Nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 đến 2020 - Pdf 12

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH KHÁNH HÒA

ĐỀ TÀI CẤP TỈNH
Nghiên cứu xu hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa
giai đoạn 2010 đến 2020
Cơ quan thực hiện: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Xuân Bá
Hà Nội, tháng 7 năm 2010
2
Danh sách các thành viên:
1. TS. Trần Kim Chung (thư ký đề tài)
2. ThS. Nguyễn Thị Huy
3. ThS. Nguyễn Kim Anh
4. ThS. Đinh Trọng Thắng
5. ThS. Phạm Thiên Hoàng
6. ThS. Trần Toàn Thắng
7. ThS. Nguyễn Hữu Thọ
8. ThS. Tạ Minh Thảo
9. ThS. Hồ Công Hòa
10.CN. Bế Thu Trang
11. ThS. Đinh Xuân Nghiêm
12.CN. Trần Ngọc Xuân
13.CN. Lê Văn Hoa
14.ThS. Văn Công Minh
15.CN. Lê Quang Vinh
16.CN. Nguyễn Hữu Nghị
1
17. CN. Phùng Văn Hoàng
2

2.1. Thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2000-2010 49
2.1.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa 49
2.1.2. Tổng quan tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa 2000-2010: những
thành tựu chủ yếu 53
2.1.3. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 58
2.2. Thành tựu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2000-2010 62
2.2.1. Cơ cấu kinh tế theo ngành có bước chuyển dịch đúng hướng 62
2.2.2. Cơ cấu kinh tế theo thành phần phát triển theo hướng tăng tỷ trọng thành phần
kinh tế ngoài nhà nước 65
2.2.3. Ba vùng kinh tế trọng điểm đã được chú trọng để tạo động lực tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh 67
2.3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khánh Hòa giai
đoạn 2000-2010 69
2.3.1. Nguồn lực lao động đã được huy động nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế 69
2.3.2. Đầu tư đã có bước phát triển mạnh mẽ nhưng chưa đúng tầm 73
3
2.3.3. Những yếu tố khác (trong đó có quản lý nhà nước) đã có tiến bộ nhưng vẫn còn
nhiều hạn chế 77
Chương 3: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 đến 2020
82
3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế giai đoạn 2010-2020 82
3.1.1. Bối cảnh quốc tế đối với Việt Nam nói chung 82
3.1.2. Triển vọng của Khánh Hòa giai đoạn 2010-2020 86
3.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa 94
3.2.1. Quan điểm, định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khánh Hòa giai đoạn
2010-2020 95
3.2.2. Các kịch bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khánh Hòa đến 2020 95
3.2.3. Căn cứ lựa chọn kịch bản 106
3.3. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010 - 2020

Hình 1.1. Chuyển dịch cơ cấu GDP theo ngành của Trung Quốc
thời kỳ 1970-2000 (%, giá hiện hành) 24
Hình 1.2. Cơ cấu kinh tế ngành từ năm 2000 đến năm 2009 28
Hình 2.1. Đóng góp của các nguồn lực vào tăng trưởng GDP của Khánh Hòa từ 2006-2008
58
Hình 2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế (%) 66
Hình 2.3. Vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001-2009 (%) 74
Hình 2.4. Vốn đầu tư xã hội chia theo ngành kinh tế (%) 75
5
Đặt vấn đề
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung chủ yếu trong
phát triển kinh tế của cả nước nói chung và Khánh Hòa nói riêng. Từ năm 2000
đến năm 2009, cơ cấu kinh tế của tỉnh Khánh Hòa đã chuyển dịch theo hướng
tích cực, đó là tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng sản
phẩm của tỉnh giảm từ 26,9% xuống 15,%; tỷ trọng ngành công nghiệp-xây
dựng và dịch vụ-du lịch tăng tương ứng từ 35,3% và 37,8% lên 41,7% và
43,3% (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa). Tuy nhiên, chất lượng phát
triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của Khánh Hòa còn yếu kém; tăng
trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các yếu tố chiều rộng, hay nói cách khác là dựa
vào những ngành, những sản phẩm truyền thống, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn
và lao động. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa khai thác hết tiềm năng
phát triển ngành công nghiệp, du lịch, đặc biệt là du lịch biển. Cơ cấu thành
phần kinh tế cũng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Cơ cấu
đầu tư chưa hướng mạnh vào chiều sâu. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiếu
đồng bộ Do đó, yêu cầu về đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều
sâu, đồng thời đưa Khánh Hòa phát triển ở tầm cao hơn trở thành yêu cầu cấp
bách.
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các yếu tố tác động đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên

trung vào ba khía cạnh, chuyển dịch cơ cấu ngành (Nguyễn Xuân Thu, 2000;
Lưu Bích Hồ và các đồng nghiệp, 2003; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2000, 2002;
Bùi Tất Thắng và các đồng nghiệp, 2006), cơ cấu thành phần (Vũ Đình Bách
và các tác giả khác, 2000; Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 1996;
Lương Xuân Quỳ, 2002 ), cơ cấu vùng (Nguyễn Bá Ân, 2000; Lưu Bích Hồ
và các đồng nghiệp, 2003 ). Xem xét tác động của vốn đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2000, 2002), tác động của nguồn lực lao động
đến đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Nguyễn Đăng Thảo, 2001; Nguyễn Hoàng
Thụy, 2003, Trần Thị Bích Hạnh, 2003 và Phạm Thế Tri, 2003) cũng như tác
động của năng suất đến chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế (Trần Kim
Chung và các đồng nghiệp, 2002) hay tác động của các nguồn lực đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế (Trần Kim Chung, 2004).
7
Xét về các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu gồm có bốn yếu tố cơ
bản. Một là, yếu tố thị trường. Dưới tác động của yếu tố thị trường, nguồn lực
sẽ được phân bổ đến những bộ phận hoạt động có hiệu quả nhất. Đồng thời, nó
sẽ điều chỉnh sản phẩm, đầu ra của các bộ phận sao cho phù hợp nhất. Qua đó,
nó điều chỉnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hai là, tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ giúp cho ra đời một sản phẩm, một ngành
hàng, một bộ phận trong nền kinh tế, và cùng với nó là sự mất đi của những bộ
phận khác, đương nhiên, dẫn đến tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ba
là, các nguồn lực và lợi thế của nền kinh tế. Với mỗi một quốc gia, một vùng,
một lãnh thổ, một ngành hàng, muốn tăng trưởng hay giảm sút phải dựa vào
thực tế nguồn lực của mình. Trong các bối cảnh kinh tế khác nhau, các nhu cầu
và sự đáp ứng các nhu cầu sẽ khác nhau. Qua đó, tác động đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Bốn là môi trường thể chế. Yếu tố xã hội, chính sách có những vai
trò tác động to lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc chọn lựa chiến lược
hướng nội hay hướng ngoại, việc lựa chọn phát triển độc tôn một ngành hàng,
hay một thành phần sẽ có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
(Nguyễn Đình Phan, 1999).

Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh
Khánh Hòa giai đoạn 2000-2010. Trên cơ sở đó, dự báo xu hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010-2020.
Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, thành phần kinh tế và
vùng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2000-2010;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh
Khánh Hòa;
- Dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn
2010-2020;
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh
Khánh Hòa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung xét trên bình diện tổng thể. Một là cơ cấu
ngành: nông nghiệp (theo nghĩa rộng), công nghiệp và dịch vụ. Hai là cơ cấu
thành phần: nhà nước, dân doanh trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài. Do
9
hạn chế về mặt số liệu nên cơ cấu vùng kinh tế ít được đề cập trong nghiên cứu
này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
(1) Về mặt không gian: Tỉnh Khánh Hòa
(2) Về mặt thời gian: Thời gian đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế từ năm 2000 đến năm 2010; thời kỳ dự báo xu hướng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và các giải pháp từ năm 2010 đến năm 2020.
(3) Về mặt nội dung: Nghiên cứu tập trung phân tích cơ cấu kinh tế
Khánh Hòa những năm 2000-2010 và định hướng cơ cấu kinh tế 2010-2020
cùng những giải pháp để đạt được cơ cấu kinh tế đó. Do nguồn số liệu hạn chế
nên đề tài tập trung nghiên cứu cơ cấu kinh tế theo ngành và thành phần kinh
tế. Trong cơ cấu ngành kinh tế, đề tài tập trung vào ba ngành lớn: công nghiệp,

các yếu tố tổng hợp - TFP) tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Khánh hòa.
(ii) Dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Khánh Hòa
đến năm 2020:
Trong thực tế, có nhiều cách khác nhau để dự báo tăng trưởng. Cách cơ
bản nhất thường dùng là dựa trên hàm sản xuất. Với chuỗi số liệu theo thời
gian, hàm sản xuất có thể được ước lượng, các điểm dự báo được tính toán dựa
trên các tham số. Điểm yếu của phương pháp dự báo theo tham số là cần một
chuỗi thời gian đủ dài (ít nhất 20 năm để tăng được độ tin cậy của các kết quả
dự báo. Một cách khác cũng thường được áp dụng khi dự báo đó là dựa trên
phương pháp phi tham số. Theo đó, nền kinh tế được mô hình hóa thành hệ các
phương trình khác nhau. Tăng trưởng được tính toán dựa trên việc thay đổi của
các biến độc lập trong mô hình. Ví dụ điển hình của loại dự báo này là mô hình
cân bằng tổng thể với hàng loạt các phương trình khác nhau mô hình hóa mối
quan hệ phức tạp giữa các ngành cũng như mối quan hệ giữa nguồn lực và tăng
trưởng. Một hạn chế quan trọng của mô hình kiểu này là đòi hỏi số liệu phức
tạp và chi tiết ở mức độ cao mà ít địa phương nào có thể cung cấp đầy đủ.
Nghiên cứu này dựa trên cách tiếp cận thứ hai kể trên-phương pháp phi
tham số-tuy nhiên do hạn chế về nguồn số liệu chúng tôi đã giản lược đi rất
nhiều. Điều này có nghĩa là mô hình dự báo sẽ không thể bao hàm được các
quan hệ phức tạp của tăng trưởng GDP. Cũng khác với các báo cáo khác sử
11
dụng hàm tăng trưởng từ phía cầu (GDP=f(Chi tiêu, đầu tư, xuất nhập khẩu)),
hàm sản xuất trong báo cáo này được xây dựng từ phía cung nhằm thể hiện
được quan hệ dài hạn về lao động và đầu tư tới tăng trưởng hơn là quan hệ
ngắn hạn trong cách tiếp cận từ phía cầu (được trình bày trong Phụ lục 2).
Thực tế việc xác định các biến ngoại sinh kể trên có thể đặt ra nhiều câu
hỏi về mặt lý thuyết, ví dụ cầu về lao động là một hàm của tăng trưởng, hoặc
tương tự như thế tăng trưởng của một năm (ví dụ 2015) phụ thuộc vào tăng
trưởng của năm trước đó. Hoặc ngược lại đầu tư của năm 2020 có thể lại phụ
thuộc vào tăng trưởng của năm 2015 hoặc các năm liền kề… Trong khuôn khổ

cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã
hội. Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ
là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với
nhau trong những thời gian và không gian nhất định, trong những điều kiện
kinh tế xã hội nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, cả về
số lượng và chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế.
Vấn đề thứ nhất, cơ cấu kinh tế được xác định bằng tỷ trọng giá trị sản
lượng (hoặc GDP) của từng bộ phận chiếm trong tổng giá trị sản lượng (hay
GDP) của toàn bộ nền kinh tế. Tỷ trọng này phụ thuộc vào vị trí của mỗi bộ
phận trong nền kinh tế (của từng bộ phận trong hệ thống). Những bộ phận
chiếm tỷ trọng lớn thường đóng những vai trò quan trọng (tuy không phải là
quyết định). Những bộ phận then chốt, mũi nhọn lúc đầu vẫn có thể chiếm tỷ
13
trọng nhỏ nhưng dần sẽ lớn lên vì chúng được ưu tiên phát triển. Những bộ
phận “mới” lúc đầu thường chiếm tỷ trọng nhỏ, tỷ trọng này sẽ dần tăng lên
cùng sự trưởng thành của chúng.
Vấn đề thứ hai là số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành và của các
yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Theo
thành phần kinh tế thì có thể có các thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp
tác, kinh tế cá thể - tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo vùng có thể phân chi tiết thành: thành
thị, nông thôn, ven biển, miền núi, miền xuôi
Vấn đề thứ ba liên quan đến các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các
nhóm ngành, yếu tố hướng vào các mục tiêu đã xác định. Cơ cấu kinh tế còn
là phạm trù trừu tượng; muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi
các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem
xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân. Vấn đề là làm sao để cơ
cấu kinh tế sử dụng một cách hiệu quả nhất những nguồn lực của nền kinh tế
phục vụ cho tăng trưởng, phát triển và ngược lại, tăng trưởng, phát triển hướng
tới dịch chuyển cơ cấu kinh tế đến một cơ cấu tối ưu.

Loại cơ cấu kinh tế này phản ánh mối quan hệ về sở hữu đối với tư liệu
sản xuất giữa các chủ thể tham gia vào quá trình tăng trưởng và phát triển. Ở
Việt Nam, nếu theo tiêu chí sở hữu, cơ cấu kinh tế được chia theo ba khu vực
sở hữu là khu vực kinh tế nhà nước, khu vực ngoài nhà nước (tập thể, tư nhân
và cá thể) và khu vực có vốn nước ngoài. Thông qua tỷ trọng của từng khu vực
trong GDP có thể nắm bắt được xu hướng vận động của từng thành phần kinh
tế trong quá trình phát triển.
Trong một xã hội, luôn tồn tại các thành phần kinh tế khác nhau, đại diện
cho các phương thức sản xuất khác nhau, trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội
nào cũng có phương thức sản xuất giữ địa vị chi phối, phương thức sản xuất
của các xã hội trước và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.
Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị phụ thuộc, bị chi phối bởi phương
thức sản xuất thống trị. V.I. Lê Nin đã chỉ ra rằng ở các nước khác nhau đi lên
chủ nghĩa xã hội, số lượng các thành phần kinh tế tồn tại ở các nước đó không
giống nhau. Mặc dù có sự khác nhau về điều kiện lịch sử, điều kiện khách quan
và chủ quan, nhưng nhìn chung ở các nước này thường có ba thành phần kinh
tế cơ bản. Một là, kinh tế xã hội chủ nghĩa; Hai là, kinh tế tư bản chủ nghĩa; Ba
là, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ (Trần Kim Chung, 2004).
Tại Việt Nam, kinh tế nhà nước là tâm điểm của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Các hình thức sở hữu cơ bản hình thành nên các
15
thành phần kinh tế và phát triển cùng với nhận thức về vị trí, vai trò của các
hình thức sở hữu trong nền kinh tế. Nền kinh tế đã chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung bao cấp, dựa chủ yếu vào hai hình thức sở hữu với hai
thành phần kinh tế cơ bản là quốc doanh và tập thể, chuyển sang sản xuất hàng
hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nét chủ yếu
nhất, đồng thời cũng là một trong những kết quả quan trọng nhất của đường lối
đổi mới của Đảng, góp phần giải phóng sức sản xuất, khai thác khả năng tiềm
tàng của các nguồn lực, tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục

mạnh của vùng đó.
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu
vùng kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế
chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên
phạm vi cả nước. Mặt khác, việc phân bổ không gian lãnh thổ một cách hợp lý
có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên
lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu
tố hợp thành. Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan
hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc triệt tiêu
của một số ngành. Tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế
thường không đồng đều. Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là
sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch
cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới
tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới
hiện đại và phù hợp hơn.
Trong một nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể diễn ra một
cách tự phát hoặc có sự can thiệp của nhà nước hoặc kết hợp cả hai (Đinh Văn
Ân, Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2008).
1.1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự phát - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo mô hình hai khu vực của Lewis
Quá trình này diễn ra theo tín hiệu của thị trường, nhưng quyết định đầu
tư vào một ngành nào đó được thực hiện một cách tự phát và người đầu tư kỳ
vọng hoạt động của họ sẽ có lợi nhuận. Xu hướng này nhiều khi nằm ngoài tầm
kiểm soát của quản lý nhà nước. Đến khi hiệu quả thực tế không như mong đợi,
dòng đầu tư lại chảy vào các ngành khác. Một nguyên nhân của hiện tượng
chuyển dịch tự phát là do tồn tại của thông tin bất đối xứng và chậm phản ứng
của các chủ thể kinh tế, chủ thể quản lý. Sự xuất hiện của thông tin bất đối
17

kiện nhất định, nhiều biện pháp hỗ trợ, trợ cấp được thực hiện như ưu đãi thuế,
tín dụng Nhà nước có thể thực hiện biện pháp can thiệp trực tiếp, như sử
dụng tiềm lực kinh tế của mình (thông qua các doanh nghiệp nhà nước và đầu
tư ngân sách nhà nước) để thay đổi cơ cấu ngành.
18
Điểm khác nhau duy nhất giữa chuyển dịch có chủ đích và chuyển dịch
tự phát là nguồn lực có thể sẽ không đến được các ngành mà chủ thể kinh tế,
chủ thể quản lý khuyến khích, ưu tiên phát triển hay các ngành có ý nghĩa đối
với phát triển của quốc gia trong dài hạn. Trong điều kiện hiện nay, phần lớn
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở các nước là có chủ đích và chính phủ
can thiệp, điều chỉnh thông qua chính sách ngành, chính sách cơ cấu ngành,
chính sách đầu tư công v.v. Tuy vậy, chuyển dịch tự phát vẫn tồn tại ở bất kỳ
nền kinh tế nào (Đinh Văn Ân, Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2008).
Những đại diện tiêu biểu của lý thuyết “cực tăng trưởng” (A. Hirschman,
F. Perrons) cho rằng không thể và không nhất thiết đảm bảo tăng trưởng bền
vững bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia. Lý
thuyết này dựa căn bản trên một số luận điểm. Một là, việc phát triển không
cân đối sẽ tạo ra kích thích đầu tư. Nếu cung bằng cầu trong tất cả các ngành
thì sẽ triệt tiêu động lực đầu tư nâng cao năng lực sản xuất. Ðể phát triển được,
cần phải tập trung đầu tư vào một số ngành nhất định, tạo ra một "cú hích" thúc
đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tư trong các ngành khác theo kiểu lý thuyết số
nhân, từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế. Hai là, trong mỗi giai đoạn
phát triển, vai trò “cực tăng trưởng” của các ngành hoặc vùng trong nền kinh tế
là không giống nhau. Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốn khan hiếm)
cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định. Ba là, do trong thời
kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rất thiếu các
nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng bộ tất
cả các ngành hiện đại. Vì thế, phát triển không cân đối gần như là một sự lựa
chọn bắt buộc.
Cách đặt vấn đề phát triển một cơ cấu không cân đối và mở cửa ra bên

trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) rất thấp, và nhân tố sau cùng này
tác động mạnh đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hơn là yếu tố tỷ lệ đầu tư
thấp.
Giai đoạn 2 (giai đoạn công nghiệp hóa): có đặc điểm nổi bật là tầm
quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu
vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường sự dịch chuyển này là tầm quan
trọng của khu vực chế biến trong đóng góp và tăng trưởng kinh tế chung ngày
càng tăng lên. Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình
quân đầu người cao hơn hay thấp hơn, phụ thuộc vào yếu tố nguồn tài nguyên
sẵn có cũng như chính sách ngoại thương của các nước đó. Xét ở mặt cung, sự
đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích lũy tư bản vẫn được giữ ở mức cao
trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư.
1
Nguyễn Thị Hà, Một số lý thuyết về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
/>.
20
Giai đoạn 3 (nền kinh tế phát triển): Sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang
giai đoạn 3 có thể được hiểu theo nhiều cách. Nếu xét về mặt cầu, thì trong giai
đoạn này độ co giãn theo thu nhập của hàng công nghiệp chế biến đã giảm đi;
và ở một thời điểm nào đó, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu nhu
cầu nội địa bắt đầu giảm xuống. Mặc dù xu hướng này có thể bị lấn át ở một
giai đoạn nào đó bởi xuất khẩu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức cao, nhưng cuối
cùng nó đều được phản ảnh qua việc giảm sút tỷ trọng của khu vực công
nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động. Khu vực dịch
vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu
GDP cũng như cơ cấu lao động. Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả
các nước công nghiệp phát triển trong suốt 20 năm qua. Ở mặt cung, sự khác
biệt chủ yếu giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 là sự suy giảm trong đóng góp vào
tăng trưởng của cả hai nhân tố sản xuất tư bản và lao động theo cách tính qui
ước. Ðóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả

vùng. Như vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu sẽ liên quan trực tiếp đến chuyển
dịch nguồn lực cho tăng trưởng của các ngành. Nói cách khác, chuyển dịch
nguồn lực có tác động lớn tới chuyển dịch cơ cấu của các ngành.;
Bốn là, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế của
tỉnh tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bởi các ngành kinh tế chịu sự
chi phối thông qua việc khuyến khích hay hạn chế đầu tư, phát triển theo mục
đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
1.1.4.2. Các yếu tố bên ngoài địa bàn
Một là, sự thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội của cả nước cũng như các
nước khác, đặc biệt là các nước lớn sẽ tác động mạnh đến dòng hàng hóa trao
đổi giữa các nước, từ đó ảnh hưởng đến vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ
đến một tỉnh, do đó tỉnh phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp với
động thái chung của cả nước đồng thời đảm bảo lợi ích mình;
Hai là, xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh bởi có thể khai thác, trao đổi những thế mạnh
của nhau về nguồn nhân lực, vốn, kỹ thuật, công nghệ, Từ đó tạo điều kiện
cho địa phương chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hiệu quả;
Ba là, những thành tựu về khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin giúp cho việc trao đổi thông tin nhanh chóng, góp phần điều chỉnh
sản xuất, kinh doanh nhanh nhạy hơn, hiệu quả hơn. Điều này làm cho sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh phù hợp với thị trường hơn.
22
Bốn là, trong bối cảnh mở cửa và tự do hóa các quan hệ kinh tế, việc di
chuyển các nguồn lực từ con người, vốn tới tài nguyên thiên nhiên giữa các
tỉnh là một điều tất yếu, có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của một tỉnh cụ thể sẽ phụ thuộc vào không chỉ nguồn lực của
tỉnh đó mà còn phụ thuộc vào các tỉnh lân cận, thậm chí là các tỉnh ở xa nếu
như hình thành mối quan hệ về nguồn lực và thị trường giữa các tỉnh đó.
1.2. Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status