Báo cáo "Tội giết con mới đẻ trong pháp luật hình sự Việt Nam " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 9

Tội giết con mới đẻ
trong pháp luật hình sự việt nam

Phạm văn Báu *
rong luật hình sự Việt Nam, tội giết
con mới đẻ đợc quy định và xét xử
khá sớm. Năm 1963 Tòa án nhân dân
tối cao (TANDTC) đ tổng kết và có Chỉ
thị số 1/ NCCS ngày 14/3/1963 về xử lí tội
giết trẻ em sơ sinh. Bản chuyên đề tổng kết
thực tiễn xét xử loại tội giết ngời kèm
theo Công văn số 452/HS2 ngày 10/8/1970
của TANDTC trong phần B điểm c -
Những tình tiết đặc biệt có tính chất giảm
nhẹ cũng xác nhận giết trẻ em mới đẻ là
phạm tội giết ngời có tình tiết giảm nhẹ
đặc biệt đồng thời cụ thể hóa các dấu hiệu
của trờng hợp phạm tội này. Trong các
văn bản trên chỉ nói đến hành vi giết trẻ
em mới đẻ là tội phạm mà không nói đến
hành vi vứt bỏ con mới đẻ. Khoản 4 Điều
101 Bộ luật hình sự Việt Nam (BLHS)
năm 1985 quy định: "Ngời mẹ nào do
ảnh hởng nặng nề của t tởng lạc hậu
hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt
mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ

do mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa
trẻ đó ". Nh vậy, có hai dạng hành vi bị
coi là hành vi phạm tội - hành vi giết con
mới đẻ và hành vi vứt bỏ con mới đẻ và
ngời mẹ nào dù có hành vi giết con mới
đẻ hoặc có hành vi vứt bỏ con mới đẻ đều
bị xét xử về cùng tội danh - tội giết con
mới đẻ rõ ràng là không ổn, là không
chính xác. Hành vi giết con mới đẻ và
hành vi vứt bỏ con mới đẻ là hai loại hành
vi khác nhau và vì nó có khác nhau nên
nhà làm luật mới có sự phân biệt chúng
ngay trong quy định của điều luật "ngời
mẹ nào mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ
đứa trẻ đó ". Sự khác nhau này tơng tự
với sự khác nhau của các hành vi đợc quy
định trong Điều 101 BLHS năm 1999
"ngời nào xúi giục làm ngời khác tự sát
hoặc giúp ngời khác tự sát " nhng hành
vi xúi giục và hành vi giúp ngời khác tự
sát đợc luật quy định là hai tội phạm khác
nhau ngay trong tên gọi của Điều 101- tội
xúi giục hoặc giúp ngời khác tự sát. Hành
vi giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ
không chỉ khác nhau ở chính các hành vi
này mà còn khác nhau cả về hình thức thực
* Giảng viên Khoa t pháp

Trờng đại học luật Hà Nội


trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt khác
ngời mẹ không mong muốn con mình
chết mà mong muốn đứa trẻ đó sống, đứa
trẻ đó đợc ngời khác nhặt về nuôi dỡng
nên đ vứt bỏ con của mình nơi cửa chùa,
cổng bệnh viện, cổng nhà ngời khác và
thực tế đứa trẻ đó không bị chết. Từ sự
khác nhau nh vậy nên việc xác định tội
danh của các hành vi giết con mới đẻ hoặc
vứt bỏ con mới đẻ cũng có sự khác nhau.
Trong trờng hợp giết con mới đẻ có
hậu quả là đứa trẻ chết xảy ra thì dù lỗi
của ngời phạm tội là cố ý trực tiếp hay cố
ý gián tiếp cũng không ảnh hởng đến việc
định tội danh - tội giết con mới đẻ. Trong
trờng hợp đứa trẻ không chết cần phân
biệt: Nếu lỗi của ngời phạm tội là cố ý
trực tiếp thì ngời phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội giết con mới đẻ và
thuộc trờng hợp phạm tội cha đạt; nếu
lỗi của ngời phạm tội là cố ý gián tiếp thì
ngời phạm tội chỉ có thể phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội cố ý gây thơng tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngời
khác (nếu họ gây ra hậu quả thơng tích
hoặc tổn hại cho sức khoẻ của đứa trẻ đủ
mức cấu thành tội này).
Trong trờng hợp vứt bỏ con mới đẻ do
lỗi cố ý gián tiếp nên chỉ bị coi là tội phạm
và là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả

tội danh riêng phù hợp với phần quy định
của điều luật và trong thực tế hành vi giết
con mới đẻ sẽ có tội danh là tội giết con
mới đẻ, hành vi vứt bỏ con mới đẻ sẽ có tội
danh là tội vứt bỏ con mới đẻ nếu thỏa
mn các dấu hiệu khác mà các cấu thành
tội phạm này đòi hỏi./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status