thế mạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phát triển có lợi thế so sánh
trên thị trờng thế giới. Thông thờng, đối với các nớc chậm phát triển, nháng thế
mạnh khả dĩ là nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, tài nguyên khoáng sản và nông
sản. Ví dụ, nh NICs thì hớng sự phát triển vào những ngành công nghiệp chế
biến sử dụng nhiều lao động nh : dệt, may, chế biến thực phẩm, điện tử dân
dụng. Trong khi đó một số nớc khác nh Malaysia và Thái Lan lại khởi đầu với
những sản phẩm nông nghiệp và khai thác khoáng sản.
+ Toàn bộ hệ thống chính sách chủ yếu nhằm khuyến khích xuất khẩu, tức
là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi hơn nếu bán sản phẩm của mình ra nớc
ngoài. Cụ thể là:
15
Nhà nớc trực tiếp tác động bằng cách đa ra danh mục các mặt hàng u tiên,
đợc giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu, hoặc trực tiếp trợ cấp cho các loại hàng
hoá phục vụ sản xuất hàng xuát khẩu.
Nhà nớc gián tiếp can thiệp qua các công cụ tài chính, tiền tệ, tạo lập môi
trờng thuận lợi cho hoạt động sản xuất hớng ra thị trờng thế giới. Ví dụ nh:
đánh tụt giá đồng tiền nội địa cung cấp tín dụng với lãi suất u đãi cho sản xuất
xuất khẩu khuyến khích đầu t ngớc ngoài....
Lúc đầu, lý thuyết này tỏ ra không hấp dẫn lắm vì nó xây dựng một nền
kinh tế hớng ngoại và phụ thuộc vào bên ngoài (các nền kinh tế khác) mà thờng
thì các nớc có nền kinh tế chậm phát triển gặp phải nhiều bất lợi hơn. Nhng về


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status