MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực hết sức quan trọng,
nguồn lực hàng đầu quyết định sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi
địa phương và cũng là nguồn lực tích cực nhất để khai thác có hiệu quả các
nguồn lưc tự nhiên và nguồn lực xã hội.
Để thực hiện thành công quá trình công tác xã hội, quá trình phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020,
nước ta trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại hóa đòi hỏi
phải có một đội ngũ nhân lực có sức khỏe tốt, có trình độ, có đạo đức, có lý
tưởng, đủ khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và áp
dụng chúng vào sản xuất, vào đời sống kinh tế xã hội.
Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã xác định: lấy việc
phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững, con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát
triển. Nguồn nhân lực có chất lượng cao là nhân tố giữ vai trò quyết định
cho sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên,
muốn phát triển nguồn nhân lực có số lượng đông đảo nhưng đảm bảo về
chất lượng đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế phát triển trong điều kiện
xã hội công nghiệp cần phải có một chiến lược phát triển lâu dài đúng đắn và
khoa học.
Đại học huế với bề dày lịch sử gần 55 năm hình thành và phát triển nay,
trở thành “thương hiệu” là trung tâm đào tạo uy tín nhất của miền Trung
-Tây Nguyên. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công
cuộc xây dựng đất nước nói chung và ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên
nói riêng, là một đại học đa ngành, với nhiều ngành và cơ sở đào tạo chuyên
sâu, Đại Học Huế có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực
chất lượng cao cho cả nước, trước hết là cho khu vực miền Trung -Tây
Nguyên. Với việc mở rộng quy mô và đa dạng loại hình đào tạo, Đại Học
số 11 năm 2004
Tuy nhiên, những kết quả được nghiên cứu về nguồn nhân lực mới chỉ
đề cập tới những vấn đề chung của nguồn nhân lực và mới chỉ từng bước
giải quyết những vấn đề tháo gỡ khó khân trước mắt của vấn đề cơ bản này.
Còn vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Đại Học Huế chưa được đề cập đến.
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả đi trước, đề tài tập
trung phân tích luận giải sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đang đặt ra
trong việc giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Đại Học Huế hiện
nay.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài:
Để hiểu sâu sắc hơn vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở Đại Học Huế.
Nhiệm vụ của đề tài:
Một là, làm rõ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
triết học Mác-Lênin.
Hai là, Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn
Trên cơ sở đó chỉ ra được thực trạng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở
Đại Học Huế, đề xuất những giải pháp trong giáo dục đào tạo phát triển
nguồn nhân lực ở Đại Học Huế.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài: Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác–Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Phương pháp xuyên suốt và tối ưu
trong việc nghiên cứu đề tài là sự phối kết hợp giữa các phương pháp lôgíc lịch sử, phân tích - tổng hợp, chứng minh cũng như các phương pháp khái
quát so sánh để giải quyết vấn đề đặt ra.
5. Đóng góp của đề tài.
phản ánh mối liên hệ bản chất những quy luật của thế giới khách quan cũng
như sự phát triển của tư duy con người.
Để hình thành lý luận, con người phải trải qua quá trình nhận thức kinh
nghiệm.Nó giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giản
trong quá trình tác động trực tiếp đối tượng. Lý luận là sản phẩm cao nhất
của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con
người. Cho nên, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Nhận thức là cả một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết,
từ biết ít đến biết nhiều, từ nông cạn đến sâu sắc, từ hiện tượng đến bản chất
Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất
phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác
nhau. Tuỳ theo tính chất nghiên cứu mà quá trình đó được phân chia thành
nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn
đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản là
cảm giác, tri giác và biểu tượng.Nhận thức lý tính được thể hiện ở ba hình
thức cơ bản là khái niệm, phán đoán và suy lý.
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ
thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế
giới khách quan, lý luận được hình thành không phải nằm ngoài thực tiễn mà
trong mối liên hệ với thực tiễn. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để
làm phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt
động thực tiễn.
Tóm lại, lý luận là một công cụ tư tưởng sắc bén có vai trò rất to lớn đối
với hoạt động thực tiễn cũng như đối với sự định hướng về nhận thức. . Lý
luận cũng có quá trình hình thành và phát triển của nó, không phải lý luận có
khi con người xuất hiện, mà con người phải phát triển đến một giai đoạn
nhất định nào đó lý luận mới được xuất hiện. Lý luận không phải sinh ra vốn
và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp của con người tác động
vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên bằng các công cụ vật chất nhằm tạo ra của
cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phái triển của con người và của xã hội.
Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của con người trực tiếp tác động
vào xã hội cải biến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ
Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các ngành khoa học
tác động làm cải biến những đối tượng nhất định trong một điều kiện nhất
định, theo một mục đích nghiên cứu nhất định.
Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng
chúng thống nhất. Trong mối quan hệ đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạt
động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.
Tóm lại, hoạt động thực tiễn là một phạm trù không thể thiếu đối với
nhận thức khoa học, với quá trình hoạt động trong lĩnh vực lý luận, nghiên
cứu lý luận cần phải hiểu rõ và nắm chắc được tính đúng đắn của thực tiễn
đó là yêư tố góp phần làm nên thành công trong công việc của mỗi người.
1.1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa
con người và thế giới khách quan. Con người luôn tác động tích cực vào thế
giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực
tiễn. Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi
thế giới khách quan là hai mặt thống nhất. Điều đó quy định sự thống nhất
biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và
cộng đồng.
Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập với nhau
nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó
thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đựơc thể hiện ở những khía cạnh
móc và lý luận suông.
1.2 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn
Quan điểm thực tiễn là quan điểm khởi đầu và xuyên suốt trong cuộc
đời và tư tưởng của Hồ chí Minh.
Ngay từ khi còn rất trẻ Hồ Chí Minh đã bộc lộ là một con người thực
tiễn, con người hành động chính thực tiễn cách mạng và cách mạng thế giới
đã hướng dẫn tư tưởng và hành động của Người. Khi vận dụng vào thực tiễn
của cách mạng nước ta. Hồ Chí Minh thường dùng các khái niện “ thực tế”
hay “ thực hành” cùng với các khái niệm “thực tiễn”
Thực tế bao gồm rất rộng. Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tư
tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng, kinh nghiệm lịch sử
của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới”
Hồ Chí Minh xác định lý luận đặc biệt là lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin rất quan trọng, vì nó là kim chỉ nam cho hành động, chỉ phương
hướng cho chúng ta trong hoạt động thực tế. . Khi xác định vai trò của lý
luận Hồ Chí Minh cũng nêu lên ba khuyết điểm mà cán bộ ta thường mắc
phải, đó là kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Hồ Chí Minh nói:
“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành lý luận
mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”
Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến mối quan hệ giữa lý luận - thực tiễn
– kinh nghiệm trong công tác cách mạng. Người nhắc nhở Đảng ta phải kết
hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành. Trong học tập phải theo nguyên
tắc: Kinh nghiệm và thực tế phải đi đôi với nhau. Đặc biệt trong lý luận, Hồ
Chí Minh chú trọng việc học tập lý luận Mác – Lênin cho cán bộ và đảng
viên đồng thời phải truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nhân dân.
Nhưng, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học lấy cái tinh thần, cái
sự phát triển đất nước trong mọi giai đoạn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
2.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã
hội ở nước ta hiện nay.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã hoàn toàn đúng khi
khẳng định rằng, sự phát triển xã hội không phải do lực lượng siêu nhân nào,
mà chính con người sáng tạo ra lịch sử của chính mình và của lịch sự xã hội
loài người. Thông qua thực tiễn, con người khẳng định vai trò là động lực
đối với sự phát triển xã hội.
Nguồn nhân lực với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo ra lịch sử,
làm cho lịch sử vận động theo khuynh hướng tiến bộ. Khi so sánh với các
nguồn lực khác của sự phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là
nguồn lực trọng yếu nhất, hơn thế con người còn là nguồn lực vô tận có khả
năng khai thác không bao giờ cạn. Chúng ta đều biết sự phát triển xã hội
luôn cần đến hệ thống các nguồn lực khác nhau như: tài nguyên thiên nhiên,
vốn, lao động… Trong đó, con người là nguồn tài nguyên quý giá nhất. Các
nguồn vật chất ngoài con người, đương nhiên là cần thiết cho sự phát triển
kinh tế xã hội song chúng là nguồn lực hữu hạn.
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khi khoa hoc kỹ thuật phát triển mạnh,
trí tuệ được ví như là nguồn tài nguyên vô giá, đồng thời lao động trí tuệ của
con người có ảnh hưởng quyết định đối với năng suất lao động. Trong thời
đại văn minh, con người càng là chủ thể thì đồng thời là đối tượng khai thác
của chính mình. Do đó con người trở thành nguồn lực nội sinh rất quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Nguồn nhân lực là lực lượng duy nhất, có khả năng phát hiện, xác định
mục tiêu, nội dung và những giải pháp phát triển đất nước.Chính vì thế, Đại
hội X, một lần nữa khẳng định, cần phải coi trọng hơn nữa chất lượng nguồn
lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội, phải thực sự coi đó là nguồn
vốn quý nhất, trong tất cả các vốn quý của xã hội.
Về cấp học bao gồm đào tạo sau đại học (Thạc sỹ, Tiến sỹ), đào tạo đại
học - cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và trung học phổ thông (chuyên
Toán, chuyên Văn ở Đại Học Khoa học, chuyên Anh, chuyên Pháp ở Đại
Học Ngoại ngữ ). Về loại hình đào tạo, có hệ chính quy, đào tạo văn bằng 2,
hệ vừa làm vừa học, chuyên tu, đào tạo từ xa, đào tạo cấp chứng chỉ quốc
gia về ngoại ngữ và tin học. Ngoài ra còn có đào tạo nội trú, đào tạo chuyên
khoa cấp 1, cấp 2 của ngành Y. Về ngành học, hiện tại Đại học Huế đảm
nhận 88 ngành đào tạo cử nhân, 59 chuyên ngành cao học và 22 chuyên
ngành Tiến sĩ. Số lượng sinh viên hiện đang theo học khoảng 80.000, trong
đó có trên 23.000 sinh viên chính quy, còn lại là sinh viên các hệ khác. Qui
mô đào tạo sau Đại Học tăng bình quân mỗi năm là 15%; số lượng học viên
tuyển được đều đảm bảo và tăng so với kế hoạch giao.
Phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, Đại học Huế có
47 phòng thí nghiệm, Trung tâm Học liệu, Bệnh viện Trường Đại học Y
khoa, Trại Thực hành và Thí nghiệm Nông nghiệp... .
Về đội ngũ cán bộ: Hiện nay Đại học Huế có 2.777 biên chế và hợp
đồng lao động (trong đó có 2.000 cán bộ thuộc biên chế được giao). Tổng số
cán bộ giảng dạy trên 1.600 trong đó có 650 thạc sĩ, 290 tiến sĩ (chiếm trên
60% tổng số cán bộ giảng dạy); 80 giáo sư, phó giáo sư (5,5%), 436 giảng
viên chính (trên 33%).
Cán bộ, giảng viên của Đại học Huế đa dạng về chuyên môn. Phần lớn
các cán bộ có từ 15 - 25 năm trong nghề và có trình độ chuyên môn tốt, đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ phát triển đào tạo, nghiên cứu khoa học. Kế
hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán
bộ quản lý thực hiện tốt.
Với thực trạng trên trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực Đại Học Huế
đã có những thế mạnh sau: Đa dạng về ngành nghề đào tạo; Phần lớn các
ngành đào tạo đại học của Đại học Huế đều có bề dày kinh nghiệm trên 30
các phương pháp dạy học hiện đại chỉ được áp dụng đơn lẻ theo dạng thử
nghiệm, chưa tạo được một phong trào đổi mới toàn diện và sâu sắc trong
toàn Đại Học Huế; nhiều giảng viên vẫn duy trì phương pháp dạy học truyền
thống, nặng về thuyết giảng, thiếu thực hành và liên hệ thực tế; ; Sự kém
hấp dẫn về môi trường phát triển cũng như chế độ ưu đãi đối với đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là lực lượng cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản ở
các cơ sở đào tạo nước ngoài;
2.3. Một số giải pháp cơ bản trong gáo dục đào tạo nguồn nhân lực
ở Đại Học Huế.
Vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực, giải quyết các vấn đề
xã hội bao giờ cũng là vấn cơ bản, có tính chiến lược và cần phải tiến hành
một cách nghiêm túc, thận trọng tránh chủ quan duy ý chí.
Muốn nâng cao giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng Đại
Học Huế phải tiến hành các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, tăng cường các hoạt động dự báo cung – cầu nguồn nhân lực
chất lượng cao. Dự báo cung – cầu nguồn nhân lực là nhiệm vụ có thể giao
cho chính bản thân các cơ sở đào tạo hoặc các cơ sở nghiên cứu dự báo tư
nhân tiến hành.
Thứ hai, phát triển và đào tạo các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu
chuyển đổi ngành nghề, tái cấu trúc của các doanh nghiệp sau khủng hoảng,
đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao và phương pháp quản lý mới.
Thứ ba, Đại Học Huế cần phát triển các chương trình đào tạo chất
lượng cao theo hướng tăng cường kiến thức thực tế, kỹ năng nghề nghiệp và
khả năng ngoại ngữ. Đảm bảo chất lượng, củng cố và tăng cường năng lực
của bộ phận đảm bảo chất lượng để đủ sức tham mưu cho lãnh đạo trong
việc xây dựng các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng và tiến hành kiểm định
chất lượng ở các cấp khác nhau. Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng
thống nhất trong toàn Đại Học Huế. Xây dựng chương trình, chính sách và
công nghệ, hợp tác quốc tế và dịch vụ; Chủ động cân đối và tìm kiếm các
nguồn đầu tư, đặc biệt từ các nguồn hợp tác quốc tế.
Thứ chín, hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức, quốc tế để nâng
cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học nâng cao chất lượng đào tạo.
Thu hút nguồn nhân lực là việt kiều để giảng dạy cho Đại Học Huế và làm
việc trong lĩnh vực công nghệ cao. Xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế
hướng theo mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Hợp tác liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài. Hợp tác quốc tế
nhằm góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, mở rộng liên kết đào tạo với nước
ngoài và góp phần nâng cao chất lượng đạo tạo và tăng nguồn thu tài chính
cho Đại Học Huế.
Thứ mười, Đổi mới phương pháp đào tạo, chuyển đổi phương thức đào tạo
theo niên chế sang học chế tín chỉ, chú trọng các phương pháp dạy học tích
cực theo 3 tiêu chí: Tăng cường tính chủ động của người học, trang bị cách
học, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học, đưa
những phương pháp dạy học và tư duy hiện đại vào Đại Học Huế : phương
pháp tư duy sáng tạo, phương pháp điển cứu, tình huống, đóng vai, mô
phỏng, ….. một cách phổ biến và thống nhất. Đa dạng hóa các hình thức
kiểm tra đánh giá theo hướng đảm bảo tính chính xác, khách quan …
KẾT LUẬN
Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà
bằng thực tiễn. Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới
mà nhận thức của con người được hình thành và phát triển. Bằng hoạt động
thực tiễn con người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộc lộ những
thuộc tính, những quy luật để con người nhận thức chúng - nhận thức lý
luận. Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận
là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã xác định vai trò đặc
ngành, với nhiều ngành và cơ sở đào tạo chuyên sâu ở miền Trung-Tây
Nguyên, Đại Học Huế có vai trò quan trọng then chốt trong việc cung cấp
nguồn nhân lực chất lượng cao cho cả nước, trước hết là cho khu vực miền
Trung-Tây Nguyên. Với việc mở rộng quy mô và đa dạng loại hình đào tạo,
Đại học Huế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực
cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước.
Chính vì vậy nghiên cứu lý luận tổng kết thực tiễn để tìm ra con đường
phù hợp cho việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong nước và
thế giới là rất cần thiết. Vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và thực tiễn vào việc phát triển nguồn nhân
lực ở Đại Học Huế thực chất là nhận thức được thực trạng, phương hướng,và
cácgiải pháp đó là cách thức của sự phát triển vừa là mụch đích của quá trình
của quá trình phát triển kinh tế xã hội.