Lời mở đầu
Nền kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng
đổi mới, các thành phần kinh tế cũng trở nên đa dạng và hoạt động có hiệu quả
hơn. Mục tiêu tăng trởng kinh tế của nớc ta năm 2005 là thực hiện cổ phần hoá
thành công hơn 2000 doanh nghiệp Nhà nớc, nhằm tạo nên một môi trờng bình
đẳng để các doanh nghiệp phát triển. Đồng thời, Đảng và Nhà nớc cũng đa ra một
loạt chính sách khuyến khích đầu t trong và ngoài nớc để hỗ trợ phần nào cho các
doanh nghiệp trong quá trình tiến tới hội nhập AFTA cũng nh hoà nhập với nền
kinh tế thế giới.
Đợc hình thành từ dự án mở rộng sản xuất của Tổng Công ty điện tử Hanel,
ngay từ giai đoạn mới hình thành, Công ty cổ phần Hanel xốp nhựa đã nhận đợc sự
hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nớc và đặc biệt là Tổng Công ty Hanel. Với hơn 40%
vốn điều lệ là do sự góp vốn của cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty Hanel,
Công ty đã làm hài lòng các cổ đông bởi kết quả kinh doanh liên tục có lãi trong 8
năm liên tiếp. Đồng thời, các sản phẩm của Công ty đã chiếm lĩnh đợc thị trờng
xốp nhựa, xốp chèn và mục tiêu đặt ra trong năm 2005 là tham gia thành công trên
thị trờng chứng khoán.
Để có đợc sự thành công nh vậy, Công ty đã kết hợp rất nhiều quyết định tài
chính, trong đó có sự thành công của chính sách cổ tức. Trong khi rất nhiều công
ty cổ phần còn lúng túng trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế thì Công ty đã
xây dựng một chính sách cổ tức khá hoàn chỉnh và cụ thể, vừa đảm bảo lợi ích cho
các cổ đông, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của Công ty trong tơng lai.
Tuy nhiên, để phù hợp với nhu cầu phát triển cuả nền kinh tế, Công ty cũng
phải hớng tới một chính sách cổ tức hoàn thiện hơn. Chính vì vậy, em xin đợc
chọn đề tài: Hoàn thiện chính sách cổ tức tại Công ty cổ phần Hanel xốp nhựa
với hi vọng qua thời gian thực tập tại Công ty có thể giúp em nâng cao hiểu biết,
góp phần hoàn thiện hơn những kiến thức đã đợc nghiên cứu tại giảng đờng Đại
học.
Ngoài mục lục, kết luận và danh mục tham khảo, nội dung chuyên đề gồm có
là pháp nhân độc lập, có năng lực pháp lý, một loại hình tổ chức công ty góp cổ
phần ổn định, vốn cổ phần trở thành đầu t dài hạn, cổ phiếu chỉ có thể chuyển nh-
ợng mà không đợc rút vốn, lợi tức cổ phiếu đợc trả theo định kỳ, thị trờng buôn
bán chuyển nhợng cổ phiếu cũng bắt đầu xuất hiện- tiền thân của thị trờng chứng
khoán.
Từ thế kỷ thứ 18 đến nửa cuối thế kỷ 19 loại hình công ty cổ phần đã đợc
phát triển nhanh chóng ở Pháp, Đức, Mỹ không những chỉ kinh doanh thơng mại
mà còn ở các ngành ngân hàng, giao thông vận tải , xây dựng đờng sắt, các ngành
chế tạo cơ khí, khai thác mỏ, sự nghiệp công cộng và bảo hiểm ở các nớc t bản
phát triển, về sau xuất hiện ở các nơi trên thế giới.
Gần 400 năm đã trôi qua kể từ ngày công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra
đời năm 1600 ở nớc Anh. Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản
3xuất lúc bấy giờ đòi hỏi một số ngành phải thành lập những doanh nghiệp mà số
vốn để hoạt động vợt quá số vốn riêng lẻ của từng doanh nghiệp t nhân. Ngay cả
số vốn mà t nhân đi vay cũng không thể đáp ứng đợc vì những doanh nghiệp này
phải sau một thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh dài mới có thể đem lại một
lợng lợi nhuận tối đa. Trong khi đó ở từng cá nhân trong xã hội vẫn luôn có những
khoản tiền nhàn rỗi ngắn hạn và dài hạn. Sự tồn tại khách quan đó đã giúp các nhà
doanh nghiệp giải quyết đợc mâu thuẫn về tiền vốn bằng một hình thức sáng tạo
là thành lập các công ty cổ phần mà Mác đã chỉ rõ: "...Ngay trong buổi đầu của
nền sản xuất đã đòi hỏi một số t bản tối thiểu mà lúc bấy giờ từng cá nhân riêng lẻ
cha thể có đợc. Tình hình đó một mặt dẫn đến việc Nhà nớc phải trợ cấp cho
những t nhân nh ở Pháp dới thời Côn- Be, nh một số công quốc ở Đức cho tới
ngày nay. Mặt khác, nó dẫn đến việc thành lập những hội nắm giữ độc quyền do
pháp luật thừa nhận để kinh doanh trong những ngành công nghiệp thơng nghiệp
nhất định. Đó là tiền thân của những công ty cổ phần hiện đại..."
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần:
1. Công ty cổ phần phải do nhiều ngời thành lập (tối thiểu là 3)
2. Các hội viên đa vốn của mình ra và góp vốn chung lại để kinh doanh. Đó
là vốn của các thành viên góp, không thể chuyển thành tài sản sở hữu chung của
các thành viên, song quyền sở hữu cá nhân của vốn góp không thay đổi. Có nghĩa
là công ty cổ phần trở thành ngời đi vay đặc biệt của các thành viên, còn các thành
viên lại trở thành ngời cho vay đối với công ty cổ phần. Nh vậy quyền sử dụng vốn
của các thành viên cũng không còn nữa. Vậy ai là ngời đợc sử dụng vốn chung đó?
Ngời này là một chủ thể đợc lập ra theo khế ớc thành lập công ty cổ phần, đó là
pháp nhân công ty, cho nên công ty cổ phần phải đợc pháp luật thừa nhận thì mới
có t cách là một pháp nhân. Tổng số vốn của công ty chia đều cho từng cổ phần có
mức tiền bằng nhau, cổ đông bỏ nhiều vốn sẽ chiếm nhiều cổ phiếu nhng không
thể tăng riêng lẻ mức tiền vốn của từng cổ phiếu.
4. Mục đích của việc thành lập công ty cổ phần là để thu lợi nhuận và chia
cho các cổ đông. Cổ đông của công ty bất kể họ là ai đều phải có trách nhiệm đối
với công ty, không thể trả cổ phiếu nhằm bảo đảm ổn định vốn của công ty.
Đây là những nội dung cơ bản gắn liền với công ty cổ phần, từ lúc hình
thành, phát triển cho đến khi giải thể. Ngoài ra, cũng nh các thành phần kinh tế
5khác, công ty cổ phần cũng có những đặc điểm chung tơng tự nh các công ty trách
nhiệm hữu hạn và những đặc trng riêng của loại hình công ty cổ phần.
1.1.2 Đặc điểm của Công ty cổ phần
Mô hình tổ chức các doanh nghiệp dới dạng công ty có một lịch sử phát triển
lâu dài đi từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô
lớn, từ giản đơn đến phức tạp, từ một ngời sở hữu đến nhiều ngời sở hữu, từ công
ty hợp doanh đến Công ty hợp vốn, từ Công ty trách nhiệm vô hạn đến công ty
trách nhiệm hữu hạn, từ công ty quốc gia đến công ty đa quốc gia. Công ty cổ
phần là một doanh nghiệp đợc thành lập theo đúng pháp luật của nhà nớc, nhà nớc
phê duyệt điều lệ hoạt động của công ty, đó là tài liệu pháp lý mà nhà nớc cho
nhóm ngời có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau thì công ty cổ phần lại đợc coi là có
tính "mở"- thể hiện ở việc nó có thể bán cổ phần của mình cho cả nhà đầu t mà
thậm chí không mấy quan tâm đến công ty. Qua nghiên cứu, một số ngời cho rằng
lý do khiến các nhà đầu t lựa chọn loại hình công ty cổ phần là: thứ nhất, các nhà
đầu t không phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty, do đó,
công ty có thể đầu t vào ngành nghề kinh doanh mang tính rủi ro cao nh ngành sản
xuất, chế biến; thứ hai, nhà đầu t có thể chỉ đơn thuần là ngời góp vốn, không phải
chịu trách nhiệm vô hạn, không cần phải tham gia quản lý, điều hành công ty,
đồng thời dễ dàng rút lui khỏi hoạt động kinh doanh bằng việc chuyển nhợng phần
vốn góp của mình một cách tự do.
Mặc dù những đặc trng của công ty cổ phần đã thể hiện những lợi thế, song
bên cạnh đó, công ty cổ phần cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho những ngời
tham gia góp vốn và ngời quản lý công ty hay mua bán cổ phiếu, thậm chí có thể
gây ra những rủi ro cho nền kinh tế nếu nh việc sử dụng các phơng tiện tài chính
mạnh mẽ này không nhằm vào mục đích chung.
* Các công ty cổ phần ở Việt Nam:
Nớc ta do ảnh hởng của nền kinh tế Liên Xô và Đông Âu xây dựng theo một
mô hình tổ chức quản lý thống nhất từ Trung ơng tới cơ sở doanh nghiệp với cơ
chế gắn chặt bộ máy của Đảng, đoàn thể quần chúng và Nhà nớc (ngời ta thờng
gọi là "bộ tứ"), lấy tinh thần làm chủ tập thể trên cơ sở động viên chính trị làm
chính. Do vậy bộ máy điều hành từ Trung ơng đến các doanh nghiệp trên cơ sở kế
hoạch hoá tập trung bao cấp, lao động đợc coi là có tính chất xã hội trực tiếp, Nhà
nớc thu tất cả và chi tất cả. Với các tiền đề trên, mỗi doanh nghiệp quốc doanh có
7nhiệm vụ sản xuất đợc chuyên môn hoá theo ngành kinh tế - kỹ thuật; Giám đốc
chỉ biết điều hành sản xuất và lo giao nộp sản phẩm đúng số lợng và thời gian quy
định, không cần biết các sản phẩm đó đợc tiêu thụ ra sao (việc tiêu thụ hàng hoá
trong nớc là do các công ty thơng nghiệp, hoặc công ty vật t... đảm nhiệm; còn
Công ty cổ phần cũng có thể có cổ phần u đãi; ngời sở hữu cổ phần u đãi gọi
là cổ đông u đãi.
Cổ phần u đãi gồm có:
Cổ phần u đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết
nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, do điều lệ công ty quy
định.
Cổ phần u đãi cổ tức là cổ phần đợc trả cổ tức với mức cao
hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn
định hàng năm.
Cổ phần u đãi hoàn lại là cổ phần sẽ đợc công ty hoàn lại
vốn góp bất kỳ khi nào theo yêu cầu của ngời sở hữu hoặc
theo các điều kiện đợc ghi lại tại cổ phiếu của cổ phần u đãi
hoàn lại.
Cổ phần u đãi khác do công ty quy định.
Sở dĩ phải nghiên cứu các loại cổ phần bởi vì khi phân chia cổ tức, hội đồng
quản trị của công ty cổ phần luôn luôn phải đảm bảo lợi ích của các cổ đông đặc
biệt, tức là những cổ đông đang nắm giữ những cổ phần u đãi. Họ có thể là cổ
đông sáng lập, hoặc là những cổ đông có vai trò đặc biệt quan trọng mà công ty
cần phải giữ mối quan hệ, do đó, mặc dù số lợng cổ đông này không nhiều, song
họ cũng là những thành phần không thể thiếu khi nói đến công ty cổ phần.
* Cổ phiếu:
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối
với thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần.
Cổ phiếu đợc chia thành 2 loại cơ bản là cổ phiếu thờng và cổ phiếu u đãi, t-
ơng ứng với cổ phần phổ thông và cổ phần u đãi.
Cổ phiếu thờng là cổ phiếu mà ngời sở hữu có thể tham gia Đại hội cổ đông
của Công ty cổ phần và đợc hởng lợi tức cổ phần theo nguyên tắc " Lời ăn lỗ chịu"
9 Cổ phiếu u đãi về kinh tế (cổ tức, hoàn lại) thờng dành cho
những cổ đông có nhiều cống hiến và làm việc lâu năm ở
công ty, có thể đã nghỉ hu, nh đợc u tiên hoàn vốn trớc cổ
đông thờng hoặc có thể đợc chia lãi theo tỷ lệ cố định theo
điều lệ quy định.
Ngoài 2 loại cổ phiếu trên, các công ty cổ phần còn có một loại cổ phiếu quỹ,
đây là loại cổ phiếu của chính công ty đã phát hành và đợc công ty mua lại bằng
nguồn vốn hợp pháp theo quy định.
* Cổ tức:
Cổ tức là số tiền hàng năm đợc trích từ lợi nhuận của công ty để trả cho mỗi
cổ phần mà các cổ đông đang nắm giữ, phần lợi nhuận này phải tơng ứng với số l-
ợng cổ phần mà họ đang có.
Theo lý thuyết, cổ tức đợc coi là khoản lãi chia cho mỗi cổ phần hàng năm
dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Cổ tức theo đó là tỷ lệ phần trăm
tính trên mệnh giá cổ phiếu. ở đây, cần phân biệt thị giá cổ phiếu là giá trị thị tr-
ờng của mỗi cổ phiếu có thể trao đổi trên thị trờng chứng khoán tại thời điểm nhất
định. Hay nói cách khác, thị giá cổ phiếu là giá có thể bán hoặc mua trên thị trờng
chứng khoán tại một thời điểm nhất định. Thị giá cổ phiếu không phụ thuộc mệnh
giá cổ phiếu mà phụ thuộc:
+ Hoạt động của Công ty
+ Tốc độ tăng trởng của Công ty
+ Xu hớng phát triển của Công ty
+Các chính sách kinh tế của chính phủ
+ Các nhân tố mang tính chất tự nhiên và xã hội.
+ Cũng nh các loại giá cả khác, thị giá cổ phiếu cũng chịu sự điều tiết
của quy luật cung cầu trên thị trờng, nạn đầu cơ tích trữ...
Thí dụ, mệnh giá 1 cổ phiếu của tập đoàn MICROSOFT trong thời điểm bắt
đầu phát hành năm 1975 là 10$ nhng đến năm 1998, thị giá cổ phiếu này đợc xác
đông chỉ biết tỉ lệ cổ tức công bố chứ cha đợc biết đầy đủ về tình hình kinh doanh
của Công ty và theo đó không đủ cơ sở để đánh giá tỷ lệ cổ tức đợc công bố có
hợp lý hay không, xu hớng phát triển của công ty ra sao?
Việc đánh giá đúng trị giá cổ phiếu, thị giá cổ phiếu, cơ sở tính toán cổ tức
hàng năm đang là vấn đề đặt ra trớc Uỷ ban chứng khoán nhà nớc và là vấn đề cơ
12bản của mỗi công ty cổ phần mặc dù một số công ty đã bắt đầu lựa chọn một
chính sách cổ tức thích hợp song đây là một vấn đề khá mới mẻ đối với phần lớn
các công ty.
Mỗi công ty hoạt động kinh doanh có thể trả cổ tức theo một tỷ lệ nhất định
hoặc giữ lại cổ tức này cho hoạt động đầu t nếu đợc cổ đông chấp thuận thông qua
Đại hội cổ đông hàng năm. Thậm chí các công ty cổ phần còn có quyền trả cổ tức
dới nhiều dạng, nếu đợc Đại hội cổ đông chấp nhận. Thông thờng, các công ty cổ
phần thờng lựa chọn trả cổ tức bằng tiền mặt theo quý, theo tháng hoặc định kỳ.
Việc trả cổ tức bằng tiền mặt có nhiều thuận lợi, nhất là đối với những cổ đông chỉ
mong muốn nhận đợc tiền lãi hàng năm đối với phần vốn mà mình đóng góp; tuy
nhiên, ở một số công ty lớn, đặc biệt là ở các nớc phát triển, trả cổ tức bằng cổ
phiếu lại đợc a chuộng hơn, có lẽ một phần là do thị trờng chứng khoán ở các nớc
này khá phát triển và hấp dẫn các nhà đầu t hơn là những khoản tiền mặt nhỏ.
Mọi cổ đông đều có quyền đợc nhận cổ tức theo quyết định của Đại hội đồng
cổ đông. Tuy nhiên, tuỳ theo tính chất của số cổ phần mà cổ đông nắm giữ, cổ tức
đợc chi trả dới các hình thức khác nhau. Cổ đông sở hữu cổ phần u đãi cổ tức đợc -
u tiên trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc
mức ổn định hàng năm và mức cổ tức này bao gồm cổ tức cố định và cổ tức thởng,
trong đó cổ tức cố định hoàn toàn không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
công ty. Tuy nhiên, cổ đông sở hữu cổ phần u đãi biểu quyết lại không đợc nhận u
đãi về cổ tức nh cổ phần u đãi cổ tức.
13
phức tạp, đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo hoặc có uy tín trên thị tr-
ờng. Chấp nhận hình thức huy động này luôn đặt các doanh nghiệp ở trong tình
14trạng rủi ro, có thể phá sản nếu việc kinh doanh bị thua lỗ, đồng thời trách nhiệm
của ban giám đốc là rất nặng nề. Các công ty cũng có thể phát hành trái phiếu
hoặc cổ phiếu để tăng vốn tuỳ theo cơ cấu vốn của công ty ở thời điểm hiện tại.
Tuy nhiên, có một phơng thức huy động vốn ít mạo hiểm hơn và cho đến thời
điểm này đợc đánh giá là có u thế nhất trong số các phơng thức huy động vốn, đó
là giữ lại lợi nhuận để tái đầu t. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia chính
là phơng thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh
nghiệp. Ưu thế của phơng thức này là ở chỗ, doanh nghiệp vừa có thể giảm bớt chi
phí của việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu - tức là giảm bớt sự phụ thuộc vào
bên ngoài, vừa giảm bớt gánh nặng nợ nần trên vai các nhà quản trị tài chính của
công ty so với việc huy động nợ từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Thực tế
cũng có rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu t từ lợi nhuận để lại và
họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lợng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng
nhu cầu vốn ngày càng tăng trong tơng lai.
Nguồn vốn tái đầu t từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện đợc nếu nh doanh
nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, đợc phép tiếp tục đầu t. Đối với các
doanh nghiệp Nhà nớc, việc tái đầu t không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi
của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu t của Nhà nớc. Tuy
nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số
yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận cho tái đầu t, tức là
không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không đợc nhận tiền
lãi cổ phần (cổ tức) nhng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của
Công ty.
Nh vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ
này có thể u tiên đối với các công ty mới thành lập), bởi vì cơ sở của việc chi trả
cổ tức cũng nh lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận sau thuế của công ty. Nếu bản
thân công ty hoạt động không có lãi thì hoàn toàn không phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán lợi tức cổ tức cho các cổ đông, và điều này có nghĩa là công ty cũng
không thể giữ lại lợi nhuận để tái đầu t,do đó không thể thiết lập chính sách cổ tức
nếu nh công ty không có lợi nhuận.
Căn cứ thứ hai quyết định tới việc xây dựng chính sách cổ tức chính là cơ cấu
vốn hiện tại của công ty. Vấn đề này liên quan tới quyết định giữ lại lợi nhuận để
16tái đầu t sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn nh thế nào, và công ty phải cân nhắc kỹ lỡng
khi xây dựng chính sách cổ tức.
Ngoài hai yếu tố trên, chính sách cổ tức còn đợc xây dựng dựa trên cơ sở
công ty xác lập tỷ lệ chi trả cổ tức hợp lý. Tỷ lệ này nên là cao hay thấp, u thế và
nhợc điểm của nó nh thế nào, bài viết sẽ đề cập ở phần sau, tuy nhiên có thể nói
khi xây dựng chính sách cổ tức, các nhà hoạch định chính sách không thể bỏ qua
những mô hình tính toán cơ bản này, bởi nó là nền tảng của quyết định phân phối
lợi nhuận của công ty.
1.2.3 Nội dung cơ bản trong chính sách cổ tức của công ty cổ phần:
Chính sách cổ tức bao gồm 3 nội dung cơ bản:
Lợi nhuận sau thuế đợc phân phối nh thế nào.
Cổ tức đợc chi trả dới dạng tiền mặt hay bằng cổ phiếu.
Sự ổn định của cổ tức là nh thế nào và chiều hớng của sự
thay đổi diễn ra nh thế nào.
Phân phối lợi nhuận sau thuế nh thế nào cho hợp lý không chỉ là câu hỏi đặt
ra của riêng công ty cổ phần, mà là một quyết định tài chính rất quan trọng đối
với hầu hết các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của công
ty cổ phần - lợi nhuận sau thuế không chỉ đợc phân phối cho cán bộ công nhân
viên của công ty mà còn phải trả một khoản lợi tức cho các cổ đông, những ngời
phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế;
4. Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi các khoản trên đợc phân phối
nh sau:
4.1 Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính. Khi số d của quỹ này bằng
25% vốn điều lệ của doanh nghiệp thì không trích nữa;
4.2 Trích tối thiểu 50% vào quỹ đầu t phát triển;
4.3 Trích 5 % vào quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. Khi số d quỹ
này đạt 6 tháng lơng thực hiện của công ty thì không phải trích nữa;
4.4 Chia lãi cổ phần
4.5 Số lợi nhuận còn lại sau khi trích các quỹ trên đợc trích lập quỹ
khen thởng và quỹ phúc lợi. Mức trích tối đa cho cả 2 quỹ căn cứ vào tỷ
suất lợi nhuận trên vốn.
Mục đích của việc thiết lập các quỹ này :
Qũy đầu t phát triển: quỹ này đợc sử dụng nhằm mục đích:
18 Đầu t mở rộng và phát triển kinh doanh.
Đổi mới, thay thế máy móc, thiết bị dây chuyền công nghệ.
Nghiên cứu khoa học, đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn, kỹ thuật nghiệp vụ của công ty.
Bổ sung vốn lu động.
Quỹ dự phòng tài chính: Dùng để bù đắp các khoản chênh lệch từ những tổn
thất, thiệt hại về tài sản do thiên tai, hoả hoạn, những rủi ro trong kinh doanh
không đợc tính trong giá thành và đền bù của cơ quan bảo hiểm.
Việc trích lập để hình thành quỹ dự phòng tài chính theo tỷ lệ do Hội đồng
quản trị của công ty quyết định hàng năm.
Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm: Dùng để trợ cấp cho ngời lao động
có thời gian làm việc tại công ty đủ một năm trở lên bị mất việc làm và chi cho
việc đào tạo lại chuyên môn, kỹ thuật cho ngời lao động do thay đổi công nghệ
đợc phần thởng cho sự hy sinh quyền sử dụng phần vốn của mình. Họ là những cổ
đông nhỏ, không quan tâm tới lợi thế của việc nắm giữ một số lợng cổ phiếu lớn
của công ty. Thêm vào đó, với phần tiền mặt của mình, họ sẽ dễ dàng tham gia
hoạt động đầu t khác nếu muốn hoặc sử dụng lợng tiền này để gửi tiết kiệm - một
biện pháp an toàn và đơn giản. Tuy nhiên, những cổ đông lớn lại a thích quyền lực
hơn là nắm giữ một khoản tiền không đáng kể so với số vốn góp ban đầu của họ.
Những cổ đông này thờng là thành viên của Hội đồng quản trị, hay chí ít thì cũng
quan tâm tới việc tham gia quản lý điều hành công ty mà họ là cổ đông. Do đó, chi
trả cổ tức dới dạng cổ phiếu sẽ giúp họ thực hiện đợc 2 mục đích: vừa tăng số cổ
phiếu, vừa tăng quyền điều hành trong công ty. Rõ ràng khi công ty hoạt động có
lãi, họ sẽ là những ngời thực sự nắm phần lời nhờ vào việc bán cổ phiếu trên thị tr-
ờng hoặc hởng cổ tức với mức giá cao hơn.
Cũng giống nh quyết định phân chia lợi nhuận sau thuế, quyết định về cách
thức chi trả cổ tức cũng phải đợc Đại hội cổ đông thông qua và phải đợc quy định
rõ trong chính sách cổ tức của công ty.
Nội dung thứ ba trong chính sách cổ tức là quyết định tính toán tỷ lệ chi trả
cổ tức hiện tại phải căn cứ vào tỷ lệ chi trả cổ tức của những năm trớc, chiến lợc
phát triển của công ty trong tơng lai và dự đoán hay định ra mức kế hoạch của tỷ
lệ này. Sở dĩ các nhà hoạch định chính sách cổ tức đề cập tới nội dung này là vì họ
cần phải xác định đợc mục tiêu trớc mắt của công ty. Liệu công ty có thực hiện
20chiến dịch mở rộng đầu t, sản xuất hay chỉ nhằm mục đích lợi nhuận tầm thờng
mà không lựa chọn dự án đầu t mới? Cả hai quyết định trên đều có thể ảnh hởng
tới tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty, và nh vậy sẽ ảnh hởng trực tiếp tới xu hớng tăng
giảm của cổ tức trong tơng lai.
Trên đây bài viết đã đi vào những nội dung cơ bản nhất của chính sách cổ tức
trong công ty cổ phần, sau khi đã phân tích những nội dung này, bài viết sẽ nhấn
mạnh hơn tới vai trò hay tầm quan trọng của chính sách cổ tức mà trong thực tế
= D
1
là cổ tức đợc trả cho cổ đông
K
e
là tỷlệ lợi tức yêu cầu đối với cổ phiếu thờng hay là chi phí
của cổ phiếu thờng.
g là tốc độ tăng trởng của công ty
Tại một thị trờng hoàn hảo nh giả định, chính sách cổ tức là không thích hợp.
Nếu nh công ty trả cổ tức rất cao, thì các nhà đầu t sẽ nhận phần lợi tức cổ tức này
để thiết lập quỹ nhằm mục đích mua tiếp cổ phiếu của công ty, còn trong trờng
hợp công ty trả cổ tức rất thấp, thì các cổ đông lại bán bớt cổ phiếu để bù đắp cho
phần bị mất đi. Và nh vậy, thì việc thiết lập chính sách cổ tức hoàn toàn không có
ý nghĩa, vì bản thân các cổ đông rất linh hoạt khi sử dụng cổ tức của mình để đầu
t thu lời trong một môi trờng thuận lợi chứ không cần tới chiến lợc đầu t phát triển
của công ty.
Mặc dầu vậy, không thể có một thị trờng hoàn hảo bởi đó chỉ là giả định của
các nhà kinh tế học. Trong thực tế, chính sách cổ tức có tác động rất lớn tới chiến
lợc phát triển của công ty cũng nh lợi ích của các cổ đông.
Thứ nhất, cổ tức là một khoản lời ít rủi ro hơn so với bất kỳ một dạng đầu t
nào trên thị trờng. Khi một ngời có tiền, họ có thể đầu t chứng khoán, kinh doanh
hoặc đơn giản nhất là gửi tiết kiệm và góp vốn vào công ty cổ phần hoặc công ty
trách nhiệm hữu hạn. Đầu t chứng khoán hay kinh doanh, và thậm chí là góp vốn
vào công ty trách nhiệm hữu hạn thờng mang tính rủi ro cao, trong khi đó việc
mua cổ phần của công ty cổ phần lại đơn giản, ít mạo hiểm hơn rất nhiều. Tại sao
lại nh vậy? Mặc dù các công ty cổ phần chỉ phải trả cổ tức khi hoạt động có lãi,
nhng do tính chất đặc biệt của công ty cổ phần, đó là những ngời có số lợng cổ
0
D
1
= +
P
0
P
0
Có những tình huống sau:
1. Nếu công ty quyết định giữ lại lợi nhuận để đầu t, khi đó cổ tức đợc trả D1
sẽ giảm dần tới 0 và D1/P0 cũng giảm tới 0. Nhng đồng thời, P1-P0/ P0 lại tăng,
đồng nghĩa với việc vốn cổ phần tăng lên.
P
1
- P
0
D
1
= +
P
0
P
0
2. Nếu công ty quyết định chi trả cổ tức, các cổ đông sẽ lập tức nhận đợc một
khoản lợi tức và D1 sẽ tăng lên. Nhng bù lại, công ty không có lợi nhuận giữ lại để
đầu t, và nh thế tại thời điểm hiện tại, không có đồng vốn nào đợc đầu t vào công
ty. Để huy động vốn đầu t, công ty buộc phải tìm kiếm các nguồn tài trợ bên
ngoài.
P
1
giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Chính sách cổ tức không chịu tác động
của thuế giá trị gia tăng, nhng lại bị ảnh hởng trực tiếp của thuế thu nhập doanh
nghiệp và đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế
của các đối tợng nh doanh nghiệp hoặc thể nhân. Tính chất của thuế này là có sự
thống nhất giữa ngời nộp và ngời chịu thuế, tức là ngời nộp thuế cũng là ngời chịu
thuế.
Thuế thu nhập có phạm vi thu tơng đối rộng và ngày càng phát triển cùng với
sự phát triển của các khoản thu nhập.
Thuế thu nhập trong thực tế ở các nớc đợc đặt ra nhằm mục tiêu chính là điều
tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội nên việc
đánh thuế thờng dựa trên khả năng thu nhập của các chủ thể. Ngày nay, ở một
phạm vi rộng, thuế thu nhập đợc xem là loại thuế tơng đối công bằng, trớc hết xuất
phát từ sự đánh giá toàn cục theo bề dọc, tức ngời có thu nhập cao phải nộp thuế
nhiều hơn ngời có thu nhập thấp. Khác với thuế đánh vào tiêu dùng nh thuế doanh
thu, thuế tiêu thụ đặc biệt... thuế thu nhập cho phép ngời có thu nhập quá thấp đợc
miễn thuế. Trong chính sách thuế, ngời ta có thể cố gắng thiết kế sao cho việc điều
tiết thu nhập đợc công bằng, nhng khi thi hành nếu không kiểm soát đợc và nắm
chắc các khoản thu nhập phát sinh của các đối tợng để thu thuế thì sự công bằng
cũng không thể đợc đảm bảo.
Thuế thu nhập công ty (TNCT) là loại thuế trực thu đợc tính trên lợi nhuận
của công ty trong thời kỳ kinh doanh. Lợi nhuận làm căn cứ tính thuế TNCT là
25