Dự trữ bắt buộc - Từ lý thuyết đến thực tiễn - Pdf 12

Dự trữ bắt buộc - Từ lý thuyết đến thực tiễn
PGS.,TS.Nguyễn Thị Nhung
1
Để có thể thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng thông qua việc
cung ứng tiền và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, Ngân hàng Trung
ương (NHTƯ) các nước có thể sử dụng các công cụ khác nhau: lãi suất,
chính sách chiết khấu, thị trường mở Trong đó, dự trữ bắt buộc là công cụ
nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch
định chính sách - họ đã tốn không ít giấy mực để nói về dự trữ bắt buộc. Tuy
nhiên, trong bài viết này, chúng ta chỉ nghiên cứu mang tính lý thuyết ở các
góc cạnh khác nhau của dự trữ bắt buộc và từ đó nhìn nhận lại thực tế với hy
vọng là nguồn tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
Như một yêu cầu tất yếu, dự trữ bắt buộc ra đời: Dự trữ bắt buộc là
một phần số dư tiền gửi các loại mà các ngân hàng thương mại (NHTM)
phải dự trữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHTƯ. Trong hoạt động
kinh doanh của mình, các NHTM sử dụng các khoản tiền gửi của khách
hàng để cho vay hoặc đầu tư một cách khá linh hoạt. Nếu như các khoản cho
vay đều có thời hạn, một ngày hay cho vay qua đêm cũng đều có thời hạn,
thậm chí thời hạn có thể còn kéo dài hơn dự kiến vì đến hạn thu nợ, có thể
ngân hàng vẫn không thu được nợ - trong khi đó, đối với nguồn tiền gửi của
khách hàng thì các ngân hàng lại rất khó khăn trong việc kiểm soát thời hạn,
ngay cả khi gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng gửi tiền vẫn có thể rút
tiền trước khi đến hạn; tình trạng tiền cho vay ra chưa thu hồi về nhưng
khách hàng gửi tiền lại có nhu cầu rút tiền trước hạn là hiện tượng luôn có
thể Điều này cho thấy rủi ro thanh khoản luôn là mối lo của các NHTM.
Mặt khác, trên thực tế, thời hạn cho vay còn dài hơn thời hạn của nguồn tiền
gửi, nói khác đi là kỳ hạn gửi tiền của mỗi loại tiền gửi không phải lúc nào
cũng là cơ sở để xem xét và quyết định thời hạn cho vay, mà ngân hàng có
thể khai thác tính ổn định tương đối của tổng số dư tiền gửi không kỳ hạn để
cho vay có thời hạn, dùng nguồn tiền gửi thời hạn ngắn để cho vay với thời
hạn dài hơn nên nguy cơ rủi ro cao hơn. Khi rủi ro thanh khoản xảy ra,

vốn khả dụng của mỗi ngân hàng. Với tổng số nguồn tiền gửi huy động
được, tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng thấp thì phần chênh lệch còn lại - vốn khả
dụng của bản thân ngân hàng này càng cao, khả năng cho vay ra của ngân
hàng càng lớn và ngược lại. Bên cạnh đó, mỗi động tác cấp tín dụng cho một
đối tượng nào đó thông qua chuyển khoản của ngân hàng - hoạt động này
mở ra một nguồn vốn mới cho một ngân hàng kế tiếp, sự tiếp tục của quá
trình này chính là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng làm cho tổng
nguồn có thể cho vay của toàn hệ thống được nhân lên nhiều lần so với số
tiền gửi ban đầu, mức độ được nhân lên chính là hệ số nhân tiền. Qua đó cho
thấy, tỷ lệ dự trữ bắt buộc có quan hệ chặt chẽ với nguồn vốn khả dụng của
hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, vốn khả dụng chỉ thể hiện được tiềm năng
tín dụng, còn thực sự nó có làm cho khối lượng tín dụng tăng lên hay không
lại phụ thuộc vào thái độ sẵn sàng cấp tín dụng của các ngân hàng và nhu
cầu tín dụng của nền kinh tế.
Dự trữ bắt buộc và lãi suất
Dự trữ bắt buộc có thể tác động đến lãi suất bằng hai cách:
Thứ nhất, do dự trữ bắt buộc có thể thu mở rộng hay thu hẹp tiềm
năng tín dụng cho nên lãi suất thị trường cũng vì thế mà có thể giảm xuống
hoặc tăng lên.
Thứ hai, hiệu ứng của tác động trên càng tăng lên khi phần dự trữ bắt
buộc của các ngân hàng ở NHTƯ không được tính lãi hoặc mức lãi không
đáng kể. Khi dự trữ bắt buộc tăng lên thì lãi thu được từ hoạt động cho vay
giảm xuống làm giảm lợi nhuận của các NHTM. Điều này được các ngân
hàng khắc phục bằng cách điều chỉnh tăng lãi suất cho vay trên thị trường tín
dụng.
Dự trữ bắt buộc và khối lượng tiền cung ứng
Khối lượng tiền cung ứng thay đổi là kết quả tất yếu của việc thay đổi
tiềm năng tín dụng, thay đổi lãi suất trên thị trường, nó cũng là mục tiêu cuối
cùng mà NHTƯ muốn đạt được khi điều chỉnh dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc sẽ được nâng lên nếu NHTƯ thực hiện việc thắt chặt tiền tệ, hướng

1
- 4%
2
2560/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008
8%
1
- 2%
2
2811/QĐ-NHNN ngày 20/11/2008
6%
1
- 2%
2
2951/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008
5%
1
- 1%
2
3158/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008
3%
1
- 1%
2
379/QĐ-NHNN ngày 24/02/2009
(
1
): đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng
(
2
): đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên

Yêu cầu
% Của các
khoản nợ
Ngày có
hiệu lực
Tài khoản giao dịch thuần
$ 0 đến $ 10.700.000 0 30/12/2010
Nhiều hơn $ 10.700.000 đến 58.800.000
$
3 30/12/2010
Nhiều hơn $ 58.800.000 10 30/12/2010
Nonpersonal tiền gửi thời gian 0 27/12/1990
Eurocurrency nợ 0 27/12/2010
Nguồn: http://www.federalreserve.gov
Bảng 03: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định 379 và Quyết định 79
Loại hình tổ chức tín dụng
379/QĐ-NHNN 79QĐ-NHNN
Tiền gửi
VND không
kỳ hạn và
dưới 12
tháng
Tiền gửi
VND từ 12-
24 tháng
Tiền gửi
ngoại tệ
không kỳ
hạn và dưới
12 tháng

khác biệt về tỷ lệ dự trữ bắt buộc giữa các ngân hàng cũng được quan tâm.
Theo quy định tại Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009
(đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với
ngoại tệ) thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định như sau:
Để khuyến khích một số NHTM cho vay nông nghiệp và nông thôn
ngày 08/12/2010, NHNN đã ban hành các thông báo số 457; 458; 459; 460;
461 về việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng có tỷ
trọng cho vay nông nghiệp và nông thôn cao theo Thông tư 20/2010/TT-
NHNN ngày 29/9/2010 của NHNN. Theo đó, Quỹ tín dụng nhân dân Trung
ương được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt
buộc thông thường; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam, NHTM cổ phần Quốc Tế Việt Nam, NHTM cổ phần Kiên Long,
NHTM cổ phần Mê Kông được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/5 so
với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường. (www.sbv.gov.vn). Với quy định này
NHNN đã bổ sung thêm một cơ sở mới cho việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, đó là tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn tùy thuộc vào đối tượng đầu tư của các
NHTM.
Một số gợi ý khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc: Ngoài việc khai
thác các góc độ khác nhau của tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thiết nghĩ trong quá
trình sử dụng công cụ này để điều hành chính sách tiền tệ NHTƯ nên quan
tâm đến một số vấn đề sau:
Dự trữ bắt buộc có thể duy trì dưới dạng tiền mặt tại quỹ các NHTM.
Theo Điều 14 “Luật NHNN Việt Nam” ban hành năm 2010 thì “Dự trữ bắt
buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại NHNN để thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia”, với khái niệm này, toàn bộ dự trữ bắt buộc buộc phải
gửi tại NHNN. Trên thực tế, ngoài tiền gửi ở NHNN, các NHTM luôn phải
có dự trữ tiền dưới dạng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền thường xuyên
của khách hàng. Nhất là trong thời kỳ lạm phát cao, mặc dù dự trữ bắt buộc
theo quy định thường đã cao hơn bình thường nhưng ngoài dự trữ bắt buộc
thì đế đối phó với lạm phát, bản thân các ngân hàng còn phải đối phó với

trường hợp nền kinh tế có xu hướng tăng trưởng, cầu về vốn có xu hướng
tăng, các ngân hàng thỏa mãn nhu cầu này bằng cách giảm mức dự trữ hiện
hữu và vì thế, khối cung tiền tệ được mở rộng nằm ngoài dự kiến của
NHTƯ. Vì khả năng gây ảnh hưởng của dự trữ bắt buộc là rất lớn cho nên,
một mặt, cần quan tâm đến những nhân tố tác động đến quá trình tạo tiền để
có những ứng xử kịp thời và hiệu quả, bên cạnh đó, cũng cần quan tâm và
tìm ra phương pháp thích hợp để quản lý dự trữ nói chung của các NHTM.
Dự trữ bắt buộc - công cụ khá hiệu nghiệm trong việc kiểm soát lạm
phát
Dĩ nhiên là các công cụ dù là lãi suất, tỷ giá, thị trường mở hay tỷ lệ
dự trữ bắt buộc thì việc sử dụng chúng đều nhằm đạt được mục tiêu của
chính sách tiền tệ, song mỗi công cụ có đặc điểm riêng và vì thế, nó có
những mặt mạnh và mặt yếu riêng. Khác với các công cụ khác, dự trữ bắt
buộc là công cụ luôn được khuyến cáo về mức độ tác động cực mạnh của nó
- làm thay đổi “số lần” khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông nên phải sử
dụng một cách thận trọng. Thận trọng nghĩa là không thay đổi một cách đột
ngột với một mức độ lớn chứ không đồng nghĩa với không sử dụng, chính
trong khi khai thác nó một cách thận trọng thì đây lại là một điểm mạnh của
dự trữ bắt buộc. Nếu quan sát diễn biến của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong quá
trình điều hành chính sách tiền tệ của Trung Quốc sẽ thấy được mức độ quan
tâm của NHTƯ Trung Quốc đối với công cụ này trong việc kiềm chế lạm
phát. Chỉ riêng năm 2010, Trung Quốc đã điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc
tới 6 lần, lần gần nhất trong năm này được điều chỉnh vào ngày 20/12/2010,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc được điều chỉnh tăng lên 0,5% đạt mức 18,5% đối với
những ngân hàng có quy mô lớn. Tháng 01/2011, lần đầu tiên trong năm tỷ
lệ dự trữ bắt buộc được nâng thêm 0,5% (vào ngày 15/01/2011); ngày
18/2/2011, tỷ lệ dự trữ bắt buộc lại một lần nữa được nâng 0,5% để đối phó
với lạm phát hiện đang là 4,9%, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 19,5%.
(www.xaluan.com).
Ở nước ta, để ngăn ngừa sự tăng trưởng tín dụng quá nóng nhằm kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status