nghiên cứu - trao đổi
14
-
Tạp chí luật học
Ths. Nguyễn Minh Đoan *
uyền lực đợc xem là khả năng của cá
nhân hay tổ chức có thể buộc các cá
nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí
của mình. Quyền lực sinh ra từ nhu cầu tổ
chức hoạt động chung, nhu cầu phân công
lao động x hội và quản lí x hội. Quyền lực
là điều kiện và phơng tiện cần thiết khách
quan bảo đảm sự hoạt động bình thờng của
bất kì cộng đồng x hội nào. Quyền lực thể
hiện mối quan hệ chỉ huy - lệ thuộc hoặc
mệnh lệnh - phục tùng. Quyền lực thể hiện ở
sự áp đặt ý chí của chủ thể có quyền đối với
chủ thể dới quyền, mặt khác, sức mạnh của
nó đợc xác định ở mức độ phụ thuộc, phục
tùng của chủ thể dới quyền đối với ý chí
chủ thể có quyền. Trong đó cỡng chế vừa là
yếu tố của nội dung quyền lực vừa là phơng
pháp mang tính quyết định để thực hiện
quyền lực có sự kết hợp chặt chẽ với phơng
tạo nên cơ chế thực hiện quyền lực nhà nớc.
Cơ chế đó đợc hình thành và phát triển cùng
với sự phát triển của nền văn minh nhân loại
và đợc cụ thể hoá ở mỗi quốc gia tuỳ thuộc
vào những điều kiện khách quan và chủ quan
ở mỗi thời kì phát triển. Lịch sử nhân loại đ
từng biết đến nhiều hình thức và cơ chế thực
hiện quyền lực nhà nớc khác nhau. Trong
trờng hợp quyền lực tối cao của nhà nớc
tập trung trong tay một cá nhân (trong chế độ
quân chủ chuyên chế) thì thờng dẫn đến sự
độc đoán, chuyên quyền, lạm quyền. Khi
quyền lực nhà nớc đợc phân định một cách
khu biệt trong các vùng lnh thổ khác nhau
trong đất nớc (theo chiều dọc) thì thờng
dẫn đến tình trạng phân quyền cát cứ, địa
phơng chủ nghĩa, không tập trung thống
nhất. Để tránh tình trạng độc đoán, chuyên
quyền, lí thuyết phân chia quyền lực đ ra
đời. Theo lí thuyết này thì quyền lực nhà
nớc ở trung ơng đợc chia thành nhiều
quyền mà chủ yếu là chia thành ba quyền
(quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền
t pháp) và giao cho các cơ quan nhà nớc
khác nhau ở trung ơng nắm giữ và thực hiện
để các loại quyền lực này có thể kiểm soát và
chế ớc lẫn nhau. Lí thuyết phân chia
quyền lực đ sử dụng khá phổ biến ở các nhà
Q
thống nhất vào nhân dân, bắt nguồn từ nhân
dân, thuộc về nhân dân;
(1)
mọi quyền lực
nhà nớc tập trung thống nhất nơi nhân dân,
bắt nguồn từ nhân dân.
(2)
Một số khác thì
lại cho rằng quyền lực nhà nớc ở nớc ta
tập trung thống nhất ở Quốc hội chứ không
phải ở nhân dân.
(3)
Vậy nên nhận thức về vấn
đề này nh thế nào cho chính xác?
Theo quy định của Hiến pháp và các đạo
luật tổ chức bộ máy nhà nớc của nớc ta
hiện nay thì ở nớc Cộng hoà x hội chủ
nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nớc
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức. Nhân dân sử dụng quyền
lực Nhà nớc thông qua Quốc hội và hội
đồng nhân dân là những cơ quan đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trớc
nhân dân (Điều 6 Hiến pháp 1992). Nh
vậy, ở đây có cơ chế uỷ quyền, nhân dân đ
trao (uỷ nhiệm) quyền lực của mình không
chỉ cho Quốc hội mà còn cho cả hội đồng
nhân dân các cấp. Tuy nhiên, quyền lực tối
xung đột nhiều khi đối lập giữa các cơ quan
nhà nớc trong quá trình thực hiện quyền lực
nhà nớc.
Để bảo đảm việc quản lí toàn diện, thống
nhất các mặt quan trọng của đời sống x hội
cần thành lập hệ thống các cơ quan nhà nớc
từ trung ơng tới địa phơng kết hợp theo
ngành và theo lnh thổ. Các cơ quan nhà
nớc ở địa phơng thay mặt cho nhân dân
thực hiện quyền lực nhà nớc ở các địa
phơng đồng thời đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa nghiên cứu - trao đổi
16 - Tạp chí luật học
phơng. Nhng vấn đề đặt ra là phải tổ chức
các cơ quan nhà nớc ở địa phơng nh thế
nào để không dẫn đến tình trạng phân quyền
cát cứ nh đ từng tồn tại trong x hội phong
kiến. Chính vì thế, để bảo đảm sự tập trung,
thống nhất quyền lực từ trung ơng tới địa
phơng, Hiến pháp nớc ta quy định hội
đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà
nớc không phải của địa phơng mà ở
địa phơng, hội đồng nhân dân không chỉ
chịu trách nhiệm trớc nhân dân địa
phơng mà còn phải chịu trách nhiệm trớc
cơ quan nhà nớc cấp trên trong đó, cơ
Lí luận nhà nớc và pháp luật khi xác định
hình thức nhà nớc cho rằng nếu quyền lực
tối cao của nhà nớc tập trung (toàn bộ hay
một phần) trong tay một cá nhân thì đó là
chính thể quân chủ, còn nếu tập trung vào
một cơ quan thì đó là chính thể cộng hoà.
(4)
Nh vậy, nếu cho rằng quyền lực nhà nớc
tập trung thống nhất ở nhân dân thì dẫn đến
trong các nớc có chính thể cộng hoà, quyền
lực nhà nớc vừa tập trung ở nhân dân lại
vừa tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất. Do
đó, chỉ có thể nói quyền lực nhà nớc thuộc
về nhân dân nhng tập trung ở cơ quan đại
diện cao nhất. Tinh thần quyền lực nhà nớc
tập trung thống nhất ở Quốc hội cũng đợc
thể hiện trong bài phát biểu của cựu Tổng bí
th Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mời tại
Hội nghị lần thứ hai BCHTƯ Đảng khoá VII
ngày 29/11/1991: Cải cách bộ máy nhà
nớc phải tiến hành theo những nguyên tắc
cơ bản sau đây:
- Quyền lực nhà nớc là thống nhất,
không phân chia nhng có phân công rành
mạch. Trên cơ sở thống nhất quyền lực, cần
có sự phân công và định rõ mối quan hệ giữa
ba quyền lập pháp, hành pháp và t pháp mà
quyền lực nhà nớc cao nhất đợc tập trung
ở Quốc hội.
trung trong tay giai cấp t sản.
(8)
Nếu quyền
lực nhà nớc không thể phân chia thì nói
quyền lực nhà nớc là thống nhất, không
phân chia là thừa và không nên nói bộ máy
nhà nớc t sản tổ chức theo nguyên tắc
phân chia quyền lực,
(9)
còn bộ máy nhà nớc
x hội chủ nghĩa tổ chức theo nguyên tắc
quyền lực tập trung thống nhất. Là thiết chế
quyền lực, mỗi cơ quan nhà nớc đều thể
hiện quyền năng của mình ở chỗ trong phạm
vi thẩm quyền của mình, cơ quan nhà nớc
có thể ban hành các văn bản pháp luật (văn
bản quy phạm pháp luật cũng nh văn bản áp
dụng pháp luật); có thể đòi hỏi các tổ chức
và các cá nhân có liên quan phải thực hiện
văn bản pháp luật mà mình đ ban hành; có
khả năng kiểm tra giám sát việc thực hiện
các quy định pháp luật đ đợc ban hành. Do
vậy, nếu nói quyền lập pháp, hành pháp và t
pháp chỉ là quyền năng tức là nói nghị viện
chỉ có quyền năng lập pháp, tổng thống chỉ
có quyền năng hành pháp và toà án thì chỉ có
quyền năng t pháp là không có cơ sở thực
tiễn. Từ những trình bày trên cho thấy chỉ có
thể nói chủ quyền (quyền lực) nhân dân thì
không thể phân chia nhng quyền lực mà các
luật cũng không thuộc Chính phủ mà thuộc
nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nớc). Viện
kiểm sát chỉ đợc phân công kiểm sát việc
tuân theo pháp luật từ cấp bộ trở xuống; các
toà án là cơ quan xét xử của nớc Cộng hoà
x hội chủ nghĩa Việt Nam nhng đối với
những vụ án đặc biệt quan trọng, Quốc hội
có thể quyết định thành lập toà án đặc biệt để
xét xử; uỷ ban nhân dân là cơ quan hành
chính nhà nớc ở địa phơng nhng đồng
thời là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân
dân Với việc tổ chức bộ máy của Nhà nớc
ta nh trên sẽ vừa giữ vững đợc sự tập
trung thống nhất quyền lực vừa phát huy
đợc tính chủ động, sáng tạo của địa phơng,
các cấp, các ngành; vừa chống đợc tình nghiên cứu - trao đổi
18 - Tạp chí luật học
trạng tập trung quan liêu vừa tránh đợc tình
trạng phân tán, cục bộ, phân quyền cát cứ.
Vấn đề mà chúng ta quan tâm hiện nay là
hoàn thiện hơn nữa bộ máy nhà nớc
CHXHCN Việt Nam trong thời kì công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc làm sao
bảo đảm đợc tính hiệu quả trong việc tổ
chức và thực hiện quyền lực nhà nớc của
nhân dân. Muốn làm đợc điều đó, theo
hiện quyền lực nhà nớc của nhân dân.
Trên đây là một số nhận thức có tính chất
cá nhân về vấn đề quyền lực nhà nớc ở nớc
ta, nhằm góp thêm ý kiến và sự nhận thức về
quyền lực nhà nớc ở nớc ta. Tuy nhiên,
quyền lực là vấn đề phức tạp và việc vận
dụng lí thuyết về quyền lực vào thực tiễn tổ
chức và thực thi quyền lực lại càng khó khăn
và phức tạp hơn. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên
cứu để làm rõ các khía cạnh của nó và để đạt
đợc sự thống nhất về nhận thức là hết sức
cần thiết./.
(1). Đại học Quốc gia Hà Nội, Trờng đại học
khoa học x hội và nhân văn, Khoa luật (1998),
Giáo trình lí luận chung về nhà nớc và pháp luật,
tr. 160, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.
(2), (4), (8), (9). Trờng Đại học luật Hà Nội
(1997), Giáo trình lí luận nhà nớc và pháp luật,
tr. 254, 57, 161, 155 -156, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội.
(3).Xem: Nguyễn Minh Đoan Suy nghĩ về đổi mới bộ
máy nhà nớc Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam
và Bùi Xuân Đức vấn đề nhận thức và vận dụng
nguyên tức tập quyền XHCN trong điều kiện hiện
nay- Những luận cứ khoa học của việc hoàn thiện bộ
máy nhà nớc CHXHCN Việt Nam trong thời kì công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, tr.50, 30, Trung
tâm khoa học x hội và nhân văn quốc gia, Viện
nghiên cứu nhà nớc và pháp luật, Kỉ yếu Hội thảo