Tác động của xác suất bị kiểm tra tới hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế tại Tp. Hồ chí minh - Pdf 12

i Mã số: …………….

TÁC ĐỘNG CỦA XÁC SUẤT BỊ KIỂM TRA TỚI
HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ CỦA NGƢỜI NỘP
THUẾ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
i

GIỚI THIỆU
Lý do chọn đề tài
Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của ngân sách nhà nước, tác động tới mọi

cứ nơi đâu có thuế, nơi đó có tính trạng trốn thuế.
Câu hỏi tiếp theo đặt ra là: Làm thế nào để cải thiện sự tuân thủ thuế của các
cá nhân một cách tự nguyện, đặc biệt là trong cơ chế tự khai tự nộp như hiện nay ở
Việt Nam? Với sự tin tưởng rằng khi hiểu được mối quan hệ giữa tuân thủ thuế và
các yếu tố tác động tới hành vi này, sẽ dễ dàng hơn trong việc phân tìch, đánh giá
và đổi mới các công cụ để cải thiện và nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp
thuế. Dựa theo một bài nghiên cứu đã được thực hiện ở Mỹ năm 2007, nhóm tác
giả Erich Kirchler, Stephan Muehlbache, Barbara Kastlunger, Ingrid Wahl đã đưa
ra 4 yếu tố tác động tới tuân thủ thuế: i) Thu nhập thực tế, ii) Thuế suất, iii) Xác
suất kiểm toán và iiii) Mức phạt. Mỗi yếu tố đều tác động tới sự tuân thủ trên
nhiều khía cạnh khác nhau, rất rộng và phức tạp. Chỉ riêng yếu tố thu nhập cũng
đã khó xác định, vì rất khó để tình được chính xác thu nhập của một người. Trong
khi đó, theo tâm lý học, con người ta thường có xu hướng che giấu đi con số thực
sự về thu nhập vì nhiều lý do khác nhau, hay đơn giản là để tự bảo vệ mình hay
tránh sự nhòm ngó. Yếu tố thuế suất thì lại phụ thuộc vào độ mạnh của hệ thống
thuế và các chính sách thuế được ban hành trong từng giai đoạn khác nhau. Với sự
thay đổi liên tục và là vấn đề cốt lõi ở Việt Nam như vậy thì việc phân tích yếu tố
này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất sâu và thời gian nghiên cứu phải dài. Riêng
với mức phạt, yếu tố này lại có mối quan hệ có thể thay thế với xác suất kiểm toán
(- thuật ngữ này có thể hiểu như khả năng một người nộp thuế bị kiểm tra hồ sơ
thuế nên có thể gọi là xác suất bị kiểm tra - sv). Tác giả cũng đã kết luận rằng mức
phạt cao hơn đơn giản là để tổn thất của người nộp thuế lớn hơn, ví thế sẽ ngăn
được trốn thuế. Vì vậy, xác suất bị kiểm tra là yếu tố khả thi nhất có thể kiểm
chứng được ở Việt Nam.
Từ những lý do trên, sinh viên quyết định chọn đề tài nghiên cứu “ Tác động
của xác suất bị kiểm tra tới hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế tại TP. Hồ
Chì Minh”.
iii

Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu


thủ, đặc biệt giảm sự thoả hiệp và thương lượng về thuế phải nộp giữa NNT và cơ
quan thuế; và cuối cùng, hệ thống SAS thúc đẩy sự nộp thuế đầy đủ và đúng hạn.
Quản lý thuế theo hệ thống tự khai, tự nộp, cơ quan thuế cũng có lợi ích là: giảm
gánh nặng công việc quản lý thuế bằng uỷ quyền cho đối tượng nộp thuế thực hiện
công việc kê khai thuế, và tự kiểm tra, tự chịu trách nhiệm; cơ quan thuế có điều
kiện chuyên môn hoá vào các chức năng quản lý thuế khác như hỗ trợ, tuyên
truyền nâng cao ý thức tuân thủ của NNT; hệ thống SAS hiệu quả, ít tốn kém đặc
biệt là quản lý thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập do loại trừ được chức năng kê
khai đánh giá thuế và tập trung thanh tra có trọng điểm đối với một số trường hợp
có xác suất rủi ro trốn thuế cao; SAS là hệ thống hiệu quả và hiệu lực trong việc
chống tham nhũng bằng việc giảm thiểu sự tiếp xúc giữa cơ quan thuế và khách
hàng. Tuy nhiên, để SAS phát huy được hết tác dụng thí đòi hỏi phải thỏa mãn
một số điều kiện nhất định về hệ thống thuế minh bạch; trính độ dân trí cao, tiếp
cận được với công nghệ hiện đại; các thủ tục đơn giản; đòi hỏi cao về cơ sở vật
chất và trính độ quản lý; các biện pháp thanh tra kiểm tra và chế tài phải đủ
mạnh… Trên thực tế ở nước ta, để đảm bảo thỏa mãn được các điều kiện này là
chuyện rất khó. Hơn nữa, SAS cũng được xây dựng dựa trên nền tảng là tính tuân
thủ tự nguyện. Vì vậy, việc khuyến khích và nâng cao tinh thần tuân thủ thuế là rất
cần thiết.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tuân thủ và không tuân thủ thuế.
Mỗi bài nghiên cứu nhìn nhận, đánh giá và phân tìch trên những khía cạnh khác
nhau về tuân thủ hoặc không tuân thủ thuế: cố ý trốn thuế, thiếu sự công bằng
trong hệ thống thuế, mức thuế suất hay hình phạt. Có một vấn đề không hoàn toàn
tách rời khỏi vấn đề tôn trọng luật pháp, đó là nỗi lo sợ bị phát hiện. Chẳng có gì
ngạc nhiên, các nghiên cứu có xu hướng cho thấy rằng đây là một trong những yếu
tố đóng góp quan trọng nhất. Witte và Woodbury (1983) nhận thấy rằng xác suất
của việc thực hiện trót lọt các hành vi không tuân thủ là yếu tố quan trọng nhất
khiến cho tình trạng không tuân thủ luật ngày càng gia tăng. Tính trạng giảm sút
phạm vi kiểm tra ở Mỹ được ghi nhận cùng với sự giảm sút (hay không thể cải

vi

ngàn doanh nghiệp lớn nhỏ khác nhau. Là thành phố có dân số đông nhất cả nước,
hơn 8 triệu người, Tp.Hồ Chì Minh cũng là một thị trường rộng lớn và tiềm năng
cho nhiều khối ngành kinh tế - kỹ thuật. Ở đây có số lượng rất lớn các doanh
nghiệp lớn, các chi nhánh của các tập đoàn lớn như: Toyota Việt Nam, Honda Việt
Nam, Unilever Vietnam; các ngân hàng thương mại như: Agribank, Vietcombank,
VietinBank, BIDV, ANZ… với mức đóng góp rất lớn cho NSNN qua nguồn thu
thuế. Chính vì thế, NNT ở đây có tình đại diện rất cao, từ mức đóng góp thấp đến
cao trong số thu thuế.
- Phạm vi nghiên cứu: TP.Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học nghiên cứu thị trường
để khảo sát, thu thập số liệu sơ cấp. Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế dựa trên
những cơ sở lý thuyết đã được chứng minh ở các đề tài đi trước; được xem xét,
phân tích và diễn đạt nội dung thành những câu hỏi cho phù hợp với môi trường
kinh tế xã hội cũng như văn hóa của người Việt Nam, đặc biệt là ở Tp, Hồ Chí
Minh. Số liệu thu thập được sẽ đưa vào phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý,
phân tìch. Trước tiên là kiểm định mối quan hệ giữa xác suất bị kiểm tra và sự
tuân thủ thuế. Kết quả của kiểm định chi bính phương cho thấy hai biến này có
tương quan với nhau. Phương pháp phân tìch phương sai ANOVA được tiếp tục
sử dụng để đo lường mối tương quan này, tuy nhiên kết quả cho thấy mối tương
quan này là rất yếu, biến xác suất bị kiểm tra chỉ lý giải thìch được một phần rất
nhỏ cho hành vi tuân thủ thuế của NNT tại Tp.HCM. Thông qua kiểm định tính
độc lập của các biến với mức độ tuân thủ thuế, phát hiện ra rằng hai biến: 1) Lịch
sử kiểm tra hồ sơ thuế ( đã từng bị kiểm tra hồ sơ thuế hay chưa) và 2) Khả năng
bị kiểm tra hồ sơ thuế sau khi đã bị kiểm tra rồi có mối tương quan với mức độ
tuân thủ thuế. Dựa vào kết luận này tiến hành viết mô hình hồi quy tuyến tình để
tìm mối tương quan giữa các biến. Cuối cùng, kết hợp với mục tiêu nghiên cứu
ban đầu và kết quả thu thập được từ bảng khảo sát để đưa ra các kiến nghị thích

1.1.2 Không tuân thủ thuế 1
1.2 Phân loại 2
1.3 Lý thuyết tuân thủ thuế 4
1.4 Xác suất bị kiểm tra 6
2. THỰC TRẠNG GIÁM SÁT TUÂN THỦ THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.
HỒ CHÍ MINH 11
2.1 Chức năng giám sát tuân thủ thuế tại Cục thuế Tp.HCM 11
2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thuế Tp.Hồ Chí Minh 11
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Cục thuế Tp. Hồ Chí Minh 14
2.1.3 Phòng kiểm tra thuế Cục thuế Tp Hồ Chí Minh 16
2.1.4 Phòng thanh tra thuế Cục thuế Tp.Hồ Chí Minh 18
2.2 Các ứng dụng của Cục Thuế Tp.HCM trong công tác Thanh – Kiểm tra
thuế 20
2.3 Kết quả báo cáo Thanh - Kiểm tra thuế thời gian gần đây 20
2.3.1 Công tác thanh tra tại doanh nghiệp 22
2.3.2 Công tác kiểm tra tại Cục thuế 23
2.3.3 Công tác kiểm tra tại doanh nghiệp 15
2.4 Xu hƣớng cải cách tuân thủ thuế 19
ix

3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 21
3.1 Thu thập dữ liệu 21
3.2 Các biến đo lƣờng trong mô hình 21
3.3 Phân tích số liệu 23
3.3.1 Thống kê mô tả 24
3.3.2 Phân tích mối quan hệ giữa xác suất bị kiểm tra và mức độ tuân thủ thuế 30
3.3.3 Phân tích mối quan hệ giữa một số yếu tố khác và mức độ tuân thủ thuế 40
3.4 Kết quả và bình luận 45
4. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 47
4.1 Nâng cao ý thức tuân thủ thuế tự nguyện của ngƣời nộp thuế 47

tuân thủ và mức độ tuân thủ là không giống nhau.
1.1.2 Không tuân thủ thuế
Trong quyển sách “Thuế ở các nước đang phát triển”, Richard M. Bird và
Oliver Oldman có viết: Ngoài việc kiểm tra thuế theo kiểu xổ số trong những
2

trường hợp mà tình trạng của người nộp thuế là không thể biện bạch được,
Boidman (1983) còn định nghĩa ba hính thức không tuân thủ thuế khác nhau: (1)
không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) không kê khai thu nhập nhận
được trên tờ khai thuế; và (3) giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không
đúng những khoản miễn giảm, loại trừ, hay khấu trừ.
Trước tiên, mỗi hình thức không tuân thủ thuế trên đây có thể không phải là
do NNT cố ý trốn tránh, mà là do một sai sót về phía NNT. Nếu sai sót là bất hợp
lý hay do sơ suất cẩu thả, một khi được lặp lại, nó bắt đầu tiến tới sự gian lận, và
NNT sẽ phải nộp một khoản tiền phạt đặc biệt ngoài lãi suất. Giữa sự cẩu thả và
chậm trễ là một khoảng trung gian, ở đó NNT không chơi trò kiểm tra xổ số, mà
chỉ đơn thuần là phạm sai lầm mà thôi. Ở đây cần áp dụng một khoản phạt để
khuyến khích NNT phải cẩn thận hơn.
Trong cả hai trường hợp này, ngay cả giả định rằng người nộp thuế không có
động cơ, ảnh hưởng của các khoản phạt sẽ được cảm nhận chỉ khi nào người ta áp
dụng những khoản phạt ấy. Như trong trường hợp kiểm tra xổ số, chính việc kiểm
tra thực tế và thực sự áp dụng các biện pháp chế tài sẽ xác định tính hữu hiệu của
các biện pháp ấy.
Mặc dù các sắp xếp trong hệ thống thuế được đưa ra để đảm bảo sự tuân thủ
luật thuế và các quy định về thuế, xã hội vẫn còn phải đối mặt với nhiều trường
hợp không tuân thủ thuế.Vì vậy, như Marti (2000) công nhận, vấn đề không tuân
thủ thuế là một hiện tượng vốn có của hệ thống thuế hiện nay.
1.2 Phân loại
Tùy vào tính chất của việc tuân thủ, có nhiều cách phân biệt được đưa ra về
sự tuân thủ. Theo quan điểm của Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế

phạm vi của pháp luật.
4

1.3 Lý thuyết tuân thủ thuế
Nộp thuế là một nghĩa vụ bắt buộc của mọi công dân dù là thể nhân hay pháp
nhân. Là một nhiệm vụ dân sự, người ta dự kiến rằng các công dân tự nguyện sẽ
tuân thủ các nghĩa vụ đó, nhưng với một số công dân thì không phải thế. Alm
Martinez-Vazquez và Schneider (2003) đã công nhận rằng hầu hết mọi người
không muốn nộp thuế, đó là khó khăn cho cơ quan thuế để đánh thuế và thu thuế ở
bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. Kirchler, Hoelz và Wahl (2008) cho biết chính phủ
có trách nhiệm quan tâm hàng đầu tới việc đảm bảo các công dân thực hiện theo
đúng nghĩa vụ của mình và cư xử phù hợp với quy định của pháp luật thuế, không
phân biệt địa vị xã hội của họ.
Để đảm bảo tuân thủ luật thuế và các quy định, hệ thống thuế xây dựng dựa
trên pháp luật về thuế, chính sách thuế và quản lý thuế được đặt ra.Theo Marti
(2000), sự tồn tại của hệ thống thuế thúc đẩy các tổ chức, các cá nhân đóng góp
một phần thu nhập của họ cho chính phủ như nộp thuế. Silvani (1992) nói thêm
rằng mục tiêu của quản lý thuế là thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện.
Fisher và các nhà nghiên cứu khác đã phân các nhân tố thành 4 nhóm chính
trong mô hình tuân thủ thuế và mô hính này đã trở nên rất nổi tiếng. Bốn nhóm
này bao gồm: Hệ thống thuế ( thuế suất, hình phạt, khả năng bị phát hiện và sự
phức tạp của hệ thống thuế); Thái độ và nhận thức ( sự công bằng, đạo đức và ảnh
hưởng của nhóm); Cơ hội không tuân thủ ( mức thu nhập, nguồn thu nhập và nghề
nghiệp); và Các yếu tố nhân khẩu học ( độ tuổi, giới tính và giáo dục). Mô hình
Fisher là một mô hính đơn, tìch hợp các yếu tố kinh tế, xã hội, tâm lý và một
khuôn khổ khả thi để có thể hiểu được hành vi tuân thủ thuế (Chan, Troutman &
O’Bryan, 2000).
Tuy nhiên, Alm (1999) cho rằng không có một mô hình đơn nào có thể giải
thích hết cho những yếu tố lớn ảnh hưởng đến quyết định tuân thủ thuế. Ông cũng
đưa ra một vài yếu tố khác cũng có thể có liên quan trong việc giải thích hành vi

- Xác suất kiểm toán ( hay xác suất bị kiểm tra)
- Mức phạt
6

Như đã trính bày trong phần Lý do chọn đề tài, trong 4 yếu tố tác động tới
tuân thủ thuế: i) Thu nhập thực tế, ii) Thuế suất, iii) Xác suất kiểm toán và iiii)
Mức phạt, mỗi yếu tố đều tác động tới sự tuân thủ trên nhiều khía cạnh khác nhau,
rất rộng và phức tạp. Chỉ riêng yếu tố thu nhập cũng đã khó xác định, vì rất khó để
tình được chính xác thu nhập của một người. Trong khi đó, theo tâm lý học, con
người ta thường có xu hướng che giấu đi con số thực sự về thu nhập vì nhiều lý do
khác nhau, hay đơn giản là để tự bảo vệ mình hay tránh sự nhòm ngó. Yếu tố thuế
suất thì lại phụ thuộc vào độ mạnh của hệ thống thuế và các chính sách thuế được
ban hành trong từng giai đoạn khác nhau. Với sự thay đổi liên tục và là vấn đề cốt
lõi ở Việt Nam như vậy thì việc phân tích yếu tố này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu
rất sâu và thời gian nghiên cứu phải dài. Riêng với mức phạt, yếu tố này lại có mối
quan hệ có thể thay thế với xác suất kiểm toán (- thuật ngữ này có thể hiểu như
khả năng một người nộp thuế bị kiểm tra hồ sơ thuế nên có thể gọi là xác suất bị
kiểm tra – sv). Đặc biệt xu hướng trong thời gian tới, công tác thanh - kiểm tra
trong ngành Thuế sẽ được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng quản lý thuế cũng
như thực hiện thành công nhiệm vụ của ngành trong năm 2013. Trong Báo cáo
tổng kết Cục thuế Tp Hồ Chì Minh năm 2012 cũng đã nêu rõ mục tiêu đảm bảo
thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2013 do Bộ Tài chính và Ủy
ban nhân dân thành phố giao bằng các biện pháp cụ thể, qua đó cũng xác định
những việc cần làm trong công tác thanh – kiểm tra ( sẽ được trình bày cụ thể
trong Chương 2). Nhận thấy tầm quan trọng của nhiệm vụ này, cùng với kỳ vọng
những kết luận của đề tài sẽ có ích trong việc nâng cao hiệu quả của thanh – kiểm
tra và tuân thủ thuế của NNT, đề tài sẽ tập trung chủ yếu đi vào xem xét, đo lường
yếu tố xác suất bị kiểm tra và đưa ra kết luận cũng như kiến nghị những giải pháp
phù hợp với mục tiêu của đề tài.
1.4 Xác suất bị kiểm tra

thu nhập đã được tím thấy trong một bài nghiên cứu với một mẫu của 1724 người
đóng thuế ở Mỹ của Slemrod, Blumenthal, và Christian (2001). Nhóm thử nghiệm
trong nghiên cứu này nhận được thông báo bằng thư rằng các báo cáo thuế tiếp
theo của họ sẽ bị kiểm toán. Trong khi người thu nhập thấp và thu nhập trung bính
tăng tiền thuế so với năm trước, những người thu nhập cao phản ứng khác và chỉ
ra một nghĩa vụ thuế thấp hơn. Các tác giả cho rằng các thư thông báo đã làm cho
8

các đối tượng nộp thuế có thu nhập cao tím kiếm sự giúp đỡ từ các chuyên gia tư
vấn thuế chuyên nghiệp để giảm thiểu nghĩa vụ thuế của họ.
Hiệu quả của kiểm tra thường xuyên cũng được chứng minh trong các nghiên
cứu trong phòng thì nghiệm. Alm, Sanchez, và De Juan (1995) đã so sánh các tỷ lệ
kiểm tra 5%, 30% và 60% và cũng đã tím thấy một sự gia tăng tương ứng trong
việc tuân thủ. Trong nghiên cứu của Trivedi, Shehata, và Lynn (2003) và Trivedi,
Shehata và Mestelman (2004) tỷ lệ kiểm tra là 0% hoặc 25%. Đúng như mong đợi,
sự tuân thủ cao hơn ở điều kiện thứ hai. Gërxhani và Schram (2006) tiến hành thì
nghiệm ở Albania Hà Lan. Những người tham gia ở Albania đã không bị ảnh
hưởng bởi tỷ lệ kiểm tra (16,6% và 50%), nhưng người Hà Lan trốn thuế nhiều
hơn khi xác suất kiểm tra thấp. Bài nghiên cứu của Alm, McClelland, và Schulze
(1992) đã cho thấy mối quan hệ phi tuyến tình giữa xác suất kiểm tra và tuân thủ.
Tại xác suất kiểm tra là 0%, 2%, và 10% người tham gia khai thuế tương ứng là
20%, 50% và 68% thu nhập của họ. Spicer và Thomas (1982) đã thay đổi tỷ lệ
kiểm tra và cung cấp cho những người tham gia của họ thông tin cụ thể (1 phần 20,
5 phần 20, và 3 phần 20) hoặc thông tin không cụ thể (thấp, cao, và trung bình) về
xác suất được kiểm tra. Một lần nữa, xác suất kiểm tra càng cao, việc trốn thuế
càng bị từ chối. Hơn nữa, thông tin chình xác có tác động mạnh hơn so với thông
tin không chính xác. Ngược lại, Friedland (1982) báo cáo rằng ở xác suất kiểm tra
nhỏ, thông tin không chính xác có thể tăng cường tuân thủ.
Fischer, Wartick và Mark (1992) chỉ ra rằng nhận thức về việc sẽ bị kiểm tra
(xác suất chủ quan) và việc bị kiểm tra ngẫu nhiên (xác suất khách quan) thì khác

xảy ra các tai nạn như vậy, cho thấy trải qua một cuộc kiểm tra có thể làm tăng xác
suất chủ quan bị kiểm tra.
Mặt khác, trong các nghiên cứu thuế có thể thường xuyên thấy rằng việc tuân
thủ sẽ giảm mạnh sau một cuộc kiểm tra (Guala & Mittone, 2005; Mittone, 2006).
Những phản ứng sau các cuộc kiểm tra như vậy được Mittone (2006) gọi là hiệu
ứng “hố bom”. Trong một nghiên cứu gần đây của Kastlunger, Kirchler, Mittone
và Pitters (nộp bản thảo) đã điều tra xem hiệu ứng “hố bom” là do nhận thức sai
cơ hội hay cố gắng để đền bù thiệt hại từ việc nộp phạt. Kết quả cho thấy rằng
nhận thức sai cơ hội là nguyên nhân chình cho sự sụt giảm mạnh trong việc tuân
thủ ngay sau khi kiểm tra xảy ra. Tuy nhiên, ìt nhất trong một số trường hợp,
khuynh hướng đền bù thiệt hại dường như cũng làm giảm sự tuân thủ. Các hiệu
10

ứng “hố bom” chỉ ảnh hưởng đến kỳ kiểm tra đầu tiên sau một cuộc kiểm tra,
trước khi sự tuân thủ tăng trở lại. Trong một nghiên cứu của Kirchler,
Maciejovsky, và Schwarzenberger (2005), sau khi một hiệu ứng “hố bom” xảy ra,
sự tuân thủ tăng đến cơ sở của nó (its baseline) trong điều kiện tỷ lệ kiểm tra cao
(30%) nhanh hơn so với trong điều kiện tỷ lệ kiểm tra thấp hơn (15 %). Ví vậy,
thời gian tồn tại của hiệu ứng này dường như phụ thuộc vào thời gian dự kiến của
kỳ kiểm tra tiếp theo.
Tóm lại, bằng chứng thực nghiệm cho các tác động của xác suất kiểm tra tới
tuân thủ thuế là khá rõ ràng. Tuy nhiên, trong thực tế, kiểm tra thuế là rất tốn kém
và do đó, các nghiên cứu đổi hướng tập trung vào kỹ thuật kiểm soát thay thế.
Reinganum & Wilde (1985), và Alm, Cronshaw, & McKee (1993) đã đưa ra một
vài đề án kiểm tra ngẫu nhiên đối lập. Họ đã thử nghiệm hiệu quả của một quy tắc
cắt giảm ( khi khai báo giảm xuống dưới một ngưỡng nhất định), một đề án kiểm
tra ngược ( khi phát hiện ngẫu nhiên sự không tuân thủ trong kết quả kiểm tra hồ
sơ thuế trước đó), và một đề án kiểm tra tương lai ( khi phát hiện sự không tuân
thủ làm xác suất kiểm tra trong tương lai). Kỹ thuật kiểm tra thay thế dẫn đến tuân
thủ thuế cao hơn ngay cả khi các quy tắc này liên quan đến kiểm tra ìt hơn so với

mềm ứng dụng được sử dụng trong công tác quản lý như:
12

- Ứng dụng theo dõi nhận – trả hồ sơ thuế QHS
- Ứng dụng tra cứu thông tin người nộp thuế NNT
- Ứng dụng quản lý văn bản QLVB
- Kiểm tra, thanh tra thuế TTR
- Quản lý hóa đơn, ấn chỉ thuế QLAC
- Đăng ký thuế TINCC
- Hỗ trợ kiểm tra PTH
- Kê khai - kế toán thuế VATWIN
2.3 Kết quả báo cáo Thanh - Kiểm tra thuế thời gian gần đây
Trong báo cáo công tác thanh kiểm tra thuế năm 2012 vừa qua, Cục thuế
Tp.HCM xác định bối cảnh kinh tế - xã hội năm 2012 gặp nhiều khó khăn do ảnh
hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới chưa có chiều hướng tăng trưởng, Chính
phủ đã có chủ trương, biện pháp khắc phục khó khăn cho doanh nghiệp như cơ chế
chính sách về miễn, giảm, gia hạn nộp thuế cho một số doanh nghiệp hoạt động
trong các lĩnh vực cần khuyến khích và các doanh nghiệp nhỏ và vừa giúp các
doanh nghiệp có thể vượt qua khó khăn ảnh hưởng đến số thu ngân sách của toàn
Cục. Để đảm bảo đạt số dự toán pháp lệnh năm 2012, Cục Thuế đã áp dụng một số
biện pháp trong đó chủ động tăng cường, đẩy mạnh công tác thanh, kiểm tra nhằm
tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.Với nhiệm vụ tập trung tăng cường công
tác thanh, kiểm tra các doanh nghiệp, trên cơ sở đánh giá, phân loại rủi ro dựa trên
nguồn dữ liệu kê khai của đơn vị, kết hợp với thông tin thu thập được trong quá
trình quản lý, giám sát hồ sơ kê khai thuế, phù hợp với nguồn nhân lực, công tác
thanh, kiểm tra thuế đã mang lại hiệu quả tích cực góp phần hoàn thành kế hoạch
thu ngân sách năm 2012.
Năm 2012, Cục Thuế TP.HCM xây dựng kế hoạch thanh, kiểm tra trên cơ sở
phân tìch đánh giá rủi ro theo Quyết định số 1391/QĐ-TCT ngày 13/10/2011 của
Tổng cục Thuế về việc triển khai thì điểm ứng dụng Phân tích thông tin rủi ro của

hàng, Dược phẩm, Bất động sản, Dầu khí, vận tải biển và phát chuyển nhanh.
- Thanh tra theo các chuyên đề đã lập theo kế hoạch thanh tra
Kết quả năm 2012 đã hoàn thành kế hoạch thanh tra đã phát hiện, kiến nghị
xử lý truy thu và xử phạt kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế, góp phần
nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, tạo lập công bằng về
14

nghĩa vụ thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật thuế thông qua
thực tiễn, chống thất thu ngân sách, góp phần vào việc hoàn thành dự toán thu ngân
sách năm 2012.

ĐVT: triệu đồng
STT
Đơn vị
Số hồ
sơ giải
quyết
Tổng số
truy thu +
truy hoàn
Số giảm
khấu trừ
Giảm lỗ
Đã nộp
NSNN
1
P.Thanh tra 1
430
1.520.149
9.052

Kết quả thanh tra năm 2012, nguồn Cục thuế Tp.HCM.
Đánh giá chung:
Kết quả thực hiện năm 2012 của các phòng thanh tra đã thực hiện 1.511 hồ sơ
đạt 102% về số hồ sơ theo kế hoạch pháp lệnh, 77% về số hồ sơ theo kế hoạch
phấn đấu, 225% về số thu so với kế hoạch được Ban Lãnh đạo Cục Thuế giao năm
2012 và bằng 152% về số hồ sơ, 203% về số thu (đã quy đổi) so với cùng kỳ năm
2011.
Cụ thể như sau:
- Số hồ sơ đã thanh tra : 1.511 hồ sơ, đạt 102% về số hồ sơ theo kế hoạch pháp
lệnh, 77% về số hồ sơ theo kế hoạch phấn đấu và bằng 152% so với cùng kỳ
năm 2011.
- Số thuế truy thu và phạt: 2.611,22 tỷ đồng bằng 231% so với cùng kỳ năm
2011.
- Số giảm khấu trừ: 86,82 tỷ đồng bằng 110% so với cùng kỳ năm 2011.
- Giảm lỗ : 2.688,5 tỷ đồng bằng 147% so với cùng kỳ năm 2011.
15

- Tổng số thuế truy thu và phạt đã nộp ngân sách năm 2012 là 1.119,63 tỷ đồng
đạt 91,14% trên tổng số truy thu và phạt phải nộp NSNN đã trừ nguyên nhân
khách quan (Số đang khiếu nại và chưa hết hạn phải nộp) bằng 166% so với
cùng kỳ năm 2011.
2.3.2 Công tác kiểm tra tại Cục thuế
Tổng số hồ sơ kiểm tra tại cơ quan thuế là 126.824 hồ sơ tăng 13% so với cùng kỳ.
Số thuế điều chỉnh tăng thêm là 240 tỷ đồng bằng 58% so với cùng kỳ.
- Số hồ sơ kiểm tra tại bàn : 126.824 hồ sơ
- Số hồ sơ chấp nhận : 22.197 hồ sơ
- Số hồ sơ điều chỉnh : 6.282 hồ sơ
- Số hồ sơ ấn định : 370 hồ sơ.
- Số hồ sơ đề nghị kiểm tra tại DN : 97.975 hồ sơ
- Số điều chỉnh tăng : 241 tỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status