BÁO CÁO TỔNG KẾT
KHÓA ĐẦU TIÊN ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
TẠI ĐẠI HỌC HUẾ (2008-2012)
I. Quá trình triển khai
Thực hiện chủ trương của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo
(BGDĐT), Đại học Huế đã xác định quyết tâm cao trong việc chuyển đổi từ đào
tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ (HTTC). Nghị quyết của
Đảng ủy Đại học Huế số 11/NQ/ĐU ngày 17/10/2006 khẳng định: Tập trung
lãnh đạo công tác chuẩn bị đào tạo theo học chế tín chỉ, xây dựng lộ trình đào
tạo tín chỉ hợp lý để triển khai trong toàn Đại học Huế.
Ngày 10/10/2006 Ban chỉ đạo đào tạo theo học chế tín chỉ đã được thành
lập theo Quyết định số 865/QĐ-ĐHH-TCNS của Giám đốc Đại học Huế gồm
các đồng chí lãnh đạo Đại học Huế, lãnh đạo các ban chức năng và các đơn vị
trực thuộc để chỉ đạo toàn diện quá trình triển khai đào tạo theo HTTC. Ban Chỉ
đạo cũng đã tích cực liên hệ với các giảng viên, đồng nghiệp tại các trường đại
học có uy tín ở trong và ngoài nước, truy cập internet để tham khảo, nghiên cứu
về thực tế triển khai, về việc xây dựng chương trình đào tạo, các văn bản pháp
quy, văn bản hướng dẫn thực hiện quy trình theo học chế tín chỉ…
Những năm 2006-2008, công tác chuẩn bị cho đào tạo theo HTTC đã được
triển khai tích cực và nghiêm túc. Phương hướng, nhiệm vụ năm học 2007-2008
của Đại học Huế nêu rõ: Thực hiện việc rà soát, đối chiếu lại chương trình đào
tạo đại học theo hướng nâng cao tính linh hoạt, liên thông và chuyển dần quy
trình tổ chức đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ. Chuẩn bị ban hành các văn
bản quy định, quy chế học vụ, xây dựng quy trình đào tạo để triển khai đào tạo
tín chỉ vào năm học 2008-2009.
Ngày 26/9/2007, Giám đốc Đại học Huế ký ban hành Đề án đào tạo bậc đại
học theo học chế tín chỉ. Trong đó năm học 2008-2009 tổ chức đào tạo theo học
chế tín chỉ cho năm thứ nhất, khóa tuyển sinh 2008, tại tất cả các trường đại học
thành viên và khoa trực thuộc Đại học Huế. Riêng Trường đại học Ngoại ngữ,
trong năm học 2008-2009 bắt đầu đào tạo tín chỉ cho tất cả các khóa của trường.
Đại học Huế khuyến khích một số các trường, khoa căn cứ vào tình hình chuẩn
với phương thức đào tạo tín chỉ; hướng dẫn lập danh mục học phần tương
đương, học phần thay thế; quy định sinh viên học cùng lúc 2 chương trình đại
học đã được nghiên cứu và ban hành nhằm tạo ra cơ sở vững chắc, tính đồng
bộ cho việc triển khai đào tạo trong tất cả các đơn vị của Đại học Huế.
Đến nay, các đơn vị đã triển khai đào tạo theo HTTC là Khoa Du lịch,
Khoa Luật, Trường đại học Ngoại ngữ, Trường đại học Sư phạm, Trường đại
học Kinh tế, Trường đại học Khoa học, Trường đại học Nông Lâm, 02 ngành
của Trường đại học Y Dược (Y học dự phòng, Y tế công cộng). Các đơn vị
thường xuyên tổ chức họp rút kinh nghiệm, tiến hành các hội thảo, hội nghị về
đào tạo theo HTTC.
Sơ kết học kỳ đầu tiên, năm đầu tiên, 02 năm triển khai đào tạo theo HTTC
đã được tổ chức tại Đại học Huế và nhiều đơn vị. Việc tổng kết khóa đầu tiên
đào tạo theo HTTC đã được tổ chức tại Trường đại học Ngoại ngữ (31/5/2012),
Trường đại học Sư phạm (02/6/2012), Trường đại học Kinh tế (07/6/2012),
Trường đại học Khoa học (29/6/2012), Trường đại học Nông Lâm (15/9/2012).
Tổng kết cấp Đại học Huế dự kiến tiến hành vào đầu tháng 6/2012 nhưng không
thể tiến hành được do 2 đơn vị lớn là Trường đại học Khoa học và Trường đại
học Nông Lâm chưa tổng kết. Kế hoạch tổng kết vào ngày 14/9/2012 cũng phải
hoãn lại để chờ Trường đại học Nông Lâm tổng kết.
2
II. Những thuận lợi và khó khăn
1. Thuận lợi
a. Quốc tế
Đất nước đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế, chịu sự chi phối của luật
pháp, thông lệ quốc tế và thụ hưởng được thành tựu nhiều mặt từ các quốc gia
trên thế giới. Đào tạo theo HTTC đã được hình thành trong thập niên 1870, đã
được áp dụng rộng rãi ở Mỹ và sau đó là nhiều nước khác trên các châu lục. Với
quá trình phát triển lâu dài và rộng khắp đó, việc áp dụng HTTC ở nước ta nói
chung, ở Đại học Huế nói riêng đã kế thừa được những kinh nghiệm của thế
giới.
học hoặc tín chỉ tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học
3
chuyển ngành nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên ở cấp học,
trình độ đào tạo cao hơn”.
- Ngày 15 tháng 8 năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết
định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ
chính quy theo hệ thống tín chỉ, làm cơ sở pháp lý cho các đơn vị đạo tạo tiến
hành tổ chức đào tạo theo phương thức mới này.
Những bước đi và văn bản nêu trên đã tạo ra môi trường thuận lợi và cơ sở
pháp lý cho việc áp dụng đào tạo theo HTTC ở Đại học Huế. Trong đó phải kể
đến việc một số trường đại học trong nước đã đi đầu, thí điểm trong việc triển
khai đào tạo theo học chế này.
c. Đại học Huế
Ngay từ những bước chuẩn bị đầu tiên, Đảng ủy và Ban Giám đốc Đại học
Huế đã thể hiện quyết tâm trong việc triển khai đào tạo theo HTTC trong toàn
Đại học Huế. Các trường thành viên và khoa trực thuộc cũng đã có sự đồng
thuận cao đối với chủ trương này. Nghị quyết của Đảng ủy Đại học Huế đã
khẳng định đây là nhiệm vụ trọng tâm phải thực hiện từ năm học 2008-2009.
Đại học Huế là một đại học vùng. Cơ cấu đại học vùng với sự hợp nhất của
các trường thành viên tạo điều kiện thuận lợi để tận dụng một cách hợp lý nguồn
nhân lực và vật lực chung của cả Đại học Huế cho tổ chức đào tạo theo HTTC.
Nhiều cán bộ quản lý và giảng viên ở các đơn vị của Đại học Huế đã được
đào tạo ở nước ngoài theo học chế tín chỉ, đã được trải nghiệm thực tế và nhận
thức được những ưu thế của phương thức đào tạo này. Họ đã có những đóng góp
quan trọng trong việc tạo ra sự chuyển biến về nhận thức của cán bộ, giảng viên,
sinh viên và đề xuất các giải pháp triển khai đào tạo theo HTTC vốn còn quá
mới mẻ đối với Đại học Huế.
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, yêu cầu bức thiết của không ít
sinh viên hiện nay là muốn quá trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu phát triển xã
hội, nhu cầu đa dạng và đầy biến động của nguồn nhân lực, nhu cầu được chủ
viên chưa yên tâm về học chế tín chỉ. Cá biệt, một số người còn đề nghị xóa bỏ
đào tạo theo HTTC, quay trở về đào tạo theo niên chế.
Về cơ sở vật chất, đào tạo theo HTTC trước hết đòi hỏi về số lượng phòng
học đủ nhiều nhằm tạo ra khả năng linh động trong việc bố trí lớp học, giờ học.
Thêm vào đó, quy mô đào tạo của Đại học Huế ngày càng mở rộng, trong đó có
loại hình đào tạo không chính quy. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng về số lượng
phòng và nâng cao chất lượng các phòng học còn chậm, chưa đáp ứng được yêu
cầu đặt ra. Giáo trình và các tài liệu học tập khác còn thiếu ở nhiều đơn vị đào
tạo trong khi đào tạo theo HTTC đòi hỏi cao về việc tự học tự nghiên cứu của
sinh viên.
Quản lý và duy trì nề nếp của lớp học phần cũng gặp một số khó khăn do
sinh viên đến từ nhiều khoa, ngành đào tạo khác nhau. Thêm vào đó, sinh viên
được phép rút bớt học phần đã đăng ký (theo Điều 11 Quy chế 43) đã tạo nên sự
lãng phí trong tổ chức đào tạo và đôi lúc còn làm xáo trộn kế hoạch đào tạo của
trường.
Việc phân cấp mạnh cho các trường thành viên cũng làm giảm việc sử dụng
thế mạnh của Đại học Huế trong việc sử dụng chung đội ngũ, cơ sở vật chất
trong quá trình đào tạo.
III. Đánh giá những thành quả và hạn chế
Với việc triển khai đào tạo theo HTTC đồng loạt cho tất cả sinh viên ở
Trường đại học Ngoại ngữ, triển khai theo hình thức “cuốn chiếu” bắt đầu từ
sinh viên năm thứ nhất khóa tuyển sinh 2008 ở Trường đại học Khoa học,
Trường đại học Nông Lâm, Trường đại học Sư phạm, Khoa Du lịch, Khoa Luật
và 02 ngành đào tạo của Trường đại học Y Dược, sau 04 năm học Đại học Huế
đã đạt được một số thành quả nhất định, nhưng bên cạnh vẫn còn những hạn chế
5
cần khắc phục:
1. Về nhận thức của cán bộ, giảng viên và sinh viên
Đa phần cán bộ, giảng viên, sinh viên đã có sự chuyển biến trong nhận thức
về những ưu điểm của đào tạo theo HTTC và tính tất yếu trong việc áp dụng học
thức là nhiệm vụ thường xuyên của cơ sở đào tạo nói chung, của giảng viên nói
riêng. Do đó, chương trình đào tạo không hợp lý hay không hiện đại là do không
được cập nhật, điều chỉnh trước khi chuyển đổi, hoặc do chuyển đổi quá gấp,
mới chỉ tính chuyển thời lượng một cách cơ học, chưa kết hợp với việc cập nhật
tri thức mới. Đào tạo theo HTTC không phải là nhân tố làm cho chương trình
đào tạo bị lạc hậu hoặc không đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực.
- Thang điểm trong đánh giá điểm học phần của đào tạo theo HTTC không
đồng nhất với thang điểm niên chế: 5,5 điểm mới đạt đến điểm trung bình. Do
6
quán tính từ cách cho điểm theo Quy chế 25 (niên chế: 5 điểm đã đạt đến trung
bình) nên khi làm đáp án và chấm điểm, một số giảng viên đã vô tình đánh giá
xếp loại không đúng kết quả học tập của sinh viên. Đặc biệt, bất hợp lý xảy ra
khi giảng viên cho sinh viên theo tín chỉ và sinh viên theo niên chế thi cùng đề
thi, cùng đáp án, cùng đạt điểm 5 như nhau nhưng sinh viên theo niên chế được
xếp loại trung bình còn sinh viên theo tín chỉ bị xếp loại trung bình yếu (chuyển
về điểm chữ là D, tương đương 1 điểm khi tính điểm trung bình chung).
- Quy chế của BGDĐT không phải là một văn bản hoàn toàn cứng nhắc. Từ
Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo HTTC (Qui chế 43), đơn
vị đào tạo được phép xây dựng Quy định (hoặc Quy chế của đơn vị) với những
yêu cầu không thấp hơn Quy chế của Bộ. Ví dụ Điều 25 quy định “… Việc
chấm mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do 2 giảng viên đảm nhiệm” thì Hiệu
trưởng có thể lập Hội đồng chấm với số thành viên lớn hơn 2. Trường đại học
Sư phạm đã áp dụng như vậy. Ngược lại, giảng viên một số đơn vị đã phản ứng
mạnh với Quy chế 43 khi trường giao 2 giảng viên chấm khóa luận tốt nghiệp.
2. Về chương trình và kế hoạch đào tạo
Sau bước đầu tiên gấp rút chuyển đổi chương trình đào tạo sang HTTC để
kịp thời áp dụng vào năm học 2008-2009, các đơn vị đã và đang tiến hành điều
chỉnh nội dung và chương trình đào tạo theo hướng hiện đại hóa, đáp ứng yêu
cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội và phù hợp hơn với những yêu của đào
tạo theo HTTC. Hiện tại 03 chương trình đào tạo của Khoa Du lịch và 19
kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại, học bù hoặc học vượt. Sinh
viên được đăng ký học lại học phần bị điểm F hoặc D. Với quy định này, các
đơn vị đã có nổ lực lớn để tổ chức học kỳ phụ. Riêng Trường đại học Ngoại
ngữ, Trường đại học Nông Lâm và Khoa Du lịch chưa tổ chức được.
3. Về việc củng cố, phát triển đội ngũ và tăng cường các điều kiện triển
khai đào tạo
a. Đội ngũ
Đào tạo theo HTTC đòi hỏi có phần cao hơn đào tạo theo niên chế về số
lượng, năng lực của giảng viên và đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu
chọn lựa người dạy, học phần và thời gian học của người học; đáp ứng sự năng
động trong tổ chức đào tạo. Tuy việc tăng cường đội ngũ đến nay chưa đáp ứng
một cách đầy đủ yêu cầu công tác (như một số đơn vị chưa thể tổ chức học kỳ
phụ trong hè do đội ngũ còn mỏng), nhưng việc sắp xếp lại cơ cấu các phòng
chức năng ở các đơn vị như thành lập hoặc tăng cường nhân lực cho bộ phận
Khảo thí - Đảm bảo chất lượng giáo dục, tổ Dữ liệu… đã giúp vận hành tốt hơn
trong công tác tổ chức triển khai đào tạo.
Đào tạo theo HTTC là một phương thức đào tạo mới, đặc biệt quá lạ lẫm
đối với sinh viên mới trúng tuyển vốn quá quen với cách tổ chức dạy học ở phổ
thông. Chính vì vậy, đội ngũ cố vấn học tập là rất cần thiết để tư vấn cho quá
trình học tập của sinh viên. Số lượng cố vấn học tập đã được các đơn vị quan
tâm phát triển cùng với sự tăng trưởng của số lượng sinh viên được đào tạo theo
HTTC. Trung bình mỗi cố vấn học tập phụ trách từ 40-50 sinh viên. Một số đơn
vị cũng đã rất thận trọng trong việc giao sinh viên cho cố vấn học tập, như
Trường đại học Kinh tế ban đầu mỗi cố vấn học tập chỉ phụ trách khoảng 16
sinh viên. Những năm sau con số này tăng lên dần khi kinh nghiệm của cố vấn
học tập đã được tích lũy. Tỷ lệ sinh viên / cố vấn học tập cao nhất là ở Khoa Du
lịch (Phụ lục 1).
Theo nhận xét của các đơn vị, nhiều cố vấn học tập thực hiện tốt chức
năng nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó, không ít cố vấn do chưa nắm tốt
chương trình đào tạo hoặc chưa vững vàng về quy chế đào tạo nên chưa có
Trường đại học Kinh tế (60,0 – 30,0 – 36,5 – 25,1) (Phụ lục 2).
c. Phần mềm quản lý đào tạo
Phần mềm quản lý là một công cụ khá quan trọng hỗ trợ công tác tổ chức
triển khai đào tạo theo HTTC nhằm đảm bảo vận hành tốt quá trình đào tạo khá
phức tạp và không đồng nhất cho tất cả các sinh viên trong một ngành, một
khóa. Trường đại học Sư phạm và Trường đại học Kinh tế đã chủ động trong
việc sở hữu một phần mềm quản lý riêng. Đại học Huế cũng đã xây dựng một
phần mềm dùng chung cho các đơn vị ngay từ năm đầu tiên triển khai đào tạo
theo HTTC. Phần mềm này đã được hoàn chỉnh dần với phiên bản 2.0 hiện nay
và đang được sử dụng tại Trường đại học Khoa học, Trường đại học Ngoại ngữ,
Trường đại học Nông Lâm (xem thêm tham luận về phần mềm quản lý đào tạo
tín chỉ của Trung tâm Công nghệ thông tin Đại học Huế). Bên cạnh đó, Trung
tâm Công nghệ thông tin Đại học Huế và các đơn vị vẫn tiếp tục biên soạn,
chỉnh lý các phần mềm để ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn triển khai đào
tạo khá phức tạp, có nhiều biến động, thậm chí có những vấn đề chưa được tính
đến khi bắt đầu đào tạo theo HTTC và khi mới triển khai xây dựng phần mềm.
Việc sử dụng phần mềm của Đại học Huế cũng chưa được đồng bộ ở các
đơn vị. Những đơn vị có bộ phận công nghệ thông tin hoạt động tốt (Trường đại
9
học Sư phạm và Trường đại học Kinh tế) hoặc thường xuyên trao đổi với Trung
tâm Công nghệ thông tin để giải quyết những vấn đề nảy sinh thì phần mềm
được vận hành tốt (Trường đại học Ngoại ngữ, Trường đại học Khoa học).
Ngược lại, cũng có những đơn vị gặp khó khăn khi vận hành phần mềm (Trường
đại học Nông Lâm), thậm chí chưa thể đưa phần mềm vào sử dụng (Trường đại
học Y Dược, Khoa Du lịch, Khoa Luật).
d. Các văn bản quản lý, điều hành
Trong quá trình triển khai, các văn bản phục vụ quản lý và điều hành đào
tạo theo hệ thống tín chỉ đã ban hành kịp thời như: Kế hoạch triển khai đào tạo
theo học chế tín chỉ tại Đại học Huế (27/9/2007); Hướng dẫn chuyển đổi chương
trình đào tạo hiện hành phù hợp với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ
sinh viên nhờ tổ chức tốt lớp theo khóa học, trong đó giáo viên chủ nhiệm đồng
10
thời là cố vấn học tập.
b. Kết quả học tập
Sau 4 năm triển khai, có 27.245 sinh viên đã và đang được đào tạo theo
HTTC (chưa tính số sinh viên chính quy mới nhập học năm 2012). Trong đó có
5.636 sinh viên đã tốt nghiệp (tính đến ngày 15/9/2012).
Các đơn vị đã đề cập nhiều đến sự biến động về kết quả học tập khi triển
khai đào tạo theo HTTC so với đào tạo theo niên chế trước đây. Trước hết, đó là
tình trạng sinh viên bị buộc thôi học diễn ra khá nhiều, nhất là sau năm học đầu
tiên, điển hình là ở Trường đại học Khoa học và Trường đại học Nông Lâm (Phụ
lục 3). Tương tự, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp cũng giảm. Ví dụ, tỷ lệ tốt nghiệp
khóa 2008-2012 của Trường đại học Nông Lâm là 83.6% trong khi trung bình
các khóa trước khoảng 91%.
Phân loại kết quả học tập của sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp xác định
theo điểm trung bình chung tích lũy cũng có những biến động lớn. Nhiều đơn vị
tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, giỏi, khá tăng bất ngờ. Tổng ba loại này ở
Trường đại học Sư phạm là 91.3%, Khoa Du lịch là 93.4%.
Tình trạng trên được giải thích với nhiều nguyên nhân:
- Thang đánh giá của hai phương thức tổ chức đào tạo không đồng nhất,
thậm chí có chỗ lệch lớn như trong niên chế điểm trung bình bắt đầu từ 5.0, tốt
nghiệp hạng trung bình và trung bình khá có dải điểm khá rộng, trong khi khá và
giỏi có dải điểm hẹp; ngược lại trong tín chỉ điểm trung bình bắt đầu từ 5.5, nếu
quy về thang điểm 10 thì điểm tốt nghiệp hạng trung bình có dải điểm hẹp và
khá giỏi có dải điểm rất rộng (Phụ lục 4). Nhiều giảng viên không thấy được sự
khác biệt này nên vẫn cho điểm bài thi theo quán tính trước đây.
- Trong HTTC, điểm 4.0-5.4 (D=1) cũng được xếp vào loại đạt, có thể
không cần học lại, thi lại. Nhiều sinh viên chủ quan về điều này nên điểm trung
bình chung thấp.
- Điểm hệ 4 hiện nay chưa phân hóa rõ kết quả học tập của sinh viên.
của 14.184 lượt sinh viên.
Tuy nhiên, do còn lúng túng về các tiêu chí và phương pháp đánh giá giảng
viên, đánh giá tiết học, nên nhiều đơn vị chưa triển khai khảo sát và chưa thể
đánh giá được giảng viên có đáp ứng tốt không việc đổi mới phương pháp dạy
học theo các yêu cầu của đào tạo theo HTTC.
6. Về việc khai thác ưu thế của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Ưu thế nổi bật của đào tạo theo HTTC đã được đúc kết là người học có thể
tích lũy tín chỉ ở những thời điểm và địa điểm khác nhau để đạt được một văn
bằng tốt nghiệp. Bốn năm thực hiện ở Đại học Huế có thể được xem như một
giai đoạn chuyển tiếp từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo HTTC, còn
nhiều lúng túng, bất cập, nên hiệu quả về quản lý và giá thành có thể chưa làm
cho mọi người hài lòng, nhưng những ưu thế khác đã bắt đầu được phát huy.
Người học đã có nhiều cơ hội để chủ động xây dựng kế hoạch học tập cho
mình: rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập, đăng ký khối lượng học tập, chọn
giảng viên, chọn thời khóa biểu thích hợp (Phụ lục 2).
Đã có hàng trăm sinh viên đăng ký học vượt trong các học kỳ phụ (hè).
Trong đó Trường đại học Ngoại ngữ có 88 sinh viên, Trường đại học Sư phạm
có 307 sinh viên. Các đơn vị khác không có số liệu cụ thể do dữ liệu không phân
biệt sinh viên học vượt trong số hàng ngàn sinh viên đăng ký học kỳ phụ. Rất
tiếc, đến thời điểm này mới chỉ có 01 sinh viên của Trường đại học Khoa học tốt
nghiệp sớm. Có 216 sinh viên đã đăng ký và đang học cùng lúc 2 chương trình ở
Trường đại học Khoa học và Trường đại học Ngoại ngữ.
Ngoài ra, những nội dung trình bày trên đây cũng đã thể hiện các ưu thế
khác đang được khai thác dần như công nhận tín chỉ tương đương khi sinh viên
12
học cùng lúc hai chương trình, tăng cường năng lực tự học tự nghiên cứu cho
sinh viên, tranh thủ được nguồn lực chung của các đơn vị trong Đại học Huế.
IV. Đề xuất phương hướng và giải pháp đến năm 2016
1. Phương hướng
Tiếp tục hoàn thiện và mở rộng phương thức đào tạo theo HTTC tại Đại học
kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của xã hội và phù hợp với phương thức đào tạo theo HTTC.
Phối hợp tốt giữa Trung tâm Công nghệ thông tin, Ban Đào tạo đại học,
Ban Khảo thí-Đảm bảo chất lượng giáo dục và các đơn vị đào tạo để nắm bắt
những phát sinh trong quá trình triển khai đào tạo nhằm điều chỉnh kịp thời Phần
mềm quản lý đào tạo theo HTTC.
13
Chú trọng đầu tư trang thiết bị, giáo trình và các tài liệu phục vụ dạy học
khác nhằm tạo điều kiện tốt cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học và tăng
cường hoạt động tự học tự nghiên cứu cho sinh viên. Dành một khoản kinh phí
(dự kiến 500 triệu đồng mỗi năm) để hỗ trợ cho công tác xuất bản giáo trình đào
tạo đại học.
Tiếp tục kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh Quy chế đào tạo theo
HTTC trong các nội dung: Thời gian hoạt động giảng dạy, thời gian và kế hoạch
đào tạo, đăng ký nhập học, đăng ký khối lượng học tập, rút bớt học phần đã
đăng ký, đăng ký học lại, tổ chức kỳ thi kết thúc học phần, thực tập cuối khóa,
làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp, chấm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp…
nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhưng chặt chẽ, có hiệu quả hơn trong việc quản lý
và triển khai đào tạo theo Quy chế.
14
PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Số lượng cố vấn học tập
Đơn vị
2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012
a b c a b c a b c a b c
Kinh tế 56 919 16 66 2085 32 76 3191 42 81 4466 55
Khoa học 28 1546 55 55 2932 53 85 4256 50 109 5202 48
Ngoại ngữ 63 2984 47 65 3025 47 67 3039 45 72 3154 44
Nông Lâm 24 1188 50 45 2023 45 66 2719 41 90 3616 40
Sư phạm 28 1471 53 56 2921 52 84 4274 51 116 5743 50
học
Đầu năm
Buộc
thôi
học
Đầu năm
Buộc
thôi
học
1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
2008 1471 1468 2 1427 16 1421
2009 1453 1422 13 1400 4
2010 1425 1365 9
2011 1557
2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
15
2008 1546 1431 98 1398 12 1398 9
2009 1501 1366 19 1310 47
2010 1492 1431 41
2011 1063
3. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
2008 774 763 731 716
2009 757 715 696
2010 787 758
2011 926
4. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
2008 147 2 140 137 1 137
2009 138 138 138
2010 166 167
2011 225
I. QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trong suốt quá trình phát triển, đi cùng với những thay đổi sâu sắc về kinh
tế xã hội, nền giáo dục đại học ở nước ta đã từng bước thay đổi về qui mô, loại
hình, hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được
những kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động có trình độ cao cho sự phát
triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực tế giáo dục đại
học đang đứng trước một thách thức to lớn, đáng chú ý là chất lượng nguồn
nhân lực đang là một khâu yếu kém. Nền kinh tế nước ta đang phát triển một
cách nhanh chóng, nhưng hệ thống đào tạo nguồn nhân lực chưa thực sự phát
triển một cách hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Trong xu thế đó, đảm bảo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh
tế-xã hội được đặt ra như một yêu cầu tất yếu. Đòi hỏi, hệ thống nền giáo dục
Việt Nam phải đổi mới toàn diện, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Trước thực tế đó, ngày 02/11/2005, Chính phủ ban hành
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về ”Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại
học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020”. Để thực hiện định hướng đổi mới của
Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương áp dụng phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ trong một số Trường đào tạo đại học, cao đẳng ở nước ta và
ban hành Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
(theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT). Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là phương thức đào tạo hiện đại lấy
”người học làm trung tâm” đang được triển khai tại các trường đại học tiên tiến
trên thế giới.
Đón nhận chủ trương đổi mới giáo dục đào tạo của Chính phủ và Bộ
GD&ĐT, Đại học Huế đã quyết định thực hiện đề án đào tạo bậc đại học theo học
chế tín trong Đại học Huế (Ban hành Quyết định số 137/QĐ-ĐHH-ĐTĐH, ngày
26/9/2007 và Công văn số 1124/ĐHH-ĐTĐH ngày 27/9/2007 của Giám đốc Đại
học Huế về Kế hoạch triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ tại Đại học Huế).
- Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ, Ban giám hiệu trong
việc chuyển đổi từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ.
- Nhiều cán bộ, giảng viên đang mong muốn thay đổi quy trình đào tạo hiện
tại, muốn có sự đột phá trong đổi mới quy trình đào tạo.
- Nhà trường đã nhanh chóng trang bị phần mềm quản lý đào tạo, nhằm
phục vụ kịp thời trong tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ.
- Là một trường ĐH thành viên, thực hiện đào tạo theo tín chỉ sẽ tận dụng
được nguồn nhân lực và vật lực chung của cả Đại học Huế trong giảng dạy, học
tập, nhất là giai đoạn giáo dục đại cương.
* Khó khăn:
- Khó khăn trước hết là tư duy người quản lý, người dạy, người học ngại
thay đổi, thụ động trong thu nhận và xử lý thông tin. Môi trường giáo dục phổ
thông còn duy trì những khuôn mẫu cứng nhắc, chưa động viên được tính độc
lập, sáng tạo trong sinh viên đã và đang tạo ra sức ì trong lớp sinh viên mới
trúng tuyển.
- Để có thể tổ đảm bảo chức đào tạo tốt theo đúng bản chất về đào tạo theo
hệ thống tín chỉ, điều mấu chốt phải đảm bảo đủ về cơ sở vật chất (như giảng
đường, phòng máy, thư viên, loa đài, hệ thống phụ trợ ) và đảm bảo đủ về đội
ngũ giáo viên, nhất là đội ngũ giáo viên có trình độ. Đây chính là khó khăn căn
19
nguyên và ảnh hưởng lớn đến quá trình tổ chức đào tạo.
- Phần lớn cán bộ, giảng viên ít có điều kiện tiếp xúc với môi trường đào tạo
tín chỉ, đặc biệt cán bộ quản lý đào tạo chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa hiểu
đúng và đầy đủ một cách bản chất của phương thức đào tạo này.
- Quy mô đào tạo ngày càng mở rộng với đa dạng loại hình đào tạo, công
tác quản lý và điều hành kế hoạch đào tạo rất khó khăn do tồn tại nhiều loại hình
đào tạo khác nhau: Niên chế và tín chỉ, hệ chính quy và không chính quy…
- Việc quản lý đào tạo theo tín chỉ đã phân hoá sinh viên rất nhiều. Trên
thực tế, bên cạnh nhiều sinh viên năng động, tự chủ, còn có một bộ phận không
lớn sinh viên lợi dụng sự mềm dẻo của đào tạo theo học chế tín chỉ, bê trễ trong
nguyện vọng đăng ký.
- Quá trình tổ chức xây dựng đề cương chi tiết các học phần tiến hành quá
chậm, một số học phần đề cương biên soạn không đúng quy định, sơ sài, chưa
ghi rõ điều kiện tiên quyết của học phần, đánh giá v.v , nhiều học phần đến
nay vẫn chưa hoàn thiện đề cương chi tiết, chưa được Hiệu trưởng phê duyệt.
Nhiều giáo viên chưa có đề cương chi tiết học phần để cung cấp cho sinh viên,
vì thế sinh viên không hiểu hết các thông tin để học tập (nội dung, phương pháp
giảng dạy và đánh giá, tính tiên quyết học phàn, nguồn tài liệu ).
Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá của sinh viên về đánh giá quá trình học
tập (Bảng 1), công khai đề cương cương chi tiết và kết quả đánh giá đã cho thấy
rõ hơn về những hạn chế đó:
Bảng 1: Nhận định của sinh viên về phương pháp đánh giá kết quả học tập
TT Tiêu chí GTTB
Mức độ đánh giá
Rất
không
đồng ý
Không
đồng ý
Bình
thường
Đồng
ý
Rất
đồng
ý
1
Giảng viên đánh giá quá
trình học tập của sinh viên
một cách rõ ràng, chính xác
hứng thú và nâng cao khả năng tiếp thu của sinh viên trong giờ giảng của mình.
Một số giáo viên trên bục giảng với học phần giảng dạy của mình đã tạo ra một
sân chơi khá bổ ích cho sinh viên. Kết quả đó đã phần nào cải thiện để rèn luyện
kỹ năng: Kỹ năng về viết chuyên đề, làm bài tập lớn; kỹ năng thuyết trình giải
quyết vấn đề, kỹ năng phân tích tổng hợp, dư duy và kỹ năng luận giải một số vấn
đề một cách logíc và khoa học và đã mang lại những thành công rõ rệt trên cả
phương diện hình thức lẫn nội dung, góp phần tích cực nâng cao chất lượng và uy
tín của Nhà trường.
Kết quả khảo sát sinh viên về đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên
đã cho thấy phần lớn sinh viên đánh giá khá tốt về phương pháp giảng dạy, giá
trị trung bình trên mức 3. với các tiêu chí khảo sát (Bảng2).
Bảng 2: Đánh giá của sinh viên về phương pháp giảng dạy
TT Tiêu chí GTTB
Mức độ đánh giá
Rất
không
đồng ý
Không
đồng ý
Bình
thường
Đồng ý
Rất
đồng ý
1
Giảng viên giới thiệu đầy
đủ tài liệu học tập (Giáo
trình, tài liệu đọc thêm, học
liệu điện tử…)
3,71 1,64 8,20 20,00 57,38 12,79
22
nhiều giáo viên, nhiều học phần chưa đổi mới, chưa tạo ra tính chủ động, sáng
tạo cho sinh viên; phương pháp hướng dẫn sinh viên tự học chưa cụ thể, việc
giao bài tập lớn, chuyên đề cho sinh viên làm còn nhiều bất cập; việc kiểm soát
thời gian và kết quả tự học của sinh viên còn rất hạn chế. Nhiều giáo viên đã lạm
dụng việc ứng dụng tin học vào giảng dạy thông qua Powerpoint để thuyết
giảng, độc thoại là phổ biến, ít sử dụng phấn bảng và rất ít giao tiếp với sinh
viên… Kết quả khảo sát cho thấy đại đa số là giáo viên trẻ vẫn còn hạn chế và
lúng túng trong đổi mới phương pháp giảng dạy. Vì vậy, đề nghị các Khoa, Bộ
môn cần tăng cường thăm lớp, dự giờ, giảng mẫu để hướng tới phương pháp
giảng dạy phù hợp.
3. Đánh giá về công tác tổ chức và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
- Về đăng ký học phần đối với của Khóa 42
Phòng ĐTĐH-CTSV là đơn vị tham mưu trực tiếp cho lãnh đạo nhà trường
về xây dựng và tổ chức điều hành kế hoạch giảng dạy. Trên cơ sở Hội nghị triển
khai kế hoạch giảng dạy, học tập hằng năm, Phòng ĐTĐH-CTSV xây dựng thời
khoá biểu giảng dạy của giáo viên cũng như học tập của sinh viên. Trên cơ sở đó,
Phòng đã tổ chức cho sinh viên đăng ký học phần, nguồn thông tin chủ yếu giúp
cho sinh viên đăng ký là qua sổ tay học vụ (phát cho sinh viên ngay từ khi đến
nhập học), các thông tin liên quan thông báo trên bảng tin và trang Web của
trường. Kết quả đăng ký và học tập của sinh viên khóa 42 (khóa học 2008 - 2012)
thực hiện đào tạo theo học chế tín được thể hiện qua bảng 3.
Bảng 3: Thực trạng đăng ký học theo lớp học phần của Khóa 42
TT Học kỳ
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
ĐÀO TẠO
KÉT QUẢ ĐĂNG KÝ TÍN CHỈ
CỦA SINH VIÊN
(Số sinh viên đăng ký tín chỉ/học kỳ)
Số lớp HP
%
1
Học kỳ
thứ nhất
87 96,67 3 3,33 108 11,54 630 67,31 198 21,15
2
Học kỳ
thứ hai
90 90,00 10 10,00 184 19,66 434 46,37 318 33,97
3
Học kỳ
thứ ba
82 87,23 12 12,77 153 16,31 332 35,39 453 48,29
4
Học kỳ
thứ tư
86 92,47 7 7,53 62 6,61 255 27,19 621 66,20
5
Học kỳ
thứ năm
81 87,10 12 12,90 165 17,61 344 36,71 428 45,68
23
6
Học kỳ
thứ sáu
79 73,15 29 26,85 114 12,15 309 32,94 515 54,90
7
Học kỳ
thứ bảy
80 97,56 2 2,44 341 36,32 276 29,39 322 34,29
chính là tính mềm dẻo của của hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, nhưng nó
cũng tạo nên khó khăn trong việc đăng ký của sinh viên.
Năm cuối (năm thứ tư), năm học này chủ yếu là sinh viên đăng ký một số
học phần bắt buộc còn lại và học phần tự chọn để tích luỹ đủ số tín chỉ để tốt
nghiệp và đi thực tập nghề nghiệp tại các cơ sở sản xuất kinh doanh (kỳ thứ 7).
Học kỳ thứ 8 sinh viên đi thực tập tốt nghiệp làm khoá luận (đối với những sinh
viên được giao làm khoá luận) hoặc học 7 tín chỉ thay thế khoá luận. Kết quả số
sinh viên được giao làm khoá luận tốt nghiệp của Khóa 42 là 511/938 sinh viên
chiếm 54,48%. Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thực hiện đã xuất hiện những
bất cập: Việc tổ chức học các học phần thay thế khóa luận tốt nghiệp đã nẩy sinh
24
nhiều vấn đề về tổ chức thực hiện, về phương thức đánh giá kết quả giữa các
khoa, cụ thể khoa Kế toán - Tài chính đánh giá thông qua chấm chuyên đề;
Khoa Hệ thống thông tin kinh tế và khoa Kinh tế - Phát triển đánh giá thông qua
báo cáo chuyên đề; Khoa Quản trị kinh doanh và Kinh tế chính trị đánh giá
thông qua thi tự luận.
Qua thực trạng trên cho thấy: Việc đăng ký và hủy bỏ các lớp học phần
trong từng học kỳ của Khóa 42 tương đối nhiều. Nguyên nhân chủ yếu là do sinh
viên đăng ký không đủ số lượng, do hiểu biết của sinh viên, do hạn hẹp về phòng
học, do phần mềm chưa hoàn hảo, đáng chú ý là do khả năng và kinh nghiệm điều
hành của cán bộ quản lý đào tạo còn nhiều hạn chế. Kết quả đó đã ảnh hưởng trực
tiếp đến công tác quản lý và điều hành kế hoạch đào tạo, đến cân đối - phân bổ
giảng đường - phòng học, kế hoạch giảng dạy của giáo viên và đăng ký học của
sinh viên.
Kết quả khảo sát sinh viên đã chỉ rõ những hạn chế rất lớn về công tác tổ
chức đăng ký học phần; về hệ thống mạng; về số học phần mở đăng ký trong
mỗi kỳ chưa đáp ứng được yêu cầu đăng ký của sinh viên; về tính mất cân đối
giữa lên lớp và tự học; về tìm kiếm nguồn thông tin về đào tạo theo tín chỉ của
trường. Đây chính là một trong những khó khăn, nhưng cũng là những khiếm
khuyết cơ bản trong quản lý đào tạo cần sớm được tháo gỡ.