Báo cáo "Thủ tục giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động của trọng tài thương mại Việt Nam " - Pdf 12



§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p
chÝ luËt häc
41 TS. Phan ChÝ HiÕu *
1. Khái quát về thủ tục giải quyết các
yêu cầu liên quan đến hoạt động trọng tài
thương mại của Việt Nam
Trong quá trình giải quyết tranh chấp
kinh doanh bằng trọng tài, các bên tranh
chấp thường có nhu cầu áp dụng một số biện
pháp mang tính cưỡng chế như: Chỉ định
trọng tài viên để tham gia hội đồng trọng tài,
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo
toàn chứng cứ hoặc để đảm bảo thi hành
phán quyết trọng tài, huỷ hoặc công nhận
quyết định trọng tài nhưng do không đại
diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước
nên bản thân trọng tài không thể áp dụng các
biện pháp này. Trong những trường hợp đó,
các bên tranh chấp có thể yêu cầu toà án xem
xét áp dụng các biện pháp hỗ trợ nhằm đảm
bảo hiệu quả của hoạt động giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại. Bộ luật tố

hành bởi các trung tâm trọng tài thương mại
hoặc hội đồng trọng tài do các bên thành lập
trên lãnh thổ Việt Nam và hoạt động theo
pháp luật về trọng tài thương mại của Việt
Nam. Các yêu cầu phát sinh từ hoạt động
giải quyết tranh chấp của trọng tài nước
ngoài không thuộc thẩm quyền của toà án
Việt Nam.
Toà án có thẩm quyền giải quyết việc
* Phó ch
ủ nhiệm Khoa đ
ào t
ạo thẩm phán

Học viện tư pháp §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
42 T¹p chÝ luËt häc

dân sự liên quan đến hoạt động của trọng tài
thương mại Việt Nam là toà án tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương. Tuy PLTTTM không
quy định cụ thể toà kinh tế hay toà dân sự của
toà án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết
nhưng xuất phát từ tính chất thương mại của
tranh chấp mà các việc dân sự liên quan đến
hoạt động của trọng tài do toà kinh tế giải
quyết. Theo Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP
thì chánh án toà án cấp tỉnh cần chỉ định thẩm

đồng trọng tài do các bên thành lập (giống
trọng tài ad-hoc ở nước ngoài). Về nguyên
tắc, các bên tranh chấp phải chỉ định hoặc
tham gia chỉ định trọng tài viên của mình để
thành lập hội đồng trọng tài. Nhưng thực tế
có thể xảy ra tình huống một bên (thường là
bên bị kiện) không chỉ định trọng tài viên
của mình nhằm trì hoãn việc giải quyết tranh
chấp. Nếu tranh chấp được giải quyết tại
trung tâm trọng tài thương mại thì chủ tịch
trung tâm trọng tài sẽ chỉ định trọng tài viên.
Còn nếu tranh chấp được giải quyết bằng hội
đồng trọng tài do các bên thành lập thì toà án
sẽ chỉ định trọng tài viên theo yêu cầu của
một bên. Toà án có thể chỉ định trọng tài
viên để thành lập hội đồng trọng tài hoặc
thay đổi trọng tài viên trong hội đồng trọng
tài đã được thành lập.
- Chỉ định trọng tài viên để thành lập hội
đồng trọng tài
Theo yêu cầu của một bên tranh chấp,
toà án có thể chỉ định trọng tài viên cho bị
đơn trong trường hợp bị đơn không chỉ định
trọng tài viên trong thời hạn mà các bên đã
thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; chỉ
định trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội
đồng trọng tài trong trường hợp hai trọng tài
viên do các bên chỉ định hoặc toà án chỉ định
không chọn được trọng tài viên thứ ba này.
Người yêu cầu toà án chỉ định trọng tài viên

viên. Khi chỉ định trọng tài viên, thẩm phán
cần phải cân nhắc tới nguyên tắc chỉ định
trọng tài viên mà các bên đã thoả thuận để có
thể tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên.
- Thay đổi trọng tài viên
Việc thay đổi trọng tài viên do các trọng
tài viên khác trong hội đồng trọng tài quyết
định. Trong trường hợp không quyết định
được hoặc nếu hai trọng tài viên hay trọng
tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh
chấp thì nguyên đơn được quyền yêu cầu toà
án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú
để xem xét, quyết định. Trọng tài viên có thể
bị thay đổi khi có các căn cứ sau: Không đáp
ứng các điều kiện để làm trọng tài viên theo
quy định tại Điều 12 PLTTTM; trọng
tài vi ên là người thân thích của một bên
hoặc đại diện của bên đó; trọng tài viên có
lợi ích trong vụ tranh chấp; có căn cứ rõ ràng
cho thấy trọng tài viên không vô tư, khách
quan trong khi làm nhiệm vụ.
3. Thủ tục xem xét hiệu lực của thoả
thuận trọng tài
Tiền đề của việc giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài là các bên tranh chấp phải có
thoả thuận trọng tài hợp lệ. Thoả thuận trọng
tài là sự thống nhất ý chí của các bên nhằm
đưa tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ
ra giải quyết bằng trọng tài. Nếu các bên
không có thoả thuận trọng tài hoặc có thoả

việc vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng
tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu. Khi
nhận được khiếu nại, hội đồng trọng tài phải
xem xét, quyết định. Trong trường hợp
không đồng ý với quyết định của hội đồng
trọng tài, một hoặc các bên có quyền yêu cầu
toà án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài đã ra
quyết định xem xét lại quyết định của hội
đồng trọng tài. Chánh án toà án giao cho một
thẩm phán xem xét, giải quyết đơn yêu cầu.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày được
giao, thẩm phán phải xem xét, quyết định.
Quyết định của toà án là chung thẩm. Trong
trường hợp toà án quyết định vụ tranh chấp
không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả
thuận trọng tài vô hiệu thì hội đồng trọng tài
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh
chấp. Nếu không có thoả thuận khác, các bên
có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra toà án.
Việc xem xét hiệu lực thoả thuận trọng
tài trong thời gian qua đang gặp nhiều vướng
mắc. Thứ nhất, một số thoả thuận trọng tài
không rơi vào các trường hợp vô hiệu quy
định tại Điều 10 PLTTTM nhưng không có
khả năng thi hành trong thực tế (ví dụ, thoả
thuận trọng tài chỉ định một trung tâm trọng
tài giải quyết tranh chấp nhưng lại lựa chọn
quy tắc tố tụng của một trung tâm trọng tài
khác; thoả thuận trọng tài xác định một
trung tâm trọng tài cụ thể nhưng theo điều

được giải quyết bằng hội đồng trọng tài của
Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam" cho phép suy đoán rằng các bên đã
thoả thuận để chọn Trung tâm trọng tài
quốc tế Việt Nam, bởi vì bên cạnh Phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam chỉ
có một trung tâm trọng tài duy nhất là
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
(VIAC). Tuy nhiên, để tránh các vấn đề
phức tạp có khả năng phát sinh thì toà án và
trọng tài phải thống nhất cách hiểu về các
thoả thuận trọng tài không quy định hoặc
quy định không rõ tổ chức trọng tài có thẩm
quyền giải quyết vụ tranh chấp. §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p
chÝ luËt häc
45

4. Thủ tục giải quyết yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình hội đồng trọng tài giải
quyết vụ tranh chấp, các bên có thể nảy sinh
nhu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời để bảo toàn chứng cứ hoặc bảo đảm cho
việc thi hành quyết định trọng tài. Bản thân
trọng tài không thể ra các quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong các

phán giải quyết. Thẩm phán được phân công
phải ấn định một khoản tiền bảo đảm mà bên
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
phải nộp. Trước khi ấn định khoản tiền bảo
đảm, thẩm phán phải giải thích cho bên yêu
cầu biết các nghĩa vụ và trách nhiệm của
mình. Thẩm phán quyết định khoản tiền bảo
đảm được gửi giữ tại một trong các ngân
hàng nơi có trụ sở của toà án do bên nộp tiền
lựa chọn. Trong quyết định cần ghi rõ việc
xử lý các khoản tiền bảo đảm do toà án
quyết định.
Trước khi quyết định áp dụng biện pháp
kê biên tài sản tranh chấp hoặc biện pháp
cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp hoặc
cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp,
thẩm phán cần xác định rõ tài sản đó có
phải là tài sản mà các bên có tranh chấp hay
không? Trường hợp quyết định áp dụng
biện pháp kê biên và niêm phong tài sản ở
nơi gửi giữ hoặc biện pháp phong toả tài
khoản tại ngân hàng, thẩm phán cần tính
toán sao cho giá trị tài sản bị kê biên hoặc
niêm phong; số tiền bị phong toả không
được vượt quá nghĩa vụ tài sản mà người có
nghĩa vụ phải thực hiện.
Về mặt thủ tục, trong thời hạn năm ngày
làm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm
phán phải kiểm tra tính chính xác của những
tài liệu trong hồ sơ yêu cầu và ra quyết định

thiết, thẩm phán có thể yêu cầu họ nộp bổ
sung tiền bảo đảm tại ngân hàng.
Bên yêu cần áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu
của mình. Trong trường hợp bên yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng và gây thiệt hại cho bên kia, cho người
thứ ba thì phải bồi thường. Trường hợp bên
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng và gây thiệt hại cho bên kia
hoặc cho người thứ ba nhưng những người
này không yêu cầu bồi thường thì toà án
quyết định cho họ được nhận lại toàn bộ số
tiền bảo đảm. Trường hợp bên yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng và gây thiệt hại cho bên kia hoặc cho
người thứ ba và bị những người này yêu cầu
bồi thường thiệt hại với số tiền thấp hơn số
tiền bảo đảm thì toà án quyết định cho
người yêu cầu được lấy lại số tiền vượt quá
mức đó.
5. Thủ tục huỷ quyết định trọng tài
Trong quá trình giải quyết tranh chấp,
nếu các bên không hoà giải được với nhau
thì hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định để giải
quyết tranh chấp về mặt nội dung (quyết
định trọng tài). Quyết định trọng tài là chung
thẩm và mang tính cưỡng chế thi hành đối
với các bên, trừ trường hợp toà án huỷ quyết
định trọng tài theo quy định của pháp luật.


hợp lệ thoả thuận trọng tài. Sau khi nhận đủ
các giấy tờ hợp lệ, toà án thông báo ngay
cho bên yêu cầu phải nộp lệ phí. Toà án thụ
lý kể từ ngày bên có yêu cầu nộp lệ phí.
Thứ ba, toà án có thẩm quyền xem xét
yêu cầu huỷ quyết định trọng tài là toà án
cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài ra quyết định
trọng tài. Để giải quyết yêu cầu huỷ quyết
định trọng tài, chánh án toà án nhân dân cấp
tỉnh chỉ định một hội đồng xét xử gồm 3
thẩm phán, trong đó có một thẩm phán làm
chủ toạ. Hội đồng xét xử phải mở phiên toà
để xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài.
Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của
các bên tranh chấp, luật sư của các bên (nếu
có), kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp một trong các bên yêu cầu toà
án xét đơn vắng mặt hoặc đã được triệu tập
hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính
đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được hội
đồng xét xử đồng ý thì hội đồng xét xử vẫn
tiến hành xét đơn yêu cầu huỷ quyết định
trọng tài.
Thứ tư, khi xét yêu cầu huỷ quyết định
trọng tài, hội đồng xét xử không xem xét lại
nội dung vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra có
hay không có căn cứ để huỷ quyết định trọng
tài trên cơ sở xem xét hồ sơ yêu cầu huỷ và
nghe ý kiến của những người được triệu tập,

Nếu không có căn cứ để huỷ quyết định
trọng tài thì toà án phải ra quyết định không
huỷ quyết định trọng tài. Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày ra quyết định, toà án phải
gửi bản sao quyết định cho các bên, trung tâm
trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên
thành lập và viện kiểm sát cùng cấp.
Thứ năm, các bên có quyền kháng cáo,
viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có quyền kháng nghị quyết
định huỷ hoặc không huỷ quyết định trọng tài
của toà án. Thời hạn kháng cáo của các bên là
15 ngày; thời hạn kháng nghị của viện kiểm
sát cùng cấp là 15 ngày; thời hạn kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 30 §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
48 T¹p chÝ luËt häc

ngày, kể từ ngày toà án ra quyết định. Trong
trường hợp có bên không có mặt tại phiên
toà sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo được tính
từ ngày bản sao quyết định được giao cho
bên vắng mặt; nếu kháng cáo quá hạn vì có
sự kiện bất khả kháng thì thời hạn được tính
từ ngày không còn sự kiện bất khả kháng.
Đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị phải
nêu rõ lý do và yêu cầu của kháng cáo,
kháng nghị. Đơn kháng cáo, quyết định

quyết định của toà án cấp sơ thẩm trong
trường hợp toà án cấp sơ thẩm huỷ quyết định
trọng tài nhưng có phần quyết định của trọng
tài là đúng, không thuộc trường hợp bị huỷ
hoặc trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm chỉ
huỷ một phần quyết định trọng tài nhưng có
phần quyết định khác của trọng tài không đúng
và thuộc trường hợp bị huỷ; sửa toàn bộ quyết
định của toà án cấp sơ thẩm trong trường hợp
toà án cấp sơ thẩm huỷ quyết định trọng tài
không có căn cứ hoặc toà án cấp sơ thẩm
không huỷ quyết định trọng tài trong khi có
căn cứ để huỷ; đình chỉ việc xét kháng cáo
trong trường hợp viện kiểm sát rút quyết định
kháng nghị, bên kháng cáo rút kháng cáo
hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt
không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên
họp mà không được hội đồng xét xử đồng ý.
Quyết định của Toà án nhân dân tối cao là
quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.
Thứ sáu, trường hợp toà án huỷ quyết
định trọng tài thì quyết định trọng tài đó
không có giá trị thi hành đối với các bên
tranh chấp. Các bên có thể thoả thuận lại với
nhau để một lần nữa, đưa tranh chấp ra giải
quyết bằng trọng tài qua trung tâm trọng tài
hoặc bằng hội đồng trọng tài do các bên
thành lập. Nếu các bên không đạt được thoả
thuận trọng tài thì một bên có thể yêu cầu toà
án giải quyết tranh chấp theo quy định của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status