1
Xử lý nước thải sinh hoạt để làm
nước uống
Đứng trước tình trạng khan hiếm nguồn nước ở các tiểu bang miền Tây
Hoa Kỳ, nhất là California, vài chính quyền địa phương đã áp dụng nhiều
phương pháp khác nhau để cung ứng sự thiếu hụt nguồn nước cho cư dân
trong vùng. Hai phương pháp hiện đang được ứng dụng hiện nay là: biến
nước biển thành nước “ngọt” như ở thành phố Long Beach đang thử
nghiệm; hoặc xử lý nước sinh hoạt gia đình (nước đã được dùng cho vệ
sinh cá nhân, tiểu tiện, và nấu nướng, giặt gịa v.v…). Phương pháp thứ hai
hiện đang được nhiều nơi chiếu cố.
Nếu chúng ta thường đi trên xa lộ 5 sẽ thường thấy bảng cắm ở hai bên xa
lộ rằng:” Nơi đây được tưới bằng nước tái tạo (reclaimed). Xin đừng uống”.
Ở nhiều thành phố tân lập cách đây vài mươi năm ở miền Nam Cali cũng
có những bảng như trên trên hai bên đường phố và các khu nhà cất sau nầy.
Nhưng ngày hôm nay, đứng trước nạn khan hiếm nước vì hạn hán, các
mạch nước ngầm không đủ cung ứng cho nhu cầu của dân chúng; cũng như
dân miền cực Nam của Cali sẽ không được chuyển tải nguồn nước từ sông
Colorado nữa. Từ đây, nước “tái tạo” sẽ không còn sử dụng cho việc tưới
hai bên đường và các ông viên. Nước đã thực sự xử lý để cung cấp vào
nguồn nước ngầm hiện đang thiếu hụt.
Một sự thật là kể từ hơn hai năm nay, người dân vùng Orange đã “nếm
mùi” nước tái tạo nầy trộn lẫn với nguồn nước ngầm hiện có. Ở nhiều tiểu
bang khác, việc sử dụng nguồn nước nầy đã có từ lâu. Như ở Virginia,
nước tái hồi, sau khi xử lý đã được bơm vào Occoquan Reservoir, hồ chứa
2
lớn nhất tiểu bang. Tại Los Angeles, nước tái tạo đã được bơm vào hồ
Montebello Forebay, để từ đó, qua hiện tượng thấm sâu (percolation), nước
sẽ đi vào nguồn nước ngầm. Sau đó, nước ngầm sẽ được bơm lên, xử lý và
Hiện tại, phần lớn nước xử lý ở giai đoạn nầy được bơm thẳng vào đại
dương.
Tiếp theo, các giai đoạn xử lý tiếp tục sẽ biến nước thành “hữu dụng” như
để tưới tiêu cây cối dọc hai bên xa lộ hay các công viên thành phố bằng
cách cho thêm sodium hypochlorite để khử trùng nước. Hoá chất sau nầy
kết hợp vói ammonia có trong nước cho ra chloramines, và hoá chất nầy
giữ nhiệm vụ như chất sát trùng nước và kiêm luôn tác nhân chống sự kết
tủa chung quanh các màng lọc.
Nước xử lý sẽ được chuyển qua hệ thống vi-lọc (micro-filtration) có đường
kính cho mỗi khẩu (pore) là 0,2 um (0,2 phần triệu của mét) để tách rời các
chất rắn lơ lửng (total suspended solid-TSS) và một số vi khuẩn. Tuy nhiên,
siêu vi khuẩn (virus) vẫn xuyên qua được màng lọc nầy.
Sau giai đoạn trên, nước sẽ được chuyển qua các hệ thống lọc dựa trên
nguyên tắc thẩm thấu ngược (reverse osmosis) để nhằm loại bỏ các hoá
chất hoà tan trong nước (total dissolved solid-TDS) như các loại muối
khoáng. Ở giai đoạn nầy, tất cả các hợp chất có khối lượng phân tử trên 150
đều bị ngăn chận lại. Với phương pháp nầy, các hệ thống lọc sẽ được làm
sạch sau mỗi sáu tháng điều hành bằng sút caustic.
Sau cùng, nước được xử lý bằng hydrogen peroxide (H2O2) để tách rời các
hoá chất có khối lượng phân tử nhẹ, và nước được chuyển qua phòng xử lý
bằng tia cực tím (UV).
Nước xử lý ở giai đoạn sau cùng nầy sẽ được bơm vào các giếng có áp suất
cao để ngăn chặn sự xâm nhập của nước biển vào nguồn nước ngầm. Phân
nửa phần nước còn lại sẽ được di chuyển đến các hồ dự trữ, để qua hiện
tượng thấm sâu (percolation), nước sẽ trộn lẫn với nguồn nước ngầm dưới
mặt đất. Vì vậy, nước “xử lý” cũng sẽ qua một màng lọc thiên nhiên, đó là
lớp đất đá có chứa một số vi khuẩn có khả năng tách rời hay phân đoạn một
số hợp chất hữu cơ còn tồn đọng trong nước.
Tất cả những giai đoạn xử lý từ nước thải sinh hoạt cho đến khi nước thấm
sâu vào mạch nước ngầm cần một thời gian khoảng 6 tháng. Và chương