BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN VĂN HỌC
***** Hoàng Thị Huế THƠ MỚI NHÌN TỪ GIÁC ĐỘ QUAN HỆ
VĂN HÓA - VĂN HỌC Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số : 62.22.34.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CÂC BĂI BÂO KHOA HỌC ĐÊ CNG BỐ:
1. Cảm thức văn hóa về con người và phương thức biểu hiện của Thơ
Mới - Thông báo khoa học ĐH Huế 5/2001
2. Một vài suy nghĩ về giảng dạy Thơ mới ở nhà trường THPT - Kỷ
yếu hội nghị khoa học ĐH Huế 4/2002
3. Thử tm hiểu chất dđn gian trong thơ Nguyễn Bính - Tạp chí nghiên
cứu văn hóa dân gian TT-Huế 12/2002
4. Sắc thâi văn hóa Huế trong thơ của một số nhà Thơ Mới - Thông
báo khoa học ĐH Huế 16/2003
5. Thử lý giải một mô típ chủ đạo trong thơ Nguyễn Bính - Thông báo
khoa học ĐHSP Huế 5/2005
6. Xứ Huế với bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử
- Tạp chí
Huế Xưa và Nay 6/2005
7. Bích Khê và cách đánh giá của Hoài Thanh - Tạp ch nghiên cứu
văn học Hà Nội 4/2006
8. Cảm thức văn ha trong ngn ngữ nghệ thuật Thơ mới - Tạp chí văn
hóa nghệ thuật Hà Nội 8/2006
9. Một số thể Thơ mới trong quan hệ với văn hóa 1932-1945 - Kỷ yếu
hội nghị khoa học Đại học KHXH - NV Hà Nội 11/2006. Phần một: MỞ ĐẦU
I. MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA ĐỀ TÀI:
ra đời của Thơ mới. Trong cuốn Phong trào Thơ mới (1982) của Phan Cự
Đệ, Thơ mới những bước thăng trầm (1993) (Lê Đình Kỵ) cũng cho rằng
Thơ mới "có một mối liên hệ rất dễ thấy với truyền thống cũ. Con mắt thơ
(1992) của Đỗ Lai Thuý là công trình nghiên cứu có nhiều giá trị thuyết
phục, Thơ mới được đặt trong s
ự so sánh với hai mô hình văn hoá truyền
thống và hiện đại. Với Thơ mới bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1994)
Nguyễn Quốc Túy đã chỉ ra sự tác động của ba nguồn văn hóa song chỉ
dừng lại ở những ảnh hưởng trên bề mặt tác phẩm. Một thời đại trong thi ca
(về phong trào Thơ mới 1932-1945) (1997) (Hà Minh Đức chủ biên), Nhìn
lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 n
ăm phong trào Thơ mới) (1997)
(Huy Cận, Hà Minh Đức chủ biên) cũng có đề cập đến nguồn ảnh hưởng
của thơ Pháp, thơ Đường và truyền thống thi ca dân tộc trong Thơ mới
nhưng vẫn chỉ dừng ở nhận xét mà không lý giải. Phác thảo quan hệ văn
học Pháp với văn học Việt Nam hiện đại (1998) (Hoàng Nhân) ít nhiều có
nhắc đến vai trò của văn hoá đối với Thơ m
ới song nghiêng về mối quan hệ
giữa hai nền văn học nhiều hơn. Từ cái nhìn văn hóa (1999) của Đỗ Lai
Thúy cũng là công trình có nhiều gợi mở trong phương thức tiếp cận văn
học từ văn hóa. Trong Những thế giới nghệ thuật thơ (2001), Trần Đình Sử
đã phân loại các khuynh hướng sáng tác kèm theo những quan niệm về thế
giới, về con người của các nhà thơ, là nh
ững luận điểm có nhiều gợi ý đối
với chúng tôi khi khảo sát đề tài. Với Giọng điệu trong thơ trữ tình (2002),
Nguyễn Đăng Điệp cho rằng nên tìm hiểu Thơ mới ở "vị thế" "tâm thế"
"thân phận" nhà thơ trong đời sống xã hội, trong những gì chìm vào phần
trầm tích văn hóa. Đây cũng là những gợi ý có giá trị. Văn hoá Việt Nam -
Nhìn từ những mẫ
u người văn hoá (2005) Đỗ Lai Thúy khẳng định con
mới với thơ Đường (Lê Thị Anh - TCNCVH 11/2005).
Các công trình trên đây cho thấy việc nghiên cứu Thơ mới đang cần
một cách tiếp cận mới nhằm phát hiện những tầng nghĩa sâu hơn. Những
điều chúng tôi trình bày và triển khai trong luận án một phần được bắt
nguồn từ những gợi ý quý báu của nhiều công trình, nhiều học giả.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨ
U:
Trọng tâm là bộ hợp tuyển Thơ mới 1932 -1945, Tác giả và tác phẩm
(NXB văn học 1997) do Lại Nguyên Ân biên soạn.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
* Thi pháp học: Thi pháp học hiện đại để khảo sát các hình thức nghệ
thuật của Thơ mới.
* Phương pháp loại hình học: Phân loại, so sánh, khu biệt các hiện
tượng thuộc hình thức nghệ thuật
* Phương pháp so sánh hệ thống: Dùng để khảo sát quá trình giao
lưu văn hoá, các biểu trưng văn hoá của Thơ mới.
V.
ĐÓNG GÓP MớI CủA LUậN ÁN:
1. Trước đây nghiên cứu văn học thường đóng khung ở phương diện
nghiên cứu văn học từ chính bản thân nó hoặc lý giải văn học bằng các yếu
tố văn hóa xã hội bên ngoài nó. Một cách tiếp cận mới sẽ giúp soi sáng một
hiện tượng văn học tưởng chừng đã cũ bằng một nhãn quan mới mẻ, khiến
nó vẫ
n lấp lánh nhiều giá trị. Nghiên cứu văn học trong quan hệ với văn hóa
là một khuynh hướng nghiên cứu nhiều triển vọng. Luận án này góp thêm
một tiếng nói để khẳng định khuynh hướng ấy.
2. Luận án nghiên cứu Thơ mới từ giác độ văn hóa văn học nên mở ra
nhiều phát hiện mới do xem xét Thơ mới trên cơ sở vững chắc là bối cảnh
văn hóa nó ra đời. Từ
thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết
mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên
bản thân.’’ (Tuyên bố về những chính sách văn hóa - Hội nghị quốc tế do
Unesco chủ trì từ 26 - 7 đến 6 -8 -1982 tại Mêhicô) [163;tr24].
Tiếp cận hiện tượng Thơ mới từ giác độ quan hệ văn hóa văn học, tức
khu biệt trong những phương diện nh
ững luận điểm của văn hóa mà theo
chúng tôi có ảnh hưởng đến văn học, cụ thể là Thơ mới, có thể sẽ có một sự
khúc xạ, một độ lệch nào đó.
2. Khái niệm Thơ mới:
Ở đây chúng tôi chủ yếu khảo sát Thơ mới giai đoạn 1932-1945 trong
sự quy chiếu với hệ hình văn hóa 1932-1945 tức văn hóa đô thị hiện đại, ảnh
hưởng từ phương Tây, là tiếng nói của cái tôi cá nhân, có những đặc trưng
nghệ thuật nhất định. Như vậy tức nhìn cả sự vận động từ lãng mạn đến
tượng trưng, siêu thực, đối lập với thơ cũ ở cách cảm nhận về thế giới, con
ng
ười, được nhìn như một phong trào (Phong trào Thơ mới) hoặc như một
giai đoạn (Thơ mới giai đoạn 1932-1945).
VII. CấU TRÚC CủA LUậN ÁN:
Phần MỞ ĐẦU (13 trang)
Phần NỘI DUNG gồm 3 chương
Chương I : Thơ mới - một hiện tượng văn hóa lớn (42 trang)
Chương II: Thơ mới từ nhãn quan văn hóa và thi pháp (77 trang)
Chương III: Ngôn ngữ nghệ thuật và các biểu trưng văn hóa trong Th
ơ mới
(61 trang)
Phần KẾT LUẬN (6 trang)
tượng văn học đó từ đặc trưng bối cảnh văn hóa mà nó ra đời. Từ đó thấy
được vai trò sáng tạo văn hoá của văn học qua những hình tượng nghệ thuật,
góp phần khẳng định vai trò vừa lưu giữ, chuyển tải vừa thẩm định và lựa
chọn văn hoá của văn học.
1.2 Thơ mới trong bối cảnh giao thoa văn hoá Đông - Tây
1.2.1
Sự thay đổi văn hoá từ kiểu văn hoá cổ truyền phương Đông
sang kiểu văn hoá hiện đại phương Tây:
Khái niệm "kiểu văn hoá" được dùng ở đây để chỉ từng giai đoạn văn
hóa cụ thể trong bối cảnh văn hoá chung của mỗi dân tộc. Giai đoạn 32-45
do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nên có sự thay đổi từ kiểu văn hóa
cổ truyền phương Đông sang kiểu văn hóa đô thị hiện đại phương Tây.
1.2.2 Sự thay đổi cơ sở văn hoá - cấu trúc lại nền tảng và diện mạo
văn hoá:
1.2.2.1 Nền tảng và cấu trúc văn hoá cổ truyền:
Nền tảng diện mạo của văn hoá Việt Nam ch
ủ yếu là văn hoá nông
nghiệp - lúa nước. Con người sống chủ yếu bằng nghề nông. Đơn vị xã hội
được tính theo đơn vị làng, con người có tính cộng đồng, sống theo tư tưởng
quân bình, không muốn khác người vượt người mà chú trọng sự hài hoà. Hài
hoà trong quan hệ với tự nhiên và xã hội, tư duy không phải tư duy phân
tích mà là tư duy tổng hợp.
1.2.2.2 Từ văn minh nông nghiệp cổ truyền sang văn minh phát triển
theo xu hướng công nghiệ
p hiện đại:
Trên lĩnh vực văn hóa vật chất, thực dân Pháp đã đưa vào nước ta
một nền văn minh cơ khí tiến bộ hơn văn minh lúa nước, biến đô thị Việt
Nam từ đô thị cổ truyền, trung tâm chính trị văn hóa thành đô thị hiện đại,
trung tâm kinh tế. Kết quả là “nền kinh tế cổ xưa bị phân giải” nhường chỗ
cho nền kinh t
Ảnh hưởng của tư tưởng kinh điển và tôn giáo đã chi phối đặc điểm của
thơ ca trung
đại. Cách nhận thức và phản ánh thế giới của các nhà thơ trung
đại tạo nên những cái tôi trữ tình biết ứng xử trước thời thế, biết vượt lên
mọi biến ảo của cuộc đời, quên đi con người trần tục. Con người trong thơ
giai đoạn này nặng về lý trí nhiều hơn tình cảm. Khi ý thức thị dân phát triển
kiểu cái tôi chú trọng đến “chữ tài, tình” xuất hi
ện với nhu cầu sống tự
nhiên nhưng cũng chỉ dừng lại ý thức về cá tính chứ chưa thật sự là một
“cái tôi cá nhân” như ở Thơ mới sau này.
1.3.1.2 Những chuyển mình đầu tiên:
Thơ Tản Đà đánh dấu sự chuyển mình đầu tiên do cốt cách mang nhiều
yếu tố thị dân trần tục, làm thơ phá cách vứt điệu luật, quan niệm xem văn
chương là một nghề để sinh sống. Những yếu tố ấy đã nối Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đến các nhà Thơ
mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu sau này. Thơ Đông Hồ,
Tương Phố, Á nam Trần Tuấn Khải, thơ dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, Tình
già của Phan Khôi, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Thị Kiêm, các bài di
ễn thuyết cổ
vũ Thơ mới với những tình cảm lãng mạn bâng quơ mang hơi thở và
không khí của thời đại đã góp phần đẩy nhanh sự ra đời của phong trào Thơ
mới 1932-1945. Đó là cuộc cách mạng đến tận cùng triệt tiêu cái cũ để thiết
lập cái mới, là sự xung khắc quyết liệt giữa hai thế hệ văn hóa, hai nền văn
hóa.
1.3.2 Giao thoa và tiếp biến:
Cơ sở của cuộc giao thoa văn hóa Đông Tây xảy ra trong Thơ mới bắt
nguồn từ hai nhân tố: Thứ nhất đó là sự kế tục của ý thức cá tính truyền
thống trong văn học trung đại. Thứ hai là luồng gió mới từ văn hóa đô thị
phương Tây đã góp phần bứt tung những rào cản đã lung lay để cho ra đời
một “mô hình nhân cách” mới - Cái tôi cá nhân hiện đại. Hai nguồn mạch
bản để chiếm lĩnh những đặc trưng nghệ thuật đồng thời lý giải chúng bằng
văn cảnh tức những yếu tố văn hóa chi phối văn bản đó. Đó là‘’cách chiếm
lĩnh thẩm mỹ của các nền văn hóa quá khứ, thống nhất những đặc điểm nghệ
thuật hình thức với việc nghiên cứu những quan niệm thẩm mỹ
văn hóa chi
phối hình thức đó” [148;tr45].
2.1.1 Sự xuất hiện kiểu nhà Thơ mới trong tương tác văn hóa - văn
học:
Tác giả văn học là “một hiện tượng của văn hóa nghệ thuật, sản phẩm
sáng tạo của một thời”. Họ là “người sáng tạo ra những giá trị văn học. Ứng
với một kiểu văn học trong lịch sử thì có mộ
t kiểu tác giả đã sáng tạo ra kiểu
văn học ấy” [148;tr110]. Đặc trưng để phân biệt tác giả này với tác giả khác
là cách tổ chức thế giới nghệ thuật của chính tác giả đó. Bối cảnh văn hóa xã
hội 1932-1945 làm nảy sinh một thế hệ nhà Thơ mới khác biệt hẳn so với
thơ cũ, đặc trưng của kiểu nhà Thơ mới là bộc lộ, giãi bày cõi lòng riêng tư,
cảm xúc tâm hồn của chính nhà thơ, mang tính chủ quan đậm nét. Đặc điểm
phân biệt kiểu tác giả Thơ mới cũng được thể hiện qua việc tỏ bày thế giới
nội tâm, tiếp xúc với một tác phẩm thơ ca người đọc sẽ có cảm giác như
đang tiếp xúc với một tính cách với đầy đủ các cảm giác buồn, vui, hờn,
giận, yêu, ghét Đó là một thế giới mang tính chủ
quan đậm nét. Đọc Thơ
mới là đọc một tâm hồn. Đối tượng và chất lượng chủ yếu của các nhà Thơ
mới là cái tôi cá nhân và cuộc sống trần gian đầy thanh sắc. Đó là sản phẩm
của nền văn hóa 32-45, nó nảy sinh trên cơ sở tiếp thu cái mới, kế thừa, phát
huy cái cũ do sự tương tác giữa văn hóa và văn học.
2.1.2 Sự xuất hiện đối tượng thẩm m
ỹ mới và tư tưởng sáng tạo của
Thơ mới - Kết tinh và biểu hiện nhu cầu văn hóa thời đại ở phương diện
thi ca:
mọi chế định của xã hội phong kiến là con người với nhãn quan mới về cuộc
sống. Nhìn cuộc sống như nó vốn có trôi chảy, biến đổi, mong manh, không
định hình Lần đầu tiên con người tự tách mình ra khỏi xã hội, thoát khỏi
cuộc sống “bầy đàn”. Họ khước từ lối sống theo kiểu lề thói xã hội, không
có khả năng ý thức trước hết là về mình như một chủ thể độc lập, khác biệt
mà ngược lại mình là một thế giới riêng biệt, phong phú và phức tạp. Chính
cảm quan đặc thù về cuộc sống, về cá nhân này làm nề
n cho sự xuất hiện
của cái tôi lãng mạn trong Thơ mới.
2.2 Thơ mới từ nhãn quan thi pháp
Thơ mới thực sự đã đánh dấu một bước ngoặt cho thơ trữ tình hiện đại
bằng hệ thống thi pháp mới tạo nên một hệ thống tiêu chuẩn mới. Phần này
chúng tôi chỉ trình bày một số nét trong hệ thống thi pháp Thơ mới có liên
quan đến văn hóa.
2.2.1. Thơ mới và s
ự khẳng định một mô hình tư duy nghệ thuật mới
của thể loại thơ trữ tình:
Thơ mới sinh ra trên cơ sở nhu cầu văn hóa của một lớp công chúng
nhất định ở đô thị. Tính tự do về mặt loại thể là biểu hiện cụ thể của những
khát vọng tự do là sự phản ánh nhu cầu và điều kiện ngôn luận tự do củ
a
người thi sĩ” [159;tr199]. Các nhà Thơ mới với một quan niệm thơ hiện đại,
mới mẻ trong một nhãn quan mới về cuộc sống và con người đã khẳng
định một mô hình tư duy nghệ thuật mới của thơ ca. Đó là mô hình cuộc
sống hiện đại , cảm xúc con người hiện đại. Những trạng thái tinh thần mới
đến lượt nó đã biến cải được nhữ
ng mặt truyền thống của thể loại để tạo nên
một phức hợp thể loại mới. Cái tôi trữ tình di chuyển từ ngoại vi “khách
thể” vào vị trí trung tâm của hình tượng thơ, trở thành “nhân vật số một”.
Đặc điểm này đã chi phối đến hình thức và nội dung biểu hiện của Thơ
Theo Bakhtin “Thơ trữ tình là thể loại mà nhà thơ bao giờ cũng nói
tiếng nói của mình”. Nhà thơ luôn hướng đến việc chủ quan hóa thế giới.
Kết cấu của thơ trung đại là kết cấu tự sự, bởi cấu trúc đề, thực, luận, kết là
kết cấu nhằm diễn giải một cách trật tự quan điểm, lập trường, thái độ của
nhà thơ về
cuộc đời và con người. Ngược hẳn với Thơ mới, vì giãi bày cảm
xúc cá nhân, tâm trạng cá nhân nên kết cấu của bài thơ là kết cấu tâm trạng.
Cả bài thơ là một chuỗi tâm trạng trượt dài theo cảm xúc, thoắt vui, thoắt
buồn, thoắt giận hờn, nhớ thương Thơ mới tồn tại những kiểu hiện thực
đối nghịch nhau, những kiểu con người phân cực trong tâm trạng. Thế giới
được chủ quan hóa cao độ: Cảnh vừa thực vừa mộng mơ h
ư ảo, cổ xưa hiện
đại lẫn lộn bởi nó trượt theo mạch của cảm xúc, của suy tư tâm tưởng. Điều
mà thi nhân Thơ mới muốn người đọc hướng đến không phải là miền lý
tưởng hoài bão của họ mà chính trạng thái tâm hồn cảm xúc họ đang trải
nghiệm. Mỗi tác phẩm Thơ mới là một bản lược đồ tâm trạng, tùy theo
phong cách riêng của từ
ng tác giả mà có mức độ đậm nhạt khác nhau. Với
những tác giả càng tiến gần tới địa hạt hiện đại của tượng trưng siêu
thực thì yếu tố tâm linh càng thể hiện rõ. Trong bài Đây thôn Vỹ Dạ, Mùa
xuân chín của Hàn Mặc Tử ta có thể dễ dàng nhận rõ điều này. Thế giới thơ
linh hoạt trong “Đây thôn Vỹ Dạ” được kết cấu từ chuỗi tâm trạ
ng, trượt
theo chuỗi cảm xúc, tâm trạng nhưng được gắn kết bởi tình đời, tình người
tha thiết.
2.2.2. Cuộc cách mạng về thể loại thơ trữ tình:
Một hiện tượng, một trào lưu văn học đạt đến trình độ chuẩn mực phải
được đánh dấu trước hết về mặt hình thức thể loại và ngôn ngữ. Cuộc sống
mớ
i với vai trò như là một vật liệu tươi mới đã tác động đến Thơ mới ở hai
là điểm xuất phát và "trung tâm định hướng nghệ thuật" khiến Thơ mới chọn
cho mình những hình thức thể loại nă
ng động nhất, dung hợp truyền
thống và hiện đại. Nội dung của thể thơ lục bát phù hợp với việc thể hiện
những tình cảm lưng chừng, những bâng khuâng trên con đường tìm về nội
tâm của con người. Thể thơ lục bát thích hợp với kiểu con người giai đoạn
đầu của Thơ mới bởi lớp từ ngữ có nội dung ngữ nghĩa giản d
ị dễ hiểu trong
thơ lục bát không đủ sức diễn tả những khía cạnh ẩn khuất của vô thức, tiềm
thức, của chiều sâu tâm linh trong con người văn hóa hiện đại giai đoạn sau.
Thể thơ 7 chữ 8 khẳng định xu hướng vừa tìm tòi hình thức tối ưu
đạt chuẩn trong quá khứ để phản ánh chân thực con người thời đại, vừa
gắng tìm tòi sáng tạo một dạng thức mới phù hợp với quan niệm thẩm
mỹ đương thời. Thể thơ 7 chữ ra đời chính từ sự vận động này. Thể 8
chữ đã cởi trói thơ khỏi "nhãn quan duy lý" c
ủa thơ cũ. Thể thơ 8 chữ đã
chứng tỏ khả năng thích hợp với kiểu con người thành thực, con người tự do
tâm linh, con người vô thức tiềm thức trong thơ siêu thực. Sáng tạo đáng kể
nhất của Thơ mới là sáng tạo về thể thơ. Đó là khuôn hình bài thơ, câu thơ,
ngôn ngữ co giãn linh hoạt. Trong thơ Đường luật trung đại, hai câu kết là
hai câu chứa sức n
ặng của toàn bài thơ. Ngược lại trong Thơ mới, câu kết
của mỗi bài thơ không đóng vai trò, chức năng của việc "kết thúc" một suy
ngẫm, một tâm trạng, một hiện thực mà thường mở ra một không gian, thời
gian khác, hướng đến một tâm trạng cảm xúc khác. Như vậy trong Thơ mới
tiến trình của sự vật, tâm trạng được phản ánh không dừng ở việc bài thơ kế
t
thúc. Vì vậy mô hình Thơ mới là mô hình kép, bởi khi nó phản ánh một tâm
trạng của một tác giả riêng biệt (Vội vàng - Xuân Diệu) với quan niệm
hưởng thụ cuộc sống đã đầy trọn vẹn thì đồng thời nó cũng mở ra một hiện
tác phẩm. Ngôn ngữ dù muốn dù không cũng ít nhiều có tính tự trị đối với ý
thức sáng tạo của nhà thơ. Nó nằm ở chiều sâu văn hoá, ở vô thức người
sáng tạo và có quan hệ mật thiết với văn hoá. Các hình tượng văn hoá trong
Thơ mới không chỉ là sự đồng nhất với các nguyên mẫu trong đời sống văn
hoá dân tộc mà còn có sự liên quan chặt chẽ đến bối cảnh văn hoá rộng như
truyền thống văn hoá, tâm thức dân tộc, vô thức tập thể.
3.1 Cảm thức văn hoá trong ngôn từ nghệ thuật Thơ mới
3.1.1 Ngôn ngữ Thơ m
ới trong dòng chảy văn hoá dân tộc:
Cuộc tiếp xúc văn hoá Đông Tây những năm đầu thế kỷ XX đã tạo nên
những đổi thay về văn hoá dẫn đến sự ra đời một văn tự mới - chữ quốc
ngữ."Kiểu giao tiếp mới bao giờ cũng đẻ ra những hình thức sinh hoạt
ngôn ngữ mới, những thể loại ngôn ngữ mới, sự chuyể
n nghĩa hoặc huỷ bỏ
một số hình thức cũ’’.
3.1.2 Đổi mới ngôn ngữ thơ:
Ngôn ngữ nghệ thuật phản ánh chiều sâu văn hoá của thời đại, "nhúng
rễ sâu" vào cội nguồn văn hoá đồng thời bị ràng buộc bởi cái "gu" riêng của
tác giả, nằm trong sự lựa chọn của thi nhân, nơi tác giả thể hiện sự tự do
trong hành xử ngôn ngữ của mình, đối diện với niềm đam mê, những trải
nghiệm của chính mình. Song cũng ở chính nơi tưởng như t
ự do lựa chọn
nhất này ngôn ngữ đã thể hiện một "trí nhớ thứ hai còn kéo dài một cách bí
ẩn giữa những ý nghĩa mới" [10;tr3] tức có một sự tồn dư lưu lại từ trong
văn hoá quá khứ được tái hiện trong ngôn ngữ ngoài ý thức của tác giả.
Chính vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ khảo sát đổi mới ngôn ngữ ở phương diện
thứ hai này, sự đổi mới nh
ư một hệ quả tất yếu của một quá trình liên tục từ
quá khứ, chịu tác động của văn hóa trong sự lựa chọn của tác giả.
3.1.2.1 Sự chuyển hoá ngữ nghĩa, từ loại:
hợp từ ngữ mới lạ, độc đáo. Đó là sự xuất hiện các đoản ngữ (đoản tính từ,
động từ, danh từ) chưa từng được sử dụng trong thơ truyền thống như: “hớp
nhạc đầy hương", "miếng phong trần", "hoa trăng rụng" (
Thơ Bích Khê);
"Mùa xuân chín", "vũng trăng", "niềm trăng ý nhạc" (Hàn Mặc Tử); "niềm
chua chát", "niềm cố hương" (Tế Hanh). Các nhà Thơ mới đã kết hợp sáng
tạo các danh từ, tính từ, động từ trong một tổ hợp hoặc trên một dòng thơ.
Các ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được sử dụng nhiều, nó đặt trường tiếp nhận
của độc giả dướ
i một cái nhìn mới - một hàm nghĩa mới, buộc độc giả phải
tìm kiếm xem xét nét nghĩa ẩn sâu bên trong lớp vỏ ngôn từ đó.
Với tính chất miêu tả ngôn ngữ Thơ mới đã chấm dứt thời kỳ của ngôn
ngữ ước lệ truyền thống, mở ra một hệ thống từ ngữ mới với các kiểu câu
suy lý, lập luận ảnh hưởng của thơ pháp nh
ư: Không những mà còn, hơn
nữa một khi Mặt âm thanh của ngôn ngữ cũng được các nhà Thơ mới
chú trọng khai thác, tạo cho bài thơ vẻ du dương quyến rũ của âm nhạc.
Càng về sau ngôn từ Thơ mới càng hiện đại, càng tiến gần đến "sự
tương hợp" giữa thế giới cuộc sống bên ngoài với những bí ẩn trong tâm
linh, cuốn con người vào mạch hồi tưởng, huyễn t
ưởng của vô thức. Đó là
ngôn từ của thế giới tâm linh, của con người đi tìm hạnh phúc trong Thơ
mới, bao hàm cả những yếu tố vô thức không thể lý giải được. Song đó là sự
đồng vọng về nỗi buồn chân thực của con người, về những bất tận của khổ
đau và trăn trở kiếp người.
3.1.3 Vai trò lưu giữ, sáng tạo và phát triển văn hoá củ
a ngôn ngư:
“Một ngôn ngữ dân tộc vốn là kết quả của sự phát triển văn hoá - lịch
sử của cả dân tộc ấy. Trong ngôn ngữ dân tộc có sự mã hoá toàn bộ những
trải nghiệm văn hóa - lịch sử của dân tộc.” Ngôn ngữ Thơ mới lưu giữ các
quê với những hình ảnh cây đa, bến nước, con đò gắn chặt với truyền
thống văn hoá Việt Nam.
3.2.2 Hình tượng con người văn hóa trong Thơ mớ
i:
3.2.2.1 Con người trong quan hệ với không gian - thời gian văn hoá:
Con người cá nhân được xét như một mẫu hình văn hoá trong quan hệ
với không gian văn hoá đó là không gian làng quê hoặc không gian đô thị,
góc phố, quán trọ, con đường
Con người với những hoài niệm về văn hoá một thời tạo nên mô típ
giấc mơ gắn với thời gian quá khứ. Cái tôi văn hoá truyền thống được thể
hiện trong sự giằng co với con người văn hoá đô thị. Thể hiện sự vậ
n động
trở về với những giá trị văn hoá cổ truyền.
Con người tâm linh trong quan hệ với không gian thời gian văn hoá
hiện đại: Con người với những khát vọng giãi bày tâm sự, những phiền
muộn ưu tư, những ham muốn bình thường của con người gắn với không
gian văn hoá đô thị, thời gian hiện tại, và nhận thức về thời gian một chiều
(thơ Xuân Diệu, Ch
ế Lan Viên ).
3.2.2.2 Con người cá nhân trong quan hệ cái tôi cá nhân phương
Đông và con người văn hóa phương Tây:
Con người tự ý thức trong Thơ mới là sản phẩm của văn hóa đô thị
hiện đại song lại mang nặng trên vai một quá khứ sâu thẳm của truyền thống
văn hóa dân tộc.
Một mặt họ rất ý thức về mình, coi trọng mình nhưng mặt khác lại
muốn quay về với truyền thống, với tri
ết lý phương Đông. Do vậy tạo ra
những mâu thuẫn trong cá nhân con người Thơ mới, tâm lý cô đơn, hoang
mang:
- Xuất hiện con người phiêu bạt giang hồ.