Phòng Và Trị Bệnh Cho Bò Sữa - Pdf 12

Phòng Và Trị Bệnh Cho
Bò Sữa

I. Bệnh Viêm Vú Ở Bò Sữa
1. Bệnh viêm vú (infection)
Bệnh xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập vào ống tiết sữa, nhân lên trong tuyến
sữa. Sự xuất hiện hoặc không xuất hiện bệnh được xác định thông qua việc
lấy mẫu sữa đảm bảo vô trùng ở từng núm vú riêng biệt, nuôi cấy mẫu trong
điều kiện phòng thí nghiệm. Bệnh có thể ở dạng lâm sàng hoặc cận lâm sàng
tùy thuộc vào mức độ của quá trình viêm nhiễm.
a. Viêm vú lâm sàng
Thể viêm vú lâm sàng đặc trưng bởi những biến đổi rõ rệt ở tuyến sữa hoặc
sữa. Những biến đổi trên có thể ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau trong quá
trình diễn biến của bệnh. Các trường hợp bệnh có thể lâm sàng có thể được
coi là thể á cấp tính (thể lâm sàng nhẹ) khi các biểu hiện biến đổi nhẹ của sữa
và các núm vú bị nhiễm như tạo váng, lổn nhổn hoặc sữa biến màu. Các núm
vú này có thể bị sưng nhẹ và nhạy cảm.
b. Viêm vú cấp tính
Các trường hợp cấp tính được đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các
biểu hiện sưng, tấy đỏ, bầu sữa rắn, con vật đau, sữa không bình thường và
sản lượng sữa giảm. Những biểu hiện toàn thân như sốt, kém ăn.
c. Viêm vú quá cấp tính
Thể bệnh này ít thấy và cũng có những biểu hiện như trên, nhưng cũng có thể
có những biểu hiện như suy nhược, tăng nhịp tim và tần số hô hấp, vận động
kém, chân lạnh, phản xạ mắt giảm, mất nước và tiêu chảy.
d. Viêm vú cận lâm sàng
Thể bệnh này thường không rõ, không thể phát hiện bằng quan sát mắt
thường, song nó được nhận biết thông qua các xét nghiệm định hướng như

và bệnh sinh sản.
- Mặc dù hậu quả của bệnh viêm vú đã đượcdẫn chứng trong nhiều nghiên
cứu rộng rãi trên toàn thế giới, thực tế này đã không được truyền đạt một cách
thuyết phục đến một số chủ trại bò sữa ở khắp nơi. Nhiều trường hợp dường
như chỉ căn cứ vào bác sĩ thú y, đơn thuốc, xem xét các trường hợp lâm sàng
xảy ra và phải loại thải để giết mổ các động vật. Nếu đứng về phương diện
sản xuất sữa thì họ phải loại bỏ những con bò đã được điều trị: Những thiệt
hại có thể thấy được; Sự thiệt hại to lớn mà không thấy được trong quá trình
sản xuất sữa bởi các trường hợp nhiễm bệnh phi lâm sàng, mà các chủ trang
trại không phát hiện ra.
- Hội đồng quốc gia về bệnh viêm vú, một tổ chức phi lợi nhuận thành lập
năm 1961 để thúc đẩy nghiên cứu và đào tạo nhằm giảm bệnh viêm vú, có
đánh giá rằng thiệt hại do giảm sản lượng đã lên tới hơn 1 tỷ đô la hàng năm ở
Mỹ. Tổng số thiệt hại tới gần 2 tỷ đô la.
- Nhìn từ khía cạnh khác chi phí cho một nông trại nuôi bò sữa trung bình
khoảng 180 đô la cho một bò cái trong một năm.
- Nhân số bò cái trong đàn của bạn với 180 đô la, bạn sẽ được một con số có ý
nghĩa về chi phí riêng của bạn trong bệnh viêm vú bò sữa.
- Sự thiệt hại sẽ ở mức cao hơn nếu như số lượng tế bào thân trong sữa của
đàn gia súc của bạn ở trên mức trung bình. Trừ đi chi phí bệnh viêm vú vào
túi tiền của bạn và bạn sẽ bắt đầu thấy sự thiệt hại tổng sản phẩm sữa như thế
nào từ các ca viêm vú cận lâm sàng.
- Sự phân tích thiệt hại hàng năm do bệnh viêm vú gây ra đã được hội đồng
quốc gia về bệnh viêm vú soạn thảo vào năm 1985. Mặc dù ngày nay, tỷ lệ
bệnh viêm vú đã thấp hơn nhưng tổng thiệt hại kinh tế vẫn còn là cao. Số liệu
được thể hiện dưới đây.
- Các số liệu được ghi thành từng mục đã khẳng định rằng khoảng 70-80%
của tổng thiệt hại có liên quan đến bệnh viêm vú cận lâm sàng, trong khi đó
chỉ có 20-30% thiệt hại là do bệnh viêm vú lâm sàng. Cũng cần phải nhấn
mạnh rằng những số liệu thiệt hại này không bao gồm những thiệt hại khác

núm vú. Do đó việc tránh nhiễm bẩn bề mặt núm vú sẽ giảm cả bệnh viêm vú
và cải thiện chất lượng cũng như thời gian bảo quản sản phẩm sữa.
- Khi mà tỷ lệ lưu hành của việc nhiễm bệnh qua sữa là rất nhỏ so với 50 năm
trước đây, chúng ta không được thờ ơ với việc dưa ra cho người tiêu dùng các
sản phẩm có chất lượng cao nhất. Đặt nhiều tin tưởng vào việc hấp pasteur
sữa, sự bảo quản lạnh để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và trộn lẫn sữa có
chất lượng thấp và sữa có chất lượng cao. Phải lưu tâm hơn với việc đưa ra
các phương pháp quản lý và vệ sinh đúng đắn để thu được kết quả là sản
phẩm có lượng vi sinh vật thấp nhất. Các chủ trang trại sẽ thu được nhiều lợi
nhuận hơn qua các yêu cầu lớn hơn về sữa và các sản phẩm khác từ sữa.
- Người tiêu dùng mong muốn nhiều hơn vào những sản phẩm cuối cùng của
sữa có thể bảo quản lâu hơn. Để mà trong một tuần (7 ngày) người tiêu dùng
có thể chỉ một lần đến mua sữa ở siêu thị.
- Những nghiên cứu gần đây đã đưa ra rằng đối với quy trình hấp pasteur thì
sau 14 ngày sữa có lượng tế bào thân ít hơn 250.000 có chất lượng cao hơn so
với sữa có lượng tế bào thân lớn hơn 500.000. Các kết luận tương tự cũng
được đưa ra khi chế biến sản phẩm sữa từ sữa có lượng tế bào thấp so với
lượng tế bào cao. Tất yếu rằng sữa có chất lượng cao nhất sẽ được cung cấp
cho người chế biến nếu như yêu cầu của người tiêu dùng được đặt ra.
- Ảnh hưởng của viêm vú lâm sàng đối với thành phần sữa và chất lượng chế
biến sữa được đưa ra ở bảng sau:
1. Lactose (tốt)

giảm 5-20%
2. Tổng số protein (tốt)

hơi giảm
3. Casein (tốt)

giảm 6-18%

giảm
13. Kali (tốt)

giảm
14. Khoáng chất (tồi)

tăng ít
15. Bơ (tốt)

giảm sự đông vốn, độ béo và sản
lượng
16. Ổn định nhiệt độ

(tốt)

thấp đi
Viêm vú lâm sàng đã dẫn đến kết quả là có sự tăng lên các thành phần không
mong muốn và giảm đi các thành phần mong muốn của sữa khi chúng ta đang
cố gắng tạo ra sản phẩm sữa có chất lượng cao.
Những điểm cần ghi nhớ:
- Các chủ traị phải trả trung bình khoảng 180 đô la cho mỗi bò bị viêm
vú/năm.
- Khoảng 70-80% sự thiệt hại là do viêm vú cận lâm sàng.
- Các đàn bò với số lượng tế bào thân 400.000 sẽ thiệt hại 456 kg (1.200
pound) sữa mỗi năm. Sự thiệt hại này còn lớn hơn ở bò có số lượng tế bào
thân cao hơn.
- Hấp pasteur sữa có lượng tế bào thân ít hơn 250.000 sẽ có kết quả hơn sữa
có lượng tế bào thân lớn hơn 500.000
4. Các phương pháp kiểm tra viêm vú
a. Kiểm tra đặc tính lý học

0 Không phản ứng
T Phản ứng nhẹ
1 Phản ứng nhẹ TB
2 Phản ứng TB
3 Phản ứng mạnh
- Nhiều chủ trang trại yêu cầu sử dụng hệ thống ghi điểm đơn giản hơn theo
bảng bên:
Điểm Đánh giá
N (âm tính) Không phản ứng
S (nghi ngờ) Phản ứng ít
P (dương tính) Phản ứng rõ rệt
- Các nghiên cứu cho thấy rằng phản ứng CMT tương đương với lượng tế bào
thân trong sữa theo bảng sau:
Điểm Đánh giá
0 100.000
T 300.000
1 900.000
2 2.700.000
3 8.100.000
- Kết quả kiểm tra ở mỗi bò phải được ghi lại để tham khảo sau này. Khi ta
ghi lại như vậy và cùng với các lần ta có thể tìm ra các trường hợp nhiễm
bệnh cận lâm sàng, các trường hợp nhiễm bệnh cận lâm sàng này ta sẽ không
biết trước cho tới khi bệnh nặng hơn. Các tế bào có trong sữa
là các tế bào bạch cầu đi vào bầu vú qua máu. Số lượng TBBC tăng lên là do
nhiễm bệnh viêm vú hoặc do các tổn thương cơ học.
- Sự tập trung tế bào thân cao trong sữa (> 200.000 Tb/ml) là dấu hiệu không
bình thường của bầu vú. CMT sẽ không xác định được một cách chính xác là
bò nào cần được điều trị bởi vì chỉ 60% bò với lượng tế bào thân >
500.000/ml thực sự nhiễm bệnh viêm vú.
II. Đê Bò Không Bị Cước Chân

1. Tìm hiểu về bệnh lở mồm long móng
- Bệnh lở mồm long móng là một bệnh truyền nhiểm cấp tính, lây lan nhanh
do loại virus ARN nhỏ nhất, thuộc họ Picornaviridea, giống Aphthovirus gây
ra. Đây là một loại virus hướng thượng bì, có đặc điểm sốt và xuất hiện mụn
nước ở miệng, chân và đầu vú. Thời gian ủ bệnh của virus thường kéo dài ba
đến tám ngày, khi nhiễm bệnh con vật lên cơn sốt cao (40-41 độ C), ủ rũ, bò
ăn, ở những con đang cho sữa thì lượng sữa sẽ giảm đột ngột, thậm chí nhiều
con bị mất sữa.
- Đến ngày hôm sau, mụn nước bắt đầu xuất hiện ở chân (kẽ móng, quanh gờ
móng và bướu gót chân), niêm mạc (lưỡi, lợi, môi, chân răng) và đầu vú. Lúc
đầu mụn nước rất nhỏ, đường kính một đến hai cm, sau đó phát triển to lên
nhanh chóng, nổi lên trên bề mặt có màu trắng, các mụn này có thể kết hợp lại
với nhau. Tiếp theo mụn sẽ bị vỡ chảy ra dịch màu vàng rơm tạo nên các vết
loét thô sâu ở miệng con vật. Khi bị bệnh con vật ít ăn, hoặc bỏ hẳn ăn, đi lại
khó khăn, nhẹ thì mất sức kéo, nặng có thể dẫn đến chết với tỷ lệ lên đến 60%
đối với những loại gia súc nhỏ.
2. Cơ chế lây lan bệnh
- Lở mồm, long móng chủ yếu lây lan qua đường hô hấp và tiêu hóa. Sự lây
lan giữa bò và lợn phát sinh qua không khí là chính, lợn bị nhiễm bệnh có khả
năng tập trung virus lớn hơn 100 – 1.000 lần so với trâu, bò, thời gian tồn tại
của virus trong không khí cũng rất dài. Virus có thể sống sót bên ngoài cơ thể
con vật nếu không chịu tác động bởi nhiệt độ cao hoặc thay đổi độ pH. Nhiệt
độ ở mức 64 – 65 độ C virus sống được 30 phút, ở 70 độ C thời gian sống của
virus là 15 phút và ở nhiệt độ 80 độ C virus tồn tại được 3 phút. Trong thịt
đông lạnh virus sống được trong một thời gian dài và truyền từ nơi này sang
nơi khác do vận chuyển các chất thải từ lò mổ hoặc từ quần áo, xe cộ, thậm
chí trong điều kiện mát, ẩm, virus có thể lây truyền đi theo chiều gió rất xa.
- Ở lợn đường nhạy cảm nhất là hô hấp, tại đây virus được nhân lên rất nhiều
trong phổi nhưng sự lây lan của bệnh chỉ trong nhóm lây qua miệng. Ở bò
virus thường tồn tại ở mũi, họng, tuyến vị, virus sống trong các mô bào này từ

nước quá chua (chanh, khế…) bóp lấy nước xoa vào niêm mạc miệng. Cho
gia súc ăn thức ăn mềm, dễ tiêu.
- Móng: rửa sạch, dùng các loại kháng sinh mỡ, cồn iốt, thuốc nam như lá
bàng, lá phèn đen, thanh xoan, lá trầu không…chống nhiễm trùng, kích thích
lên da non, chống ruồi muỗi.
- Ở vú: thường xuyên vắt cạn sữa, sát trùng mụn loét bằng dung dịch sát
trùng, nếu bị nặng dùng thêm các kháng sinh Penicillin, Streptomyxin…để
tiêm.
IV. Chữa Lở Mồm Long Móng Cho Bò Bằng Thuốc Nam
Trâu, bò và đặc biệt là đối với trâu, bò nuôi thả rông thường bị các bệnh về
chăn móng nói riêng và các bệnh khác nói chung trong mùa đông giá lạnh.
Chữa bệnh lở mồm long móng cho trâu, bò dù bằng phương pháp Tây y hay
Đông y cũng chủ yếu là chữa triệu chứng vì đây là loại bệnh do virus gây nên.
Mục đích chữa trị là giúp vết thương mau lành, đề phòng nhiễm trùng kế phát
gây biến chứng nguy hiểm tới tính mạng của con vật.
Chữa miệng
Tốt nhất rửa miệng trâu, bò bị bệnh bằng nước các loại quả chua thông
thường dễ kiếm như: khế, chanh, quất, me…giã nát các loại quả trên, hòa với
chút muối. Dùng xi lanh bơm ướt các vết loét trên lưỡi và niêm mạc mồm.
Ngày 2-3 lần, liên tục trong 4-5 ngày. Có thể dùng bã chanh, múi khế cho
trâu, bò nhai. Tuyệt đối không đươc chà xát vào vết thương vì dễ làm bong
niêm mạc, khiến cho con vật bị đau, rát, ăn kém, sút cân nhanh chóng.
Chữa mòng
Rửa sạch chân trâu, bò bằng nước muối pha nồng độ 10% (100g muối, 1 lít
nước sôi nguội) hoặc nước lá chát (lá sim, ổi, muối và sẻ 3, trầu không, chè
tươi) có cho thêm chút muối. Bôi các chất sát trùng hút mủ, chóng lên da non
như bột than xoan trộn với dầu lạc. Đồng thời đề phòng ruồi nhặng đẻ trứng
vào vết thương kẽ móng chân bằng cách đắp thuốc lào, thuốc lá khô băng lại.
Phòng bệnh
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, đảm bảo đông ấm, hè mát. Khử trùng chuồng trại

+ Muối ăn 50gr
+ Thuốc tím 2gr
- Pha 3 loại này vào 2 lít nước cho uống 2 lần/ngày.
- Dùng muối ăn 100gr, tỏi 50gr, gừng 30gr giã nhuyễn và pha vào 2 lít nước
cho uống 2 lần cách nhau 2-3 giờ.
- Khi đã dùng tất cả các biện pháp không khỏi, thấy bò vẫn căng hơi có khả
năng nguy hiểm (tử vong) thì phải chọc thủng hông trái để cho hơi ra ngoài.
Dùng Tracart, cây trúc nhỏ chọc thẳng vào hõm hông trái nơi căng nhất. Khi
chọc dùng nhón tay bịt đầu lỗ lại, cho hơi ra từ từ đừng cho ra nhanh gây
choáng bò sẽ chết đột ngột. Khi hơi ra hết vẫn để nguyên Trocart tại đó để
cho hơi thoát ra đến khi bò khỏi hẳn. Tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng
dùng:
1. Ampi-Septol 1ml/10kg trọng lượng
2. Chlotetradexa 10ml/100kg trọng lượng
3. Gentamycin 1ml/10kg trọng lượng
Bệnh chướng hơi dạ cỏ xảy ra nhiều vào đầu mùa mưa, vì vậy khi bò ăn nhiều
cỏ non nên trộn thêm ít rơm khô. Bò mới đẻ có chế độ ăn từ thấp đến cao,
không cho bê nhỏ bú sữa bò mẹ bị viêm vú, sữa vắt ra cho bê uống ngay
không để lâu.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status