Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Đề tài tiểu luận:

GVHD : TS. Hay Sinh
NHÓM : IV
LỚP : Kinh tế vi mô Đêm 6 – K20


15 Trần Văn Trung 24/09/1983
16 Đặng Văn Út 25/05/1982

Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
3
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
Chương I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 6
1.1. Lý thuyết về thị trường chứng khoán 6
1.1.1. Khái niệm về thị trường chứng khoán 6
1.1.2. Thành phần tham gia thị trường chứng khoán 6
1.2. Vai trò của thông tin trên TTCK 7
1.3. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng 8
1.3.1. Các khái niệm về thông tin bất cân xứng 8
1.3.2. Hệ quả của thông tin bất cân xứng 9
1.3.2.1. Lựa chọn nghịch
9
1.3.2.2. Rủi ro đạo đức
9
1.3.3. Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư 10
1.3.4. Giải pháp lý thuyết hạn chế thông tin bất cân xứng 11
1.3.4.1. Phát tín hiệu:
11
1.3.4.2. Sàng lọc

trị thực của hàng hoá. Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng hoá
có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung
bình trên thị trường. Rốt cuộc trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu –
những “trái chanh” bỏ đi, hàng tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection)
cho cả hai bên. Ngày nay, tình trạng thông tin bất cân xứng ngày càng trở nên phổ biến và
trầm trọng hơn khi tính minh bạch, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin
yếu kém. Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng
quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại.
Trên thị trường chứng khoán, hiện tượng bất cân xứng xảy ra phổ biến như các doanh
nghiệp che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi; doanh nghiệp sau khi phát
hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà chỉ tập trung “làm giá”
trên thị trường chứng khoán; có sự rò rỉ thông tin nội gián; một số nhà đầu tư tạo cung cầu
ảo trên thị trường dẫn đến phản ánh sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số kẻ xấu tung tin
đồn thất thiệt cho doanh nghiệp; các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch; các
trung gian tài chính cung cấp, xử lý thông tin không chính xác…Tình trạng bất cân xứng về
thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư không chính xác, gây
cung cầu ảo, bong bóng thị trường và tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường.
Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như bất kỳ thị trường mới nổi nào trên thế
giới, đó là tình trạng thông tin bất cân xứng diễn ra hết sức phổ biến, phức tạp và hỗn độn.
Tính đến thời điểm cuối năm 2011, nhiều nhà đầu tư cá nhân đã thua lỗ hàng trăm triệu đến
bạc tỷ do mua cổ phiếu của các công ty lần đầu tiên lên sàn có giá bị đẩy lên quá cao. Tiếp
theo là sự bất thường trong hàng loạt các cuộc đấu giá cổ phiếu khi sự chênh lệch giữa các
mức đấu giá thành công quá cao khiến nhiều nhà đầu tư muốn bỏ tiền đặt cọc chạy lấy
người. Đây sẽ không phải là những trường hợp cá biệt mà có thể trở thành một làn sóng làm
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
5


Về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi,
mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán; qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng
khoán. Như vậy, ở đâu có giao dịch mua bán chứng khoán thì đó là hoạt động của thị trường
chứng khoán. Tuy nhiên, đó có thể là thị trường chứng khoán có tổ chức hoặc không có tổ
chức, tập trung hay không tập trung.
Thị trường tập trung là các Sở giao dịch chứng khoán hay Trung tâm giao dịch chứng
khóan. Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các
lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên
giá giao dịch.
Thị trường chứng khoán phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter).
Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán
phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này
được hình thành theo phương thức thỏa thuận (Nguồn: Công ty chứng khoán ngân hàng
ngoại thương).
1.1.2. Thành phần tham gia thị trường chứng khoán
Thành phần tham gia thị trường chứng khoán có 6 thành phần như sau: Các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư riêng lẻ, các tổ chức tài chính, nhà môi giới kinh doanh chứng khoán,
người tổ chức thị trường và Nhà nước.
Các doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là chủ thể tạo ra hàng hóa để cung
cấp cho thị trường. Các doanh nghiệp này cũng có thể được gọi là các công ty niêm yết hay
nhà phát hành theo cách gọi thông thường. Ngoài chức năng chính tạo ra hàng hóa (cổ
phiếu) để huy động vốn, các doanh nghiệp cũng có thể mua đi bán lại các chứng khoán do
các công ty khác phát hành.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
7
của nhà đầu tư đầu tư vào những công ty có tiềm năng phát triển nhất.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
8
Hoạt động hiệu quả khi các chi phí giao dịch trong thị trường được quyết định theo
quy luật cạnh tranh. Chi phí giao dịch hiệu quả là chi phí mà nhà đầu tư trả cho các nhà môi
giới có sự cạnh tranh lẫn nhau và chi phí này được xem là chi phí bình thường mà nhà đầu tư
phải bỏ ra.
Thông tin hiệu quả khi giá giao dịch phản ảnh đầy đủ và tức thời các thông tin có ảnh
hưởng tới thị trường.
Để đánh giá được vai trò của thông tin, chúng ta hãy xem xét hành vi mua bán cổ
phiếu của nhà đầu tư trên thị trường theo phương pháp của Kendall, theo Ông các nhà đầu tư
sẽ tìm cách mua khi giá có khuynh hướng tăng và bán khi giá có khuynh hướng giảm. Thực
tế, khi nhà đầu tư dự đoán giá có khuynh hướng tăng thì ngay lập tức giá chứng khoán trên
thị trường sẽ tăng. Vì vậy giá chứng khoán sẽ phản ứng ngay lập tức khi có thông tin dự
đoán giá sẽ tăng và ngược lại đối với trường hợp dự đoán giá sẽ giảm.
Như vậy, thông tin là một trong ba yếu tố cấu thành để làm nên một thị trường chứng
khoán hiệu quả. Trong đó thông tin có vai trò quyết định đến giá chứng khoán trên thị
trường. Thị trường có thông tin minh bạch và đầy đủ sẽ hình thành nên giá chứng khoán hợp
lý và tạo được niềm tin của công chúng vào thị trường chứng khoán.
1.3. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng
1.3.1. Các khái niệm về thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào
những năm 1970 và đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng
sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael

đó đẩy người mua đến hai con đường: hoặc là chọn mặt hàng thay thế, hoặc là tìm
cách có thêm thông tin về hàng hóa đó ( mua thông tin, thuê chuyên gia thẩm định…).
Tuy nhiên, việc làm này tăng chi phí giao dịch mà người mua phải trả thêm. Những
yếu tố này làm giảm nhu cầu của người mua và kết quả là trên những thị trường như
thế, doanh số giao dịch sẽ không cao.
Chẳng hạn như, trên thị trường tín dụng, người cho vay thường không thể nắm
bắt đầy đủ thông tin về người vay tiền nên sẽ tính một mức lãi suất cho vay có phần bù
rủi ro. Những dự án kinh doanh có rủi ro thấp, lợi nhuận sẽ không đủ trả lãi, chỉ còn
lại những dự án rủi ro cao mới có thể chấp nhận vay mức lãi suất cao. Chính vì tình
trạng thông tin không cân xứng về dự án kinh doanh giữa người cho vay và người đi
vay, nên cuối cùng người cho vay chỉ toàn cho vay những dự án có rủi ro cao hoặc sẽ
không chấp nhận cho vay. Điều này đương nhiên sẽ thu hẹp thị trường tín dụng. Khi
đó, người cho vay đã thực hiện một lựa chọn đối nghịch thay vì cho vay những khách
hàng có mức tín nhiệm cao thì họ lại chọn những khách hàng có mức tín nhiệm thấp
vay.
1.3.2.2. Rủi ro đạo đức
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
10
Rủi ro đạo đức là hậu quả của thông tin không cân xứng. Khác với lựa chọn
đối nghịch, rủi ro đạo đức xuất hiện sau các cuộc giao dịch khi một bên thực hiện
những hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối tác.
Rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau đây:
 Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu. Một bên tham gia giao dịch
không thể giám sát hành động của phía bên kia.

Trang
11
Thông tin bất cân xứng còn có thể khiến một bên đối tác có thể rời bỏ thị trường,
nguyên nhân là do nhà đầu tư ít thông tin nên sẽ chịu chi phí kỳ vọng cao hơn chi phí kỳ
vọng thị trường, do đó không nhiều thì ít, các đối tượng này sẽ là đối tượng rời bỏ thị trường
trước tiên.
1.3.4. Giải pháp lý thuyết hạn chế thông tin bất cân xứng
Trong nhiều lĩnh vực xuất hiện thông tin bất cân xứng thì các giải pháp thường được
áp dụng chung để hạn chế mức độ thông tin bất cân xứng là cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng
lọc và cơ chế giám sát.
1.3.4.1. Phát tín hiệu:
Đối với thị trường tài chính, để giao dịch được hiệu quả thì người đi vay có thể
vay được vốn với chi phí thấp, người cho vay chắc chắn khả năng thu hồi được nợ hay
người cho vay và đi vay phải nắm rõ quyền lợi và trách nhiệm của riêng mình. Thông
thường người đi vay là người nắm rõ thông tin về mình nhất thế nên họ sẽ được lợi
nhiều hơn trong giao dịch. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ không dễ dàng cho vay nếu như
họ không biết rõ về khách hàng của mình. Thế nên, người đi vay phải phát tín hiệu
rằng mình là người có khả năng trả được nợ tốt. Vấn đề phát tín hiệu trong trường hợp
này là: Uy tín của công ty, qui mô và danh tiếng công ty, năng lực tài chính, tài sản
đảm bảo v.v , ngược lại ngân hàng cũng phải phát tín hiệu để người đi vay thực hiện
trách nhiệm của mình trong hợp đồng vay như cơ chế xử lý tài sản, lãi suất cho vay
…Cũng giống như thị trường tài chính, nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của một công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán, ít nhiều họ cũng cần biết công ty đó hoạt động
ra sao, sản xuất cái gì vv. Vì thế công ty muốn nâng cao vị thế, bán cổ phiếu với giá
cao và hợp lý, nó phải cho nhà đầu tư thấy được danh tiếng, hiệu quả hoạt động và
tiềm năng phát triển của nó.
1.3.4.2. Sàng lọc

biết số tiền đó được sử dụng như thế nào.
Chương II
THỰC TRẠNG THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC BÊN THAM GIA
2.1. Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1. Thị trường Chứng khoán Việt Nam ra đời từ khi nào?
Nhằm đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, ngày 11-7-1998 Chính
phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
13
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời. Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành
lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội. Việc chuẩn bị cho
TTCKVN thực ra đã do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày
28-11-1996.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (gọi tắt là TTGDCK TP.HCM) được
thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt
động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000. Trung tâm Giao dịch chứng
khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đời vào ngày 8/3/2005. Khác với TTGDCK
trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt và điều chỉnh mạnh vào 5
tháng giữa năm, tiếp đến là một đợt phục hồi trước khi đi vào thoái trào trong 4 tháng cuối
năm.
Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại
năm 2008 với sự sụt giảm mạnh: Index giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh
(nhiều mã CP rơi xuống dưới mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại,
sự can thiệp của các cơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT.
Giai đoạn 2009: giai đoạn của suy giảm tận đáy để sau đó hồi phục ngoạn mục: Đầu
năm 2009 do ảnh hưởng của tình hình chung trên toàn thế giới, chỉ số ck Việt Nam giảm
mạnh. Tuy nhiên sau đó, nhờ sự can thiệp và hỗ trợ của chính phủ, TTCK Việt Nam vào
cuối năm 2009 đã phục hồi đáng kể.
Giai đoạn 2011 : giai đoạn của những kỷ lục: Kỷ lục về giá trị huy động vốn, tăng
gấp 3 lần so với năm 2009, cũng như kỷ lục về việc thoái vốn của quỹ đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, là kỷ lục về sự thay đổi trong cơ chế quản lý cũng như cơ chế giao dịch của thị
trường thể hiện bằng những quy định, thông tư 13, luật chứng khoán…
2.1.3. Định hướng phát triển TTCK Việt Nam trong 10 năm tới
Trong 10 năm tới, TTCK Việt Nam đặt các mục tiêu phát triển như sau:
Một là, phát triển thị trường chứng khoán phải dựa trên chuẩn mực chung của thị
trường và các thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước, tích cực hội nhập với thị trường tài chính khu vực và
quốc tế.
Hai là, phát triển TTCK đồng bộ, toàn diện, hoạt động hiệu quả, vận hành an toàn,
lành mạnh, vừa góp phần huy động vốn cho đầu tư phát triển của xã hội vừa tạo ra những cơ
hội đầu tư sinh lợi, góp phần nâng cao mức sống và an sinh xã hội.
Ba là, phát triển TTCK nhiều cấp độ, bảo đảm chứng khoán được tổ chức giao dịch
theo nguyên tắc thị trường, có sự quản lý, giám sát của Nhà nước; bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp và có chính sách khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
Bốn là, đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ của thị trường, đảm bảo cho các tổ chức

thực trạng nữa là đối với các công ty chào bán lần đầu ra công chúng thực hiện đấu giá tại cơ
sở, Ban giám đốc công ty có xu hướng che giấu các thông tin để “dìm giá“ sao cho những
người nội bộ công ty có thể mua được cổ phiếu với giá thấp.
Thứ hai, có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai. Sự rò rỉ
thông tin phổ biến trong công tác đấu giá cổ phiếu. Hiện nay, quy chế đấu giá do UBCK ban
hành chỉ yêu cầu các Trung tâm giao dịch chứng khoán công bố tổng số nhà đầu tư tham gia
đấu giá và tổng lượng CP đặt mua, trong khi những thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến việc
đặt giá như số lượng nhà đầu tư tổ chức/nhà đầu tư nước ngoài tham gia đấu giá; số lượng
CP đặt mua của các đối tượng này, lại không được công bố cụ thể. Điều đáng nói là, những
thông tin này không được bảo mật chặt chẽ mà được cung cấp một cách riêng lẻ cho những
đối tượng có nhu cầu. Những người nắm được cụ thể, chi tiết về tổng cầu cổ phiếu của thị
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
16
trường, các cá nhân tổ chức nào tham gia đấu giá sẽ tính toán được hợp lý mức giá mà mình
bỏ thầu, qua đó chiếm lợi thế so với các nhà đầu tư khác không có thông tin.
Thứ ba, doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư: ưu
tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà không
công bố rộng rãi.
Thứ tư là hiện tượng lừa đảo. Đây không phải là hiện tượng phổ biến trên thị trường
chứng khoán Việt Nam nhưng rất đáng cảnh báo các nhà đầu tư nghiệp dư, đặc biệt những
người không có kiến thức về chứng khoán và kinh tế lại có tham vọng làm giàu bằng kinh
doanh chứng khoán. Báo Vnexpress đăng tin, một số cá nhân đã lừa đảo bán cổ phiếu giả
cho những nhà đầu tư nhẹ dạ ở Hải Phòng để thu được gần 800 tỷ đồng. Tiếp đó là vụ lừa
đảo hàng chục tỷ đồng, lợi dụng lòng tin của những người chơi chứng khoán nhỏ lẻ để ôm

báo cáo tài chính quý, sáu tháng và báo cáo tài chính năm, báo cáo thường niên. Mặc dù
các báo cáo này bắt buộc phải công bố trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có báo cáo,
nhưng đa số các công ty hiện nay công bố vẫn còn chậm hơn so với qui định. Sự việc
chậm trễ này là do các công ty chưa tạo được thói quen (thị trường chứng khoán còn
mới mẻ) và chưa nhận thức được quyền lợi và trách nhiệm của việc công bố thông tin. Từ
trước đến nay các thông tin tài chính được xem là bí mật của công ty nên các doanh nghiệp
rất ngại công bố các thông tin này.
Thứ hai, thông tin bất thường: Đây là những thông tin bắt buộc công bố trong
vòng 24 giờ hoặc 72 giờ tùy theo nội dung thông tin như tài khoản của công ty tại ngân
hàng bị phong toả hoặc tài khoản được phép hoạt động trở lại sau khi bị
phong toả; Tạm
ngừng kinh doanh; Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hoặc Giấy phép
thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động; Quyết định vay hoặc phát hành trái
phiếu có giá trị từ ba mươi phần trăm (30%) vốn thực có trở lên; Quyết định của Hội
đồng quản trị về chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng
năm của công ty; Quyết định thay đổi phương pháp kế toán áp dụng; vv… Nhìn chung
các thông tin bất thường này chưa phổ biến tại thị trường chứng khoán Việt Nam nói
chung và TP.HCM nói riêng nên thời gian vừa qua rất ít thấy các công ty niêm yết vi phạm
qui định này.
Thứ ba, công bố thông tin theo yêu cầu: là thông tin liên quan đến công ty đại chúng
ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; có thông tin liên quan đến
công ty đại chúng ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó.
Các thông tin trên đây bắt buộc phải công bố trong vòng 24 giờ. Đây là phần công bố
thông tin mà các công ty niêm yết thường xuyên vi phạm qui định hoặc lơ là không công
bố. Lý do là các qui định công bố về lĩnh vực này chưa được rõ ràng vẫn còn chung
chung nên công ty niêm yết thường hay tránh né. Bên cạnh đó, các công ty niêm yết rất
ngại công bố những thông tin nếu như nó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty nói chung và ảnh hưởng đến lợi ích của một số người chủ chốt nói riêng. Điển
hình trường hợp Công ty cổ phần cao su Tây Ninh (mã CK: TRC) giải thích trễ 4 tháng về

GIẢI PHÁP
Dựa vào thực trạng những gì đang diễn ra, thiết nghĩ những nhà quản lý thị trường cần
phải quan tâm và thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, cần phải cải thiện tính minh bạch của thông tin được công bố ở hai phía:
công ty niêm yết và cơ quan quản lý. Nâng cao tính minh bạch thông tin được xem là nội
dung quan trọng hàng đầu để gia tăng tính hiệu quả cho TTCK Việt Nam. Hiện nay các công
ty niêm yết không nhất quán trong việc công bố thông tin khiến cho các công ty khác không
muốn thực hiện. Về phía cơ quan quản lý cần có những biện pháp chặt chẽ hơn trong việc
quản lý việc công bố thông tin để nhà đầu tư thấy được tính chuyên nghiệp và có niềm tin
khi đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Trước tiên, tập trung xây dựng và phát triển hệ thống công bố thông tin dựa trên nguồn
lực công nghệ thông tin ở trong nước, ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế và xây
dựng từng phần hệ thống công bố thông tin số hóa. Việc xây dựng từng phần này trước hết
sẽ tập trung vào giải quyết những khâu mất nhiều thời gian nhất hiện nay trong quy trình
công bố thông tin. Đồng thời, việc thiết kế cũng đảm bảo tính mở, nghĩa là có thể điều chỉnh
để đáp ứng những yêu cầu mới. Trong thời gian trước mắt, nên bắt đầu việc xây dựng hệ
thống kết nối trực tuyến giữa sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức niêm yết chứng
khoán, các công ty chứng khoán, vì đây là một trong những khâu tốn thời gian xử lý văn bản
nhất.
Ngoài ra, cần thành lập tổ chức định mức tín nhiệm để đánh giá mức độ tín nhiệm của
tổ chức phát hành chứng khoán nói chung và các tổ chức có chứng khoán niêm yết trên sở
giao dịch chứng khoán nói riêng. Tổ chức định mức tín nhiệm sẽ cung cấp cho thị trường và
các nhà đầu tư một hệ thống xếp hạng các công cụ tài chính trên thị trường. Từ đó, sẽ giúp
cho các nhà đầu tư có thêm nguồn cung cấp thông tin làm cơ sở để so sánh, đối chiếu trước
khi thực hiện quyết định đầu tư. Bên cạnh đó, việc thành lập tổ chức định mức tín nhiệm sẽ
hỗ trợ tích cực cho nghiệp vụ tư vấn đầu tư của các công ty chứng khoán.
Thứ hai, cần nâng cao vai trò của cơ quan giám sát thị trường chứng khoán. Cơ quan
quản lý nhà nước, sở giao dịch chứng khoán và các định chế trung gian (công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ,…) tạo nên hệ thống giám sát gồm ba tầng theo hàng dọc. Trong
đó, sở giao dịch chứng khoán sẽ theo dõi các công ty chứng khoán thành viên, công ty niêm

08/3/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán; - Nghị định 85/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán; Thông tư 09/2010/TT-BTC
ngày 15/01/2010 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán…)

Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
21
KẾT LUẬN
Minh bạch thông tin là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp thị trường chứng
khoán phát triển. Với tư cách là một người chủ sở hữu của doanh nghiệp, cổ đông của công
ty hoàn toàn được quyền biết rõ tình trạng doanh nghiệp của mình. Khi các doanh nghiệp
này đã được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thì câu chuyện minh bạch thông tin
doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những người chủ sở hữu mà còn là chuyện của những
nhà đầu tư. Doanh nghiệp niêm yết phải có trách nhiệm công bố thông tin một cách rõ ràng
minh bạch theo đúng pháp luật để cho các nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn. Tuy
nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng làm được như vậy.
Hàng loạt những bất cập của thị trường chứng khoán đã được phát hiện từ lâu nhưng
chưa được tháo gỡ. Một yếu tố gây mất lòng tin nhà đầu tư là các vi phạm như giao dịch nội
gián, làm giá chứng khoán, vi phạm công bố thông tin… ít được phát hiện và nếu có thì xử
lý theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”… Nhiều DN ép cổ đông góp vốn song sử dụng vốn kém
hiệu quả, vừa pha loãng thị trường, vừa lãng phí đồng vốn.
Các thống kê cho thấy hiện tượng bất cân xứng thông tin của các nhà đầu tư chứng
khoán tổ chức và cá nhân ngày càng gia tăng. Chính vì thế mà các tin đồn xuất hiện ngày
càng nhiều và công khai hơn trên TTCK Việt Nam. Kết quả là hàng loạt cổ phiếu được làm

Chứng khoán Bảo Việt (BVH), Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai (DLG), Công ty CP
Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PVD)…
Thị trường chứng khoán hoạt động dựa trên niềm tin của các nhà đầu tư. Một khi niềm
tin được củng cố và duy trì, thị trường sẽ phát triển một cách bền vững. Hoạt động quan hệ
nhà đầu tư bao gồm cả việc công bố thông tin sẽ là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà
đầu tư, giúp cho việc truyền tải thông tin giữa hai đối tượng hiệu quả hơn nhằm nuôi dưỡng
và duy trì niềm tin của các cổ đông và nhà đầu tư. Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhóm 4

Trang
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status