Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
Mục lục
Lời mở đầu
Phần I: Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ (BHNT)
và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ( SPBHNT)
I. BHNT
1. Sự cần thiết khách quan của BHNT
2. Vai trò của BHNT
II. SPBHNT
1. Khái niệm
2. Đặc điểm của SPBHNT
3. Các loại hình SPBHNT
Phần II. Thực trạng BHNT,SPBHNT ở Việt Nam
I. BHNT ở Việt Nam
1. Sự hình thành BHNT ở Việt Nam
2. Thực trạng BHNT ở Việt Nam sau 5 năm hoạt động
3. Thuận lợi và khó khăn để phát triển BHNT
II. SPBHNT ở Việt Nam
1. Các SPBHNT trên thị trờng BHNT Việt Nam hiện có
trên thị trờng.
2. SPBHNT: An Gia Thịnh Vợng, Bảo hiểm hỗ trợ viện phí
và Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo.
3. SPBHNT với tăng trởng, phát triển kinh tế xã hội.
3.1. Các SPBHNT chống lại hữu hiệu ảnh hởng của lạm phát
3.2. SPBHNT tác động tích cực đến tăng trởng phát triển kinh tế ,
xã hội
Phần III: Cách thức và giải pháp nhằm hoàn thiện, đa dạng,
phát triển SPBHNT
I. Phát triển thị trờng BHNT
1. Sau khi thời hạn bảo hiểm của hợp đồng kết thúc nên có u đãi
với khách hàng tiếp tục tham gia bảo hiểm
đẩy ổn định tăng trởng phát triển kinh tế, xã hội... Với những lí do đó
và mong muốn đợc hiểu biết thêm về ngành bảo hiểm nói chung và thị
trờng BHNT nói riêng tôi đã đi sâu vào nghiên cứu và chọn đề tài
Bàn về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam .
Nội dung của đề tài này gồm có ba phần( không kể lời mở đầu và
kết luận):
Phần I: Khái quát chung về BHNT và SPBHNT
Phần II: Thực trạng BHNT, SPBHNT ở Việt Nam.
Phần III: Cách thức và giải pháp nhằm hoàn thiện, đa dạng,
phát triển SPBHNT...
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
3
Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
Phần i : Khái quát chung về BHNT và SPBHNT.
I.BHNT.
1. Sự cần thiết khách quan của BHNT.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngời trong mọi thời kỳ con
ngời luôn luôn là lực lợng sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định sự
phát triển kinh tế, xã hội tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nớc. Mặc dù đã có BHXH, BHYT thực chất cũng là bảo
hiểm cho con ngời nhng hững loại hình bảo hiểm này có đối tợng và
phạm vi rất hạn hẹp và đa số các nớc triển khai những laọi hình bảo
hiểm này đều gắn với những chính sách kinh tế xã hội trong từng thời
kỳ cho nên nó không đáp ứng đợc nhu cầu một cách toàn diện của các
tầng lớp dân c trong xã hội. Đời sống ngày càng nâng cao nhu cầu đợc
an toàn đợc đảm bảo cho bản thân và gia đình càng lớn: trong lao
động sản xuất cũng nh trong cuộc sống con ngời, các cá nhân, tổ chức
doanh nghiệp thờng gặp những rủi ro mà không thể lờng trớc đợc dẫn
đến những hậu quả khó khăn về tài chính ảnh hởng đến tinh thần. Mỗi
cá nhân và gia đình tham gia bảo hiểm đều nhằm mục đích ổn định
Là một loại hình bảo hiểm, cũng nh các loại hình bảo hiểm tài sản
và bảo hiểm trách nhiệm dân sự, BHNT ra đời có những vai trò thể
hiện rõ:
Đảm bảo ổn định cuộc sống cho các cá nhân và gia đình đồng thời
là chỗ dựa tinh thần cho mọi ngời dân và xã hội. Đời sống, khoa học
ngày càng phát triển nhng những rủi ro bất ngờ vẫn luôn xảy ra.
BHNT ra đời góp phần giải quyết những khó khăn (dù rằng hệ thống
bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó khăn) nhng
cũng chỉ mang tính tạm bợ trớc mắt cha đảm đợc lâu dài về mặt tài
chính, bởi rất nhiều cá nhân và gia đình rơi vào tình trạng khi có một
thành viên trong gia đình đặc biệt thành viên đó lại là ngời trụ cột bị
chết hoặc bị thơng tật vĩnh viễn, khi đó gia đình phải mất đi những
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
5
Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
khoản chi về viện phí, mai táng... và bù đắp những khoản thu thờng
xuyên bị mất đi. Sẽ càng khó khăn hơn khi một loạt những trách
nhiệm và nghĩa vụ mà khi ngời chết đi đã cha thực hiện đợc: trả nợ,
phụ dỡng bố mẹ, nuôi dỡng con cái...
Trong các tổ chức doanh nghiệp sản xuất hoạt động kinh doanh
nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo sự lôi cuốn, gắn bó ngay cả
trong những lúc doanh nghiệp gặp khó khăn tránh cho doanh nghiệp
sự bất ổn về tài chính khi mất ngời làm công chủ chốt: kỹ s trởng, tay
thợ lành nghề hay những chuyên viên điều hành mạng internet... Khi
doanh nghiệp mà bị mất họ thì khả năng thu lợi sẽ bị giảm và sẽ gặp
nhiều khó khăn trong công việc điều hành. Do vậy các chủ doanh
nghiệp thờng mua bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sinh mạng... cho ngời
làm công và những ngời chủ chốt nhằm góp phần ổn định tài chính và
sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần
gũi, gắn bó giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
Điểm khác nhau cơ bản của BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ đó là
bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro: với
quyền nghĩa vụ đã xác định trong hợp đồng bảo hiểm bên tham gia
bảo hiểm sẽ nộp phí bảo hiểm cho ngời bảo hiểm, khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra ngời bảo hiểm đảm bảo trả cho ngời tham gia bảo hiểm
hay ngời thân của họ một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm). Nội
dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở
chỗ: ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm sẽ đợc trả một số tiền bảo
hiểm rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm đợc một khoản tiền nhỏ với
điều kiện rủi ro xảy ra trong thời gian bảo hiểm đã ấn định điều này
thể hiện rõ tính chẩt rủi ro trong BHNT. Chính vì đặc điểm này mà số
ngời tham gia bảo hiểm ngày càng đông đảo và cũng từ đặc điểm này
đòi hỏi các đại lý khai thác phải lắm vững từng đối tợng khách hàng
của mình, gợi mở cho họ thấy rõ hơn vai trò và tác dụng trong BHNT.
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
7
Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
Với nghiệp vụ bảo vệ phi nhân thọ chỉ đáp ứng đợc mục đích là
góp phần khắc phục hậu quả khi đối tợng tham gia bảo hiểm gặp sự cố
nhằm ổn định tài chính cho ngời tham gia nhng nghiệp vụ BHNT thì
đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau của ngời tham gia: tạo lập
quỹ giáo dục con cái, giữ gìn tài sản cho thế hệ sau, dùng hợp đồng
BHNT để vay thế chấp, mua sắm tài sản theo kế hoạch riêng, an hởng
tuổi già, cới xin, bảo vệ và lôi kéo những ngời chủ chốt trong doanh
nghiệp... Đáp ứng đợc nhiều mục đích khác nhau mà ngời tham gia
bảo hiểm tính toán lựa chọn sản phẩm nên loại hình bảo hiểm này có
thị trờng ngày càng rộng và đợc rất nhiều ngời quan tâm.
Trong BHNT hợp đồng bảo hiểm rất đa dạng và phức tạp khác với
các bản hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ trong họp đồng BHNT có thể
có 4 bên tham gia: ngời bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm, ngời tham gia
1.Khái niệm:
Xết trên những khía cạnh khác nhau sẽ có các khái niệm khác nhau
về SPBHNT. Nhng khái niệm lại vì cùng là sản phẩm bảo hiểm nên
SPBHNT về thực chất đó là những lời cam kết của bên bán hay doanh
nghiệp bảo hiểm về việc bồi thờng hoạc chi trả bảo hiểm khi có sự
kiện bảo hiểm xảy ra-SPBHNT là tất cả những gì mà ngời tham gia
(hay ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời thụ hỏng) sẽ đợc trong quá trình
trao đổi: bao gồm các lợi ích cơ bản, các bảo đảm về mặt tài chính khi
có các rủi ro thiệt hại xảy ra, các yếu tố đi kèm hay còn gọi là yếu tố
gia tăng nh sự hài lòng của ngời tham gia (hay ngời đợc bảo hiểm
hoặc ngời thụ hỏng) đối với chất lợng phục vụ, uy tín, danh tiếng của
công ty.
2. Đặc điểm của SPBHNT:
Bảo hiểm là một ngành dich vụ mà ở đó sản phẩm của ngành không
giống nh các ngành nghề dịch vụ khác.
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
9
Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
Xuất phát từ bản chất, đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm, SPBHNT
với đặc điểm :
Là sản phẩm vô hình hay sản phẩm không định hình đợc mặc dù có
một số yếu tố hữu hình: biểu tợng nhãn hiệu...nhng về cơ bản nó là
sản phẩm vô hình: ngời mua không thể cảm nhận ngay đợc lợi ích hay
tác dụng của sản phẩm mình đã đăng ký trong hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ mà đơn giản chỉ nhận đợc lời hứa, lời cam kết của công ty
bảo hiểm.
Sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ đó là những sản phẩm không thể
cất trữ (theo nghĩa dich vụ bảo hiểm do các lực lợng bán cung cấp và
các dich vụ ấy không thể đợc tạo ra trớc với số lợng lớn rồi đem cất
vào trong kho và đem ra bán dần) thay vào đó các lực lợng bán, đại lý
ngời tham gia mục đích chính của họ hoặc là để bảo vệ con cái và
những ngời ăn theo tránh khỏi những nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ
của họ hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tơng
lai... Do vậy ngời bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hoá các loại hình sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ nhằm đáp ứng và thoả mãn mọi nhu cầu của
con ngời tham gia bảo hiểm.
Có ba loại hình sản phẩm bảo hiểm cơ bản: bảo hiểm trong trờng
hợp tử vong, bảo hiểm trong trờng hợp sống, bảo hiểm nhân thọ hỗn
hợp.
Ngoài ra những ngời bảo hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung
cho các loại hợp đồng BHNT cơ bản nh sau: bảo hiểm tai nạn, bảo
hiểm sức khoẻ, bảo hiểm không nộp phí khi thơng tật, bảo hiểm cho
ngời đóng phí...
a. Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong:
Đây là loại hình phổ biến nhất và đợc chia thành hai nhóm:
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
11
Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
Bảo hiểm tử kỳ(còn đợc gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm
sinh mạng có thời hạn) đợc ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong
thời gian đã quy định của hợp đồng. Ngời bảo hiểm phải có trách
nhiệm thanh toan số tiền cho ngời hởng thụ quyền lợi bảo hiểm đợc
chỉ định ngợc lại nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì ngời
đợc bảo hiểm không nhận đợc bất kỳ một khoản hoàn phí nào từ số
phí bảo hiểm đã đóng. Ngời bảo hiểm không phải thanh toán số tiền
bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm.
Loại hình sản phẩm bảo hiểm này nhằm mục đích đảm bảo các chi
phí mai táng, chôn cất, bảo trợ cho gia đình và ngời thân trong một
thời gian ngắn, thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc
thế chấp của ngời đợc bảo hiểm.
sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng phi
lợi nhuận, có lợi nhuận và các loại hợp đồng khác tuỳ theo tình hình
thực tế.
Các điều khoản bổ sung: rất cần thiết để tiến hành đa dạng hoá sản
phẩm bởi vì nếu tách riêng các điêù khoản bổ sung thì mức phí bảo
hiểm rất thấp, không đáng kể. Vì vậy nếu triển khai bổ sung cho 3
loại hình trên đặc biệt cho loại hình BHNT hỗn hợp mức phí có tăng
nên một chút nhng khách hàng cảm giác mình đợc hởng nhiều quyền
lợn hơn. Nếu khéo léo thiết kế sản phẩm thì những điều khoản bổ
sung thực chất là một trong những yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp
BHNT. Những điều khoản bổ sung cho ba loại hình bảo hiểm cơ bản
trên thờng bao gồm: tai nạn bảo hiểm sức khoẻ, bổ sung thêm một số
quy định cụ thể( hoàn phí bảo hiểm, nên miễn thanh toán phí bảo
hiểm khi bị thơng tật, tai nạn).
Phần II: Thực trạng BHNT, SPBHNT ở Việt Nam
I.BHNT ở Việt Nam.
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
13
Đề án môn học Kinh tế bảo hiểm
Cùng với sự hình thành và phát triển của thị trờng BHNT trong khu
vực và trên thế giới đến nay ở nớc ta cũng đã triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm này.
1. Sự hình thành BHNT ở nớc ta
BHNT với vai trò và tác dụng của nó đến nay trên thị trờng BHNT
đã phát triển rất nhanh, thu phí từ loại hình bảo hiểm này rất lớn. Bản
chất của BHNT đó là sự cam kết của ngời bảo hiểm và ngời tham gia
bảo hiểm mà trong đó ngời bảo hiểm sẽ trả cho ngời tham gia( hoặc
ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những
sự kiện đã định trớc xảy ra( ngời đợc bảo hiểm bị chết hoặc sống đến
một thời điểm nhất định), con ngời tham gia phải nộp phí bảo hiểm
Thị phần của các công ty BHNT qua các năm
(Theo doanh thu phí)
Các doanh nghiệp BHNT Việt Nam
Doanh nghiệp Năm bắt
đầu triển
khai
Xuất xứ Loại hình
doanh nghiệp
Vốn(Điều lệ)
ban đầu
Vốn hiện nay Vốn điều
lệ dự kiến
sẽ tăng
1. Bảo Việt 1996 Việt Nam Nhà nớc
779 tỷ
đồng(1996)
879 tỷ đồng(vốn
chủ sở hữu năm
2000)
Nguyễn Thị Phơng Nga- Bảo Hiểm-B-K41
15
Năm 2000
Năm 2001
Bảo Minh-CMG(0.7%)
Bảo Việt (54.3%)
AIA(3.6%)
Manulife
(1.8%)
Prudential
(29.9%)
Liên doanh 2 triệu USD 6 triệu USD
10 triệu
USD
3.Manulife 1999 Canada
100% vốn nớc
ngoài 5 triệu USD 8.5 triệu USD
10 triệu
USD
4.Prudential 1999 Anh
100% vốn nớc
ngoài
14 triệu USD 40 triệu USD(từ
tháng 6-2001)
5.AIA 2000 Mỹ
100% vốn nớc
ngoài 5 triệu USD 5 triệu USD
10 triệu
USD
Mặc dù mới triển khai đợc hơn 5 năm nhng thị trờng BHNT Việt
Nam đã đạt đợc những kết quả rất đáng tự hào: doanh thu phí và và số
hợp đồng đạt tốc độ tăng trởng cao. Năm 1996 doanh thu phí cha đạt 1
tỷ đồng, khiêm tốn với trên 1200 hợp đồng đến năm 2000 doanh thu
phí toàn thị trờng BHNT đã đạt 1300 tỷ đồng và các hợp đồng có hiệu
lực đã nên đến gần 1triệu hợp đồng. Đặc biệt năm đáng ghi nhớ của
thị trờng BHNT Việt nam là năm 2001 với doanh thu phí đạt 2786 tỷ
ddồng(tơng đơngn 0,55 GDP) số hợp đồng có hiệu lực đến cuối năm
đạt khoảng1,6 triệu(tơng đơng 2% dân số). Tốc độ tăng doanh thu phí
năm 2001 đạt 115,6% nso với năm 2000, tốc độ tăng doanh thu phí
của các hợp đồng mới đạt trên 89% tăng tốc độ doanh thu BHNT bình
quân trong những năm qua đạt trên 250%/năm, tính từ năm 1999 năm