TCNCYH 34 (2) - 2005
20
Nghiên cứu ảnh hởng của điện châm huyệt Nội quan
lên ngỡng đau và phản xạ Hoffmann ở ngời
trởng thành bình thờng tuổi từ 19 đến 44
Bùi Mỹ Hạnh , Phạm Thị Minh Đức
Bộ môn Sinh lý học - Trờng Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu đợc tiến hành trên các đối tợng là ngời bình thờng từ 19 - 44 tuổi.
Ngỡng đau đợc đo trên 60 đối tợng (gồm 30 nam và 30 nữ ), 30 nam đợc ghi phản
xạ Hoffmann (H) để đánh giá biên độ và thời gian tiềm tàng của sóng H dới tác dụng
của điện châm huyệt Nội quan hai bên. Chế độ kích thích lên huyệt đều là 2Hz, 4-5
Voltz. Kết quả cho thấy: (1) Điện châm huyệt Nội quan làm tăng ngỡng đau ở cả nam
và nữ (p<0,01). (2) Sau điện châm mức độ tăng ngỡng đau ở nữ cao hơn so với mức
tăng ở nam (p<0,05). (3) Điện châm huyệt Nội quan có tác dụng ức chế phản xạ H
thông qua việc làm giảm biên độ sóng H và kéo dài thời gian tiềm tàng của sóng này
(p<0,05). Những kết quả thu đợc cho thấy cơ chế giảm đau do điện châm có thể liên
quan đến vai trò của hệ thống thần kinh trong cơ thể.
I. Đặt vấn đề
Điện châm để giảm đau là một phơng
pháp cổ truyền đã đợc áp dụng từ nhiều
thế kỷ nay. Năm 1960, ca phẫu thuật cắt
phổi đầu tiên sử dụng gây mê bằng điện
châm đợc thực hiện thành công tại Bệnh
viện Nhân dân Thợng Hải - Trung Quốc
(trích theo [8]). Từ đó đến nay, không riêng
các bệnh viện ở Trung Quốc mà nhiều
nớc khác trong đó có Việt Nam đã sử
dụng điện châm nh một trong những
phơng pháp vô cảm có hiệu quả trong
một số loại phẫu thuật. Việc nghiên cứu về
đến đau, gần đây đã có nhiều công trình
nghiên cứu điện châm huyệt Nội quan phối
hợp với một số huyệt khác nh Hợp cốc, ế
phong, Túc tam lý, Tam âm giao để gây tê
giảm đau trong các phẫu thuật phần trên
của cơ thể nh phẫu thuật vùng đầu, mặt,
cổ, ngực, bụng thay cho việc gây mê bằng
thuốc [1], [2], [7]. Tuy nhiên, muốn tìm hiểu
tác dụng giảm đau của từng huyệt thì rất
TCNCYH 34 (2) - 2005
cần có những mô hình nghiên cứu riêng về
từng huyệt. Kết quả thu đợc không những
góp phần làm sáng tỏ tác dụng giảm đau
của từng huyệt mà còn giúp các nhà lâm
sàng có thể chọn một phác đồ châm tê sao
cho số lợng huyệt là ít nhất nhng cho
hiệu quả cao nhất. Xuất phát từ nhận định
này chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
ảnh hởng của điện châm huyệt Nội quan
lên ngỡng cảm giác đau và phản xạ
Hoffmann " với mục tiêu:
1. Đánh giá tác dụng của điện châm
huyệt Nội quan lên ngỡng cảm giác đau.
2. Xác định ảnh hởng của điện
châm huyệt Nội quan lên các chỉ số của
sóng H.
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu
- 60 đối tợng gồm 30 nam và 30 nữ
kim là 30 phút cho mọi đối tợng.
3.3. Kỹ thuật đo ngỡng cảm giác đau
Nguyên lý của phơng pháp nh sau:
Tác động lên da đối tợng một lực tăng
dần theo một tỷ lệ hằng định (gam/giây:
g/s), lực này đợc tạo ra liên tục bởi một
con chạy di động theo một thớc nằm
ngang gắn với một trục hình nón, đầu
nhọn hớng xuống dới đè lên một điểm
của cơ thể để xác định ngỡng cảm giác
đau. Dới trục ấn là đế đợc cấu tạo có
độ ma sát rất thấp.
Để xác định ngỡng cảm giác đau,
ngời thao tác ấn bàn đạp đóng-mở cho
lực tác động lên đối tợng. Điểm để xác
định ngỡng cảm giác đau là gốc móng
ngón tay út. Khi đối tợng có cảm giác
đau thì ngời đo thả chân khỏi bàn đạp
"đóng-mở, con chạy dừng lại và ghi nhận
ngỡng cảm giác đau đợc xác định trên
thang đo (g/s). Hệ số giảm đau (K) đợc
tính bằng ngỡng cảm giác đau sau điện
châm (Đs) chia cho ngỡng cảm giác đau
trớc điện châm (Đt).
Đs (g/s)
K =
Đt (g/s)
21
TCNCYH 34 (2) - 2005
6. Xử lý số liệu
Các số liệu đợc xử lý bằng chơng
trình EPI Info 6.0 với phơng pháp so
sánh tự đối chứng trên từng đối tợng
giữa các thời điểm.
III. Kết quả
1. ảnh hởng của điện châm huyệt Nội quan lên ngỡng cảm giác đau
1.1. Ngỡng đau ban đầu của các đối tợng đợc trình bày ở bảng 1
Bảng 1. Ngỡng cảm giác đau (g/s) ban đầu của các đối tợng nghiên cứu (n=60)
Giới
Ngỡng đau
Nữ (1)(n=30)
X
SD
Nam (2)(n=30)
X
SD
Chung
X
SD
Ngỡng đau thấp
90,63 4,27 81,42 7,95 84,25 8,14
n 4 9 13
Ngỡng đau cao
135,62 18,01 132,69 24,72 134,34 21,02
n 26 21 47
Ngỡng đau chung
129,60 23,12 117,31 31,78 123,45 28,24
p p
1-2
Nữ (a) n = 30
117,31 31,78 156,02 36,44
< 0,01
Nam (b) n = 30
129,60 23,12 148,61 33,22
< 0,01
p
a-b
<0,05 <0,05
Chung
123,45 28,24 138,43 28,93
< 0,01
Kết quả ở bảng 2 chỉ ra rằng ngỡng đau tăng một cách rõ rệt ở cả nam và nữ
(p<0,01), mức độ tăng ngỡng đau sau điện châm ở nữ cao hơn so với nam (p<0,05) .
1.3. Hệ số giảm đau khi điện châm huyệt Nội quan (bảng 3)
Bảng 3. Hệ số giảm đau dới tác dụng của điện châm huyệt Nội quan (n = 60)
Giới
Tay
Nữ (1)(n=30)
X
SD
Nam (2)(n=30)
X
SD
p
1-2
Tay phải (a)
1,36 0,28 1,18 0,22
< 0,01
Tay trái (b)
< 0,05
Các số liệu trên bảng 4 cho thấy sau điện châm huyệt Nội quan 30 phút, biên độ của
sóng H giảm rõ rệt (p<0,05), thời gian tiềm tàng của sóng H kéo dài một cách có ý
nghĩa so với trớc khi điện châm (p<0,05).
IV. Bàn luận
1. ảnh hởng của điện châm huyệt
Nội quan lên ngỡng cảm giác đau
1.1. Ngỡng đau ban đầu của các
đối tợng
Kết quả ở bảng 1 cho thấy ngỡng đau
ban đầu của các đối tợng nghiên cứu
khác nhau và ngỡng đau ban đầu của
nam hầu hết đều cao hơn so với ngỡng
đau ban đầu của nữ. Kết quả nghiên cứu
của Nguyễn Thị Vân Thái, Hoàng Khánh
23
TCNCYH 34 (2) - 2005
24
Hằng [6], [4] cũng cho thấy có điểm tơng
đồng về sự khác biệt ngỡng đau giữa hai
giới tơng tự nh kết quả nghiên cứu của
chúng tôi. Nh chúng ta đã biết, cảm giác
đau phụ thuộc vào các cấu trúc tiếp nhận
cảm giác đau và các cấu trúc tham gia
vào hệ thống giảm đau của hệ thần kinh
mà trong đó hệ limbic gần đây đợc cho
rằng có ảnh hởng nhiều đến khía cạnh
cảm xúc của cảm giác đau, đến sự nhận
trong nghiên cứu này) sẽ cho tác dụng
giảm đau không mạnh nhng kéo dài do
cơ chế hoạt hoá mRNA đặc hiệu cho việc
tổng hợp các peptid giảm đau nội sinh ở
não, tủy sống. Muốn có tác dụng nhanh,
mạnh thì phải kích thích ở tần số cao hơn
(khoảng 100Hz). ở tần số này, tuỷ sống
và nhiều neuron sẽ tăng tiết các peptid
giảm đau nội sinh, đặc biệt là dynorphin -
một peptid có tác dụng giảm đau rất
mạnh và không chịu sự tác động đối
kháng của naloxon. Nh vậy, mức độ
giảm đau do châm cứu và nồng độ các
peptid nội sinh đợc bài tiết phụ thuộc
vào tần số, cờng độ và vị trí huyệt đợc
kích thích [8], [10]. Chính vì thế mà trong
châm tê phẫu thuật để đạt đợc hiệu quả
vô cảm cần chọn huyệt và chế độ kích
thích có cờng độ và tần số cao . Do việc
định lợng các peptid nội sinh trong huyết
thanh hoặc bán định lợng các chất này ở
các cầu trúc thần kinh trong thực tế ở
nớc ta còn hạn chế nên một số tác giả
{4], [7] đi sâu tìm hiểu vai trò của hệ
thống thần kinh thực vật (bao gồm
catecholamin và acetylcholin). Kết quả
cho thấy có sự hoạt hoá tơng ứng của
cả 2 chất này trên tất cả những đối tợng
có ngỡng đau tăng. Một số tác giả nớc
ngoài cho rằng châm cứu giảm đau có
thuật đo đợc thực hiện trong những hoàn
cảnh không hoàn toàn giống nhau. Nh
chúng ta đã biết, bình thờng không có
sự khác biệt nhiều về ngỡng cảm giác
đau giữa các cá thể, nhng cách phản
ứng với kích thích đau lại rất khác nhau
[3], [8]. Nguyên lý của phơng pháp đo
ngỡng cảm giác đau lại dựa chủ yếu vào
sự nhận biết cảm giác đau mang tính chủ
quan của đối tợng, sự phân biệt giữa
cảm giác đè ép với cảm giác đau. Có lẽ
do vậy mà có sự khác nhau về kết quả đo
ngỡng cảm giác đau giữa các tác giả.
Mặt khác ngỡng đau có thể khác nhau ở
từng cá thể và thậm chí ở trên cùng một
cá thể ngỡng đau có thể thay đổi theo
nhịp ngày đêm hoặc theo trạng thái sinh
lý, bệnh lý. Mặc dù ngỡng đau ban đầu
của nữ thấp hơn so với nam và số đối
tợng nữ có ngỡng đau ban đầu thấp
chiếm tới 76,7% nhng hệ số giảm đau ở
nữ lại lớn hơn so với nam (p<0,01). Điều
này chứng tỏ rằng đối tợng có ngỡng
cảm giác đau ban đầu thấp thì dới tác
dụng của điện châm ngỡng cảm giác
đau tăng nhiều hơn so với những ngời
có ngỡng đau ban đầu cao. Nhận xét
này của chúng tôi cũng phù hợp với
Trơng Việt Bình [1] khi nghiên cứu trên
ngời bình thờng.
tâm (loại I, II, II, IV) về hệ thần kinh trung
ơng. Nơi đến có thể là một số neuron
vùng dới đồi, cấu trúc lới, vỏ não
Phải chăng chính sự hoạt hoá các cấu
trúc này đã tạo ra các xung động ức chế
truyền xuống gây tác dụng ức chế tuỷ
sống, trong đó có phản xạ H - một phản
xạ chịu ảnh hởng rất mạnh của yếu tố
thần kinh trung ơng? Để tìm hiểu rõ hơn
cấu trúc nào có liên quan đến tác dụng
TCNCYH 34 (2) - 2005
26
của điện châm huyệt Nội quan có lẽ cần
phải dùng một số phơng pháp nghiên
cứu điện sinh lý khác. Rất tiếc trong điều
kiện hiện nay ở nớc ta nhất là trong
khuôn khổ đề tài này chúng tôi cha thể
thực hiện đợc.
V. Kết luận
Từ kết quả và bàn luận nêu trên,
chúng tôi xin rút ra một số kết luận sau:
1. Điện châm huyệt Nội quan có
tác dụng làm tăng ngỡng cảm giác
đau ở cả nam và nữ, mức độ tăng
ngỡng đau ở nữ cao hơn so với
mức tăng ở nam (p < 0,05 - 0,01).
2. Điện châm huyệt Nội quan làm giảm
biên độ và kéo dài thời gian tiềm tàng của
sóng H (p<0,05).
Quang, Nghiêm Hữu Thành và cộng sự
(1998), Nghiên cứu châm tê phối hợp với
thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật mổ bớu
cổ, Đề tài cấp bộ, tr.37- 42.
8. Cao X.(1999), Scientific bases of
acupuncture. Consultation meeting on
traditional and modern medecine:
harmonizing the two approaches, WHO
regional office for Western Pacific, Beijing
China, 67-76.
9. Farber P.L., TachibanaA.,
Campiglia H.M.(1997), Increased pain
threshold following electroacupuncture
analgesia is induced mainly in meridian
acupuncture points, Acupunct- Electrother-
Res, 22 (2), 109- 117.
10. Wan Y., Wilson S.G., Han J.S.,
Mogil J.S. (2001), The effect of genotype
on sensitivity to electroacupuncture
analgesia, Pain, 91, 5-13.
TCNCYH 34 (2) - 2005
27
Summary
Effect of Neiguan (PC6) electro acupuncture (EA) on pain
threshold and Hoffmann reflex in normal subjects
Experiments were undertaken on normal subjects at the age of 19 - 44 years. Pain
threshold were measured byAnalgesymeter (Made in Ugobasile - Italy) in 60 subjects
before and after 30 minutes of PC6 EA. Amplitude and latency of Hoffman wave of 30
males was investigated before and after 30 minutes of PC6 EA. EA parameters were