Tiểu luận: Các quy định chính về bảo vệ và thúc đẩy đầu tư trong Luật đầu tư quốc tế - Pdf 12

1

Tiểu luận
Các quy định chính về bảo vệ và thúc
đẩy đầu tư trong Luật đầu tư quốc tế Case
Asian Agricultural Products Limited v.Sri Lanka Nhóm thực hiện : Nguyễn Minh Thịnh C33
Đỗ Duy Tuấn C33
Đoàn Lê Phương Thúy D33
Nguyễn Tuyết Nhung D33


2. Yêu cầu của Nguyên đơn

i. Trách nhiệm không điều kiện của việc “an ninh và bảo vệ đầy đủ”
đưa ra trong điều 2 Hiệp định đầu tư song phương
ii. Điều 4(2) của Hiệp định này yêu cầu sự đền bù đầy đủ cho thiệt
hại tài sản của Nguyên đơn trong trường hợp không thể biện hộ bởi
hoạt động giao tranh hoặc sự cần thiết của tình huống
iii. Cuối cùng, Nguyên đơn đòi hỏi rằng trách nhiệm pháp lý của
Chính phủ mở rộng ra trách nhiệm của Quốc gia gây ra thiệt hại
dưới nguyên tắc tập quán của luật quốc tế.
3. Lập luận của các bên
Cả 2 bên đều viện dẫn BIT giữa UK và Sri Lanka.Tuy nhiên mỗi bên đã
phân tích những điều khoản liên quan của ĐƯ theo cách khác nhau dẫn
đến những kết luận khác nhau.
3

a) AAPL
Quan điểm của AAPL được thể hiện ở những điểm sau:
- Bên đầu tư “sẽ được hưởng an ninh và bảo vệ đầy đủ trong lãnh thổ
của bên nhận đầu tư”. Theo Nguyên đơn, “ý nghĩa nguyên bản của
những từ ngữ “an ninh và bảo vệ đầy đủ” chỉ ra sự chấp nhận trách
nhiệm pháp lý triệt để bởi quốc gia nhận đầu tư”.
- Với “ngữ cảnh” của toàn bộ “chủ thể và mục đích” của Hiệp định, và
xem xét ngôn ngữ “đồng thuận và rất giống nhau” được sử dụng trong
toàn bộ Hiệp định Đầu tư song phương bao gồm Srilanka và quốc gia
thứ ba, phân tích so sánh với các mô hình khác thể hiện rằng thuật
ngữ “an ninh và bảo vệ đầy đủ” được xem là “ tự do về đặc điểm, độc
lập về liên hệ đối với luật tập quán uốc tế”
- Bằng việc loại bỏ lý thuyết “bảo hộ ngoại giao” sử dụng rộng rãi bởi
thuật ngữ của US “hữu nghị, thương mại và hàng hải” (FCN) về bảo

những nhà quân sự đó”.
- Hơn thế nữa, Nguyên đơn chắc chắn rằng “sự phá hoại và giết chóc
toàn bộ bởi lực lượng an ninh của Chính phủ hoàn toàn không tương
xứng với những gì cần thiết để đáp ứng nhu cầu cấp bách cụ thể của
tình huống hiện hành tại phương tiện của SSL.
- Dựa vào câu chữ của Điều 4(2), quan điểm của Nguyên đơn là: “quy
trách nhiệm cho Bị đơn để chứng tỏ rằng sự phá hoại tài sản của
Nguyên đơn là yêu cầu cần thiết của tình huống.
b) Srilanka

Tranh cãi chủ yếu của Chính phủ có thể kết luận như sau:
- Ngôn từ “an ninh và bảo vệ đầy đủ” là thông thường trong các hiệp
định đầu tư song phương, và nó kết hợp chặt chẽ với tiêu chuẩn pháp
lý quốc tế tập quán của trách nhiệm. Tiêu chuẩn pháp lý quốc tế này
đối hỏi sự cố gắng thích đáng của Quốc gia và sự biện minh hợp lý
cho bất kỳ sự phá hủy tài sản, nhưng không phải trách nhiệm pháp lý.
- Tiêu chuẩn của trách nhiệm pháp lý dưới Điều 2(2) và 4(2) là giống
nhau. Trong cả hai trường hợp, một yêu cầu của sự hợp lý là dựa vào
hành động của Chính phủ., dưới tiêu chuẩn luật quốc tế thể hiện trong
điều 2.(2), Chính phủ gánh chịu trách nhiệm pháp lý nếu nó thất bại
trong việc xử lý với việc bồi thường xứng đáng. Dưới điều 4.(2),
Chính phủ chịu trách nhiệm pháp lý nếu các hành động của mình
không cần thiết.
- Trách nhiệm của bằng chứng phải được đảm bảo bởi Nguyên đơn, bằng
việc chứng minh rằng “ thông qua bồi thường thích đáng, Chính phủ
có thể ngăn chặn Batticalon khỏi sự thất bại dưới sự kiểm soát của
những kẻ khủng bố, do đó cần thiết phải có những hành động chống
lại những kẻ nổi loạn. Nếu AAPL không chứng minh được hành động
an ninh là có thể tránh được thì trách nhiệm của AAPL là phải chứng
minh Chính phủ gây ra sự hủy hoại trong đợt mở rộng quân sự ngày

phá hủy bởi Chính phủ do nội chiến, bất chấp có cần thiết hay không,
được bảo hộ bởi “điều khoản công bằng và hợp lý” thông thường
Cuối cùng, đáng chú ý là qua các phiên tòa trọng tài, Chính phủ Srilanka cho
rằng:
- Sự hủy hoại không thể quy cho lực lượng an ninh của chính phủ mà
do những tên khủng bố
- Đã có một cuộc chiến hiệu quả giữa Lực lượng an ninh Đặc biệt của
Chính phủ và nhóm những Con hổ; và
- Không có bằng chứng nào về việc phá hủy tài sản “không được yêu
cầu bởi sự cần thiết của tình cảnh”
Do đó, từ quan điểm của Bị đơn, sự bồi thường được đưa ra trong Điều
4(1) không thể áp dụng do sự thiếu sót của 3 trong số các điều kiện tối
cần thiết. Do vậy, khả năng áp dụng điều 4.(1) không thể giải thích một
cách hợp lý.

4) Phân tích của Tòa

6

- 2 bên đồng ý dùng BIT giữa Sri Lanka và UK là nguồn của Luật.2 bên bất đồng
trong việc giải thích các điều khoản.
- Điều đầu tiên Tòa phải làm là xác định nội dung của những điều ước liên quan
mà 2 bên bất đồng trong viêc giải thích ĐƯ , dựa trên Đ31 –CƯ Viên về Luật
ĐƯ.
- Những nguyên tắc khác giúp Tòa xác định vấn đề diễn giải ĐƯ :
a) Khi nghĩa của một điều khoản đã rõ ràng từ câu chữ thì không có lý do nào để
từ chối nghĩa thực tế của điều khoản đó. (theo Vattel’s Chapter on Interpretation of
Treaties-chapter 17)
b) Dựa vào cách sử dụng phổ biến mà tập quán đã gắn cho những từ ngữ đó
c) Dựa vào tinh thần và những mục đích của Điều ước


+ Article 3 của ĐƯ giữa Sri Lanka và UK cung cấp chế độ tối huệ quốc
+ Điều 4 khoản 1 và điều 2 khoản 2
- Đệ trình của bên nguyên đơn dựa trên giả định rằng “Sự bảo vệ và an ninh
đầy đủ” trong điều 2 khoản 2 đã tạo ra một trách nhiệm pháp lý chặt chẽ mà chính
phủ Sri Lanka phải chịu cho bất cứ sự phá huỷ đầu tư thậm chí gây bởi những
người gây ra hành động mà không phải là người của chính phủ nước nhận đầu tư
và trong bất kỳ trường hợp ngoài tầm kiểm soát của nước nhận đầu tư.
- Tranh cãi của Nguyên đơn dựa vào 2 thuật ngữ sau trong ĐƯ : “hưởng”( enjoy)
và “đầy đủ” (full).Theo Nguyên đơn, các bên có ý định cung cấp cho nhà đầu tư sự
bảo đảm cho tất cả những thiệt hại họ phải chịu do sự phá hủy đầu tư vì bất cứ lý
do gì và không cần biết ai là người đã gây ra thiệt hại đó,dưới bất cứ trường hợp
nào.
 Quan điểm của Tòa: sự giải thích Điều 2 khoản 2 như trên không phù hợp với
bất cứ quy tắc của việc dịch các điều khoản đã được nêu trên.
Thực tế, những cách diễn đạt tương tự như vậy đã được sử dụng từ thế kỷ trước
trong nhiều ĐƯ song phương để thúc đẩy sự trao đổi kinh tế và để cung cấp cho
công dân cũng như các công ty của một quốc gia đầu tư ở quốc gia khác có được
sự đối xử thỏa đáng trên lãnh thổ của quốc gia nhận đầu tư,về bản thân họ cũng
như tài sản của họ.
- Tranh cãi về việc hiểu thuật ngữ: “full protection and security” có phải được
hiểu như một trách nhiệm bảo đảm các nhà đầu tư không chịu một thiệt hại
nào trên lãnh thổ của nước nhận đầu tư ?
- Tòa đưa ra case Sambiaggio mà có tranh cãi tương tự.( ĐƯ 1861 giữa Ý và
Venezuela ,việc dịch những thuật ngữ tương tự cũng trở thành tranh cãi chính của
2 bên)
- Ý tranh cãi rằng : theo Đ4 của ĐƯ 1861 chính phủ Venezuela bảo đảm
(guarantee) cho nhà đầu tư Ý ở Venezuela .
“The protection and security ….which the Venezuelan Government guarantees by
Article 4 of the Treaty of 1861 to Italians residing in Venezuela”

cung cấp môi trường đủ sự bảo vệ hợp pháp.
-> Không thể xác định được liệu Sri Lanka và UK trong khi đàm phán có tính đến
việc thiết lập một trách nhiệm pháp lý triệt để có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài
như một trong những mục tiêu của sự bảo vệ nói đến trong điều ước?
Nói cách khác, chẳng có bên nào tuyên bố rằng việc bảo vệ như trong ĐƯ nghĩa là
trách nhiệm pháp lý triệt để đối với nước nhận đầu tư trong trường hợp việc đầu tư
chịu những thiệt hại do sự phá hoại tài sản.
- Theo đó việc viện dẫn đến tinh thần và những mục tiêu của ĐƯ không
làm thay đổi kết luận của Tòa trong việc từ chối xem xét Điều 2 khoản 2 áp
đặt trách nhiệm pháp lý triệt để “strict liability” đối với nước nhận đầu tư khi
nước nhận đầu tư thất bại trong việc bảo vệ và an ninh đầy đủ cho bên đầu
tư.

- Lý lẽ của Nguyên đơn là Đ2 khoản 2 thông qua một tiêu chuẩn của trách nhiệm
pháp lý chặt chẽ sẽ dẫn tới kết luận rằng Đ4 sẽ là thừa , với nghĩa là theo cách dịch
ĐƯ của Nguyên đơn , các bên không nghiêm túc trong việc thêm vào ĐƯ của họ 2
điều khoản mà không bị mắc trong thực tế.Việc dịch ĐƯ như vậy bị bác bỏ trong
ứng dụng của Nguyên tắc (d).Theo (d) Điều 2 khoản 2 phải được hiểu mà không
bỏ đi Điều 4.

- Qui tắc (e) , những tiền lệ được thiết lập bởi Tòa trọng tài trong vụ Sambiaggio
và bởi hội thẩm ICJ trong Elettronica Sicula case đã ủng hộ sự từ chối của Tòa
trong việc phân tích những từ “bảo vệ và an ninh đầy đủ” như một “trách nhiệm
9

pháp lý triệt để” đối với nước nhận đầu tư cho bất cứ thiệt hại nào nhà đầu tư phải
chịu do sự phá hủy ở nước nhận đầu tư như điều khoản bảo vệ đầu tư trong ĐƯ.

 Từ những lý do trên Tòa tuyên bố không tìm được lời biện hộ nào của bên
Nguyên đơn nhằm vào việc xem xét chính phủ Sri Lanka có chịu một trách

(k) Quyết định của tòa án dựa trên sự thuyết phục của bằng chứng.

- Điều 4(2) quy định một tình trạng cụ thể mà trở nên thích hợp trong trường hợp
được mô tả bởi sự tồn tại của 3 yếu tố :
10

+ Sự phá hủy tai sản không chỉ xuất hiện trong thời gian chiến tranh mà chính xác
hơn chứng minh được sự phá hủy đó do lực lượng của chính phủ
+ Sự phá hủy không bị gây ra trong trận chiến, vì tiêu chuẩn cao hơ của trách
nhiệm pháp lý (bồi thường đầy đủ,) gắn liền với giả định việc phá hủy phi lý được
thực hiện không trong cuộc chiến
+ Việc phá hủy không phải yêu cầu của tình trạng cần thiết.(chứng minh lực lượng
an ninh đã vượt qua giới hạn hợp lý khi thực hiện sự phá hủy không cần thiết)
- Hơn nữa, Nhà đầu tư viện dẫn Điều 4 (2) phải chứng minh :
+lực lượng chính phủ gây ra sự phá hủy chứ không phải nhóm phiến
quân
+ Sự phá hủy này xuất hiện không phải trong một cuộc chiến
+ Chính phủ đã có thể tránh không phá hủy vì tính không cần thiết của nó.

Tòa đánh giá bằng chứng của 2 bên phù hợp với qui tắc (g) ,(h) ,Tòa cho rằng :
- Sự phá hủy tài sản ở trại Serendib’s diễn ra ngày 28/1/1987 trong suốt thời gian
giao tranh và thiệt hại xuất hiện trong suốt thời gian lực lượng an ninh chính phủ
Sri Lanka chiếm giữ trại
- Không có bằng chứng thuyết phục sự cáo buộc của bên Nguyên rằng việc đốt
cháy gây ra sự thiệt hại tài sản là do quân đội của chính phủ và không có bằng
chứng nào chứng tỏ rằng Tôm bị thiệt hại do hành động của lực lượng an ninh.
- Không có bằng chứng nào chứng tỏ cáo buộc của bên Bị rằng việc đốt cháy gây
ra sự phá hủy tài sản là do nhóm phiến quân khi kháng cự lại lực lượng an ninh.

Vì vậy , Tòa tìm ra rằng điều kiện đâu tiên của điều 4 (2) không thể được thoả mãn

Đ4 khoản 1 trở thành phần duy nhất đưa ra giải pháp cho bên Nguyên.

- Xem xét Điều 4 khoản 1
Điều kiện duy nhất của Điều 1 là : “losses suffered ” - đủ để đưa ra sự ứng dụng
của Điều 4 khoản 1 mà không cần phải chứng minh bên nào chịu trách nhiệm cho
sự phá hủy, hay cho vấn đề liệu việc phá hủy là cân thiết hay không? Phạm vi của
việc áp dụng Đ4 (1) không gặp bất cứ một giới hạn hợp pháp nào.

Theo điều 4(1) , nhà đầu tư đã hưởng “full security ” theo điều 2(2) của Sri
Lanka/UK IBT sẽ được đối xử thỏa đáng không ít hơn so vơi những công ty của
nước nhận đầu tư hoặc công ty của nước khác. “no less favourable treatment” bảo
đảm bao gồm tất cả các trường hợp mà nhà đầu tư chịu tổn thất vì những lí do như
“tình trạng khẩn cấp của Quốc gia, bạo động, ” cùng với việc liên quan đến những
phương pháp được liệt kê trong điều 2 khoản 2 “bồi thường”

Tòa khẳng định rằng BIT đã không đưa ra cho nước nhận đầu tư sự miễn trách
nhiệm hoàn toàn trong trường hợp nhà đầu tư bị tổn thất vì sự phá hủy của nước
nhận đầu tư xuất hiện trong hành động chống lại phiến quân của lực lượng an ninh
chính phủ.

Khi thất bại trong việc đưa ra sự bảo vệ và an ninh đầy đủ , trách nhiệm của nước
nhận đầu tư được thiết lập và sự bồi thường theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn
của LQT được phát triển trước đó liên quan đến sự thất bại của QG tuân theo its
“due diligence” theo tiêu chuẩn tối thiểu của Luật TQQT.

Vì vậy , bất cứ nhà đầu tư nào thậm chí trong BIT của Quốc gia của nhà đầu tư đó
với Sri Lanka không bao gồm điều khoản tương tự như Đ2 (2) sẽ vẫn được bảo vệ
12

do trách nhiệm “due diligence” của nước nhận đầu tư. Trách nhiệm này được ngụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status