TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG THỊ
TRƯỜNG BẢO HIỂM
GVHD: TRẦN THU VÂN
NHÓM 6: NGUYỄN VIỆT QUỐC
PHẠM THẾ TÂM
NGUYỄN XUÂN DŨNG
ĐINH LƯƠNG THÀNH ĐẠT
HÀ THẾ TÀI
PHẠM THỊ THÚY LIÊM
I/. MỞ ĐẦU
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các các quốc gia nói
chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo
hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền
kinh tế, đảm bảo an sinh và công bằng của xã hội. Thực tế hoạt động kinh doanh
bảo hiểm đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm
năng phát triển trong tương lai. Thị trường bảo hiểm đang ngày càng được đa dạng
những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây
ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm
đó và nộp một khoản tiền được gọi là phí bảo hiểm”
2. Khái niệm: Thị trường bảo hiểm.
Thị trường bảo hiểm là nơi mua và bán các sản phẩm bảo hiểm, Sản phẩm
bảo hiểm (SPBH) là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt: là sản phẩm vô hình không thể
cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc… SPBH là sản phẩm không mong
được bảo hộ bản quyền, là sản phẩm người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm
xảy ra với mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm (trừ tiền bảo hiểm hưu
trí, bảo hiểm nhân thọ…)
Tham gia vào thị trường bảo hiểm có người mua, người bán và tổ chức trung
gian.
III/. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM – THỊ TRƯỜNG THẤT BẠI CẦN CÓ SỰ
CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ
1. Vì sao nhiều người lại lựa chọn mua bảo hiểm?
Trong thực tế, những người lựa chọn mua bảo hiểm là những người ghét rủi
ro. Họ muốn bảo đảm một cách an tòan cho lợi ích của mình khi quyết định tham
gia vào thị trường bảo hiểm. Ở đây ta có thể hiểu người ghét rủi ro là người luôn
lựa chọn công việc có thu nhập chắc chắn thay vì công việc rủi ro mang đến cho họ
cùng một mức thu nhập kỳ vọng.
Ví dụ sau sẽ cho ta thấy rõ hơn về vấn đề này.
Giả sử như chủ nhà xưởng có một khối lượng tài sản bao gồm các tài sản
hữu hình như máy móc, thiết bị, cơ sở… là 50.000USD. Cơ sở của ông ta chuyên
chuyên kinh doanh các sản phẩm sơn tường, một loại hình sản phẩm dễ gây cháy
nổ, và ông ta biết được xác suất tai nạn cháy nổ xảy ra là 10% và như vậy ông ta sẽ
mất đi cơ ngơi của mình. Trước tình thế này ông ta đứng trước một trong hai lựa
chọn là mua hoặc không mua bảo hiểm cho tài sản của mình. Nếu mua bảo hiểm
thì mức phí ông ta đóng sẽ là 10% bằng với mức rủi ro.
Bảo hiểm Tai nạn
trường hòan hảo, thông tin đầy đủ.
Về Phía chủ tài sản:
Có tài sản ban đầu là W
0
Khi rủi ro xảy ra với xác suất h thì tài sản còn lại sẽ là W
G
Như vậy rủi ro sẽ làm cho chủ nhân của nó mất đi một khỏan W
0
- W
G
Vấn đề đặt ra ở đây là chủ nhân của nó muốn có một mức bảo hiểm cho tài
sản của mình và không biết mức phí bảo hiểm sẽ là bao nhiêu?
Về phía các tổ chức bảo hiểm:
Họ hoạt động trong thị trường hòan hảo.
Mức phí bảo hiểm họ đưa ra là pX với p của tài sản cần đảm bảo và tiền chi
trả khi xảy ra rủi ro là k
Như vậy về cơ tổ chức báo hiểm khi cung cấp dịch vụ cho người chủ sẽ
nhận được mức thu nhập p và sẽ phải chi trả một khỏan kỳ vọng là hk khi tình
trạng xấu nhất xảy ra.
Mục tiêu về lợi nhuận hướng đến của việc cung cấp bảo hiểm sẽ là:
=pX-{(Xh + 0(1-h)}
Mà trong thị trường cạnh tranh hòan hảo thì lợi nhuận dài hạn của công ty
bảo hiêm là 0
=0
pX=Xh
Vậy: p=h
Từ kết quả trên ta thấy được trong thị trường hòan hảo các công ty bảo hiểm sẽ
thỏa dụng của họ sẽ là rất thấp, vô tình việc tăng phí đã loại bỏ những khách hàng
có khả năng mang đến thu nhập cao cho các công ty bảo hiểm. Khi những người
này rút khỏa thị trường thì số lượng khách hang của các công ty cung cấp bảo hiểm
y tế còn lại đa số là những người có khả năng mắc bệnh cao, và công ty bảo hiểm
lại phải chi trả một khỏan tiền lớn hơn sau khi gia tăng mức phí bảo hiểm. Vì vậy
có thể nói về cơ bản ở thị trường bảo hiểm y tế, các công ty tư nhân sẽ rất khó có
thể đảm đương.
Lật lại vấn đề trên, nếu như trên thị trường mọi người đều tham gia bảo hiểm
thì mức phí bảo hiểm lại rất rẻ, và đối tượng được bảo hiểm cũng rộng rãi hơn.
Nhưng hành động của con người là duy lý, nên điều này rất khó xảy ra nếu như
không có sự bắt buộc có hiệu quả cao, ở đây, chúng ta đang đề cập đến một cơ
quan có khả năng pháp lý bắt buộc mọi người tham gia bảo hiểm y tế một cách
rộng rãi vì lợi ích chung, đó là chính phủ.
b. Tâm lý hành xử tắc trách:
Đứng ở một góc độ nào đó thì những người được bảo hiểm thường thờ ơ với
tài sản của mình, vì như đã phân tích ở trên, dù rủi ro có xảy ra hay không thì tài
sản kỳ vọng của họ vẫn là không đổi. Quay trở lại với thị trường bảo hiểm y tế,
những người được bảo hiểm y tế thường không quan tâm đến sức khỏe của mình
nhiều, hoặc làm việc quá sức… vì họ tin rằng, khi bệnh tật đến với họ thì các chi
phí sẽ do công ty bảo hiểm chi trả. Chính vì sự thờ ơ này đã trực tiếp làm tăng xác
suất xảy ra bệnh tât, và như vậy thì lại làm cho mức phí bảo hiểm tăng lên, và các
công ty bảo hiểm lại phải đối mặt với vấn đề như vấn đề thông tin đã được đề cập
ở trên.
c. Vấn đề xã hội:
Theo dữ liệu của tổng cục thống kê Việt Nam vào năm 2010 thì cả nước có
xấp xỉ 10% dân số thuộc vào diện nghèo. Đây được xem là một bộ phận lớn dân
số. Những người này về cơ bản là những người đối diện nhiều với rủi ro hơn bộ
phận dân cư khác và họ khó lòng đương đầu với rủi ro của bản thân mình. Vẫn tiếp
gia thị trường bảo hiểm với một mức phí bằng với mức phí của mọi người nhưng
lại rất phù hợp với thu nhập của họ.
Vai trò của chính phủ trong thị trường bảo hiểm là vô cùng quan trọng. Bằng
các bịên pháp can thiệp hiệu quả, chính phủ đã góp phần đưa thị trường trở lại với
xu hướng vốn có của nó, giảm thiểu khuyết tật, và quan trọng chính là mang đến sự
công bằng cho xã hội, một mục tiêu mà Đảng và nhà nước ta luôn hướng đến.
IV/. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO MỘT SỐ LOẠI HÌNH
BẢO HIỂM CẦN CÓ SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM
1. Bảo hiểm xã hội.
a. Thành Tựu
Luật bảo hiểm xã hội (BHXH) hiện hành với 03 loại hình bảo hiểm, gồm
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, và bảo hiểm thất nghiệp đã tạo cơ hội cho
người lao động, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tăng nhanh cả về quy mô và tốc độ. Từ 4,8
triệu người năm 2001 tăng lên khoảng 9,4 triệu người năm 2009, chiếm 18% tổng
số lực lượng lao động. Nguồn thu quỹ BHXH bắt buộc tăng nhanh, từ 6.348 tỷ
đồng vào năm 2001 lên 36,8 nghìn tỷ đồng vào năm 2009. Tổng chi BHXH bắt
buộc cũng tăng nhanh, từ 1.856 tỷ đồng năm 2001 lên khoảng 54,9 nghìn tỷ đồng
trong năm 2009 (trong đó chi từ ngân sách Nhà nước là 26,8 nghìn tỷ đồng).
Sau một năm triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, số người tham gia đạt gần 50
nghìn người. Nguồn thu quỹ BHXH tự nguyện ước tính đạt 69,5 tỷ đồng và chi
khoảng 10,9 tỷ đồng năm 2009.
Năm 2009, có khoảng 9% dân số từ 50 tuổi trở lên sống bằng lương hưu.
Công tác quản l ý BHXH ngày càng đi vào nề nếp; công tác giám sát ngày càng
được tăng cường; mạng lưới thu-chi ngày càng mở rộng.
b) Tồn Tại
BHXH bắt buộc:
Tỷ lệ tham gia của lao động làm việc trong khu vực ngoài Nhà nước còn thấp.
sẽ tăng nhanh trong thời gian tới.
c) Đề hướng giải pháp.
Quản lý thống nhất các hoạt động BHXH trên phạm vi toàn quốc gia:
Dù hệ thống tổ chức và cách thức quản lý của các quốc gia có khác nhau, nhưng
việc các quốc gia đều có sự quản lý thống nhất các hoạt động BHXH. Việc quản lý
thống nhất thể hiện qua việc chỉ có Nhà nước mới ban hành chính sách vĩ mô định
hướng hoạt động của cả hệ thống BHXH. Nhà nước định ra các chế độ BHXH, các
nội dung cơ bản của BHXH; các chính sách BHXH đối với các nhóm đối tượng cụ
thể, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng gia đoạn phát
triển.
Thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH:
Song song với việc hoạch định chính sách BHXH, Nhà nước tổ chức các hoạt động
thanh tra BHXH. Để các hoạt động này đúng định hướng, với chức năng của mình,
Nhà nước thực hiện việc thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH theo
quy định của pháp luật, xử lý các khiếu kiện, các tranh chấp về BHXH theo luật
định.
Trong hoạt động BHXH có các bên liên quan như người lao động, người sử
dụng lao động với những lợi ích khác nhau và vì vậy thường có những sự lạm
dụng, lợi dụng pháp luật BHXH để trục lợi cho mình. Mặt khác, chính sách BHXH
là chính sách phát triển và phức tạp nên trong quá trình thực hiện cả người lao
động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH khó tránh khỏi những sai sót. Do
đó, thanh tra, kiểm tra các hoạt động BHXH là cần thiết nhằm đảm bảo cho các
bên liên quan thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, đồng thời đảm
bảo quyền lợi hợp pháp của họ.
Bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH.Bảo đảm giá trị của quỹ BHXH
trong các tài khoản tại ngân hàng để đảm bảo mức chi trả cho đối tượng hưởng
BHXH.
Bảo đảm các trợ cấp BHXH cho các đối tượng thụ hưởng BHXH trước
những biến động kinh tế- xã hội và chính trị.
Tham gia vào thị trường tài chính của quốc gia. Đây là một trong những chức
năng quan trọng của cơ quan BHXH. Bởi lẽ các quá trình thu và chi BHXH không
diễn ra song trùng và thông thường sự tồn tích của quỹ BHXH rất lớn. Nếu được
Nhà nước điều tiết thông qua các chính sách và công cụ tài chính, quỹ BHXH sẽ
góp phần rất lớn vào việc ổn định nền tài chính quốc gia
2. Bảo hiểm y tế.
a) Thành Tựu
Chính sách bảo hiểm y tế đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Nếu
năm 2001 mới có 16 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (trong đó 12 người tham
gia bảo hiểm y tế bắt buộc và khoảng 4 triệu người tham gia bảo hiểm y tế tự
nguyện), chiếm khoảng 20% dân số cả nước thì năm 2009 đã có 53,3 triệu người
tham gia bảo hiểm y tế, chiếm trên 60% dân số cả nước.Nhà nước đã thực hiện
chương trình cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho một số đối tượng.
Nguồn thu từ bảo hiểm y tế tăng nhanh do mở rộng đối tượng tham gia bảo
hiểm y tế và có sự điều chỉnh tăng lương của Nhà nước. Số thu bảo hiểm y tế năm
2001 là 1.151 tỷ đồng và năm 2009 ước tăng lên 13.610 tỷ đồng. Mạng lưới khám
chữa bệnh từ Trung ương đến địa phương đang từng bước được củng cố.
b) Tồn tại
Dấu hiệu già hóa dân số bắt đầu xuất hiện. Các dạng bệnh đòi hỏi chi phí
y tế cao có xu hướng gia tăng làm tăng các khoản chi cho bảo hiểm y tế dẫn đến sự
mất cân đối của quỹ bảo hiểm y tế. Nhận thức của người dân về lợi ích tham gia
bảo hiểm y tế chưa cao trong khi công tác quản l ý đối tượng tham gia bảo hiểm y
tế vẫn còn lỏng lẻo người dân chỉ mua bảo hiểm y tế khi đã biết mắc bệnh vẫn còn
nhiều là nguyên nhân khác kìm hãm khả năng tăng trưởng của quỹ bảo hiểm y tế
và nó triệt tiêu tính chia sẻ rủi ro về chi phí y tế giữa người bị ốm đau và người
không bị ốm đau. Hậu quả là quỹ bảo hiểm y tế khó bền vững Chất lượng chăm
sóc y tế còn thấp, nhất là ở dưới tuyến cơ sở, ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa. Chi phí cho y tế của hộ nghèo, các nhóm dễ bị tổn thương vượt quá khả năng
tài chính của hộ. Y tế cộng đồng bao gồm các biện pháp thúc đẩy lối sống lành
mạnh, bảo vệ môi trường trong sạch, phát triển y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe
bằng xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế vi mô tác giả Robert S.Pindyck và Daniell L.Rubìneld
2. Trang chủ bảo hiểm xã hội Việt Nam
3. Trang chủ bảo hiểm y tế Việt Nam
4. Bài giảng thị trừơng bảo hiểm của giảng viên Nguyễn Xuân Thành.