Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội
Phan Thị hồng Xuân
Vấn đề đánh giá năng lực tiếng việt
của học sinh lớp 6
Chuyên ngành: Lí luận và phơng pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số : 62.14.10.04
Tóm tắt Luận án tiến sĩ giáo dục học Hà Nội - 2008
Luận án đợc hoàn thành tại:
Khoa Ngữ văn
Khoa Ngữ văn Khoa Ngữ văn
Khoa Ngữ văn
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1. Phan Thị Hồng Xuân, (1999). Cơ chế chuyển nghĩa theo phương thức ẩn
dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số
5/1999, (tr 55-64)
2. Phan Thị Hồng Xuân, (2001). Mấy nhận xét về cách sử dụng ẩn dụ của các
nhà Thơ mới trong Thi nhân Việt Nam, số 4 và 8/2001. (tr 38-45; tr22- 28)
3. Phan Thị Hồng Xuân, (2005). Chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ và
nhận thức , Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống số 12(122)/2005, (tr 1-5)
4. Phan Thị Hồng Xuân, (2005). Một số ý kiến về đề kiểm tra tiếng Việt ở
Trung học cơ sở, Tạp chí Giáo dục, số 128 tháng 12/2005, (tr 15- 16; 28)
5. Phan Thị Hồng Xuân, (2006). Xây dựng các câu hỏi đánh giá kết quả
học tập bài So sánh (Ngữ văn 6) dựa trên các mức độ nhận thức, Tạp chí
Giáo dục, số 152 kì 2, tháng 12/2006, (tr 19-20; 18)
6. Phan Thị Hồng Xuân, (2007). Tiêu chí đánh giá câu hỏi và việc đánh
giá kiến thức và kỹ năng tiếng Việt cho học sinh lớp 6, Tạp chí Giáo dục
166 Số đặc biệt quý 2/ 2007, (tr 19-21)
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đánh giá (ĐG) kết quả học tập là một mắt xích rất quan trọng trong
quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức và ĐG).
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Vấn đề đánh giá năng
lực tiếng Việt cho học sinh lớp 6” để nghiên cứu trong luận án của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu vấn đề đánh giá kết quả học tập
của học sinh trên thế giới
Trong lịch sử, đã từ lâu ĐG kết quả học tập của người học được các
nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Những người đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này là: Vittorinno (Ý),
Eraxmơ (Hà Lan), Môngtenhơ (Pháp), Tomat More (Anh), J.A.Cômenxki
(Séc), J.J Ruxô (Pháp), I.B Bazelov (Đức), N.P.Arkhalghelxki, X.V.Ivanov,
I.A.Cairốp, N.K Gonsarốp, B.P Exipop (Liên Xô cũ), Alan C.Pures (Thụy
Điển), James H. Mc Millan, Anthony J. Nitko (Mĩ) Các tác giả này quan
tâm đến các phương diện như ý nghĩa của ĐG, các nguyên tắc ĐG, nội
dung, phương pháp, phương tiện ĐG, đổi mới ĐG, v.v Có thể nói đây là
những người đặt vấn đề nghiên cứu ĐG một cách có hệ thống, góp phần
làm cho lĩnh vực ĐG trên thế giới ngày càng phát triển và hoàn thiện.
2.2. Vài nét về tình hình nghiên cứu vấn đề đánh giá kết quả học tập
của học sinh ở Việt Nam 2.2.1. Nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục nói chung
Trong lịch sử nghiên cứu giáo dục hiện đại Việt Nam, ĐG kết quả
học tập của HS là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu.
Có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này là các tác giả Hà Thế Ngữ,
Đặng Vũ Hoạt, Lâm Quang Thiệp, Dương Thiệu Tống, Hoàng Đức Nhuận
và Lê Đức Phúc, Trần Bá Hoành, Hà Thị Đức, Đặng Bá Lãm và một số
tác giả khác. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã
tập trung hệ thống hoá và đề xuất đến những yếu tố của việc ĐG kết quả
lực tiếng Việt của HS lớp 6.
Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện được các nhiệm vụ
cơ bản sau:
(1) Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho các phương án ĐG năng
lực tiếng Việt của HS lớp 6.
(2). Xây dựng các phương án ĐG năng lực của HS lớp 6 theo một
quy trình hợp lí.
(3). Cuối cùng, luận án tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng
định tính khả thi của các phương án ĐG.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình ĐG năng lực tiếng
Việt của HS lớp 6.
4
Việc ĐG năng lực tiếng Việt là một vấn đề rất phức tạp. Vì năng lực
tiếng Việt được biểu hiện ở rất nhiều phương diện.Trong luận án này
chúng tôi chỉ ĐG năng lực tiếng Việt của HS lớp 6 theo chuẩn kiến thức và
kĩ năng của phần Tiếng Việt trong CT Ngữ văn.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được một hệ thống lí luận khoa học và đề xuất được
các phương án nhằm ĐG năng lực tiếng Việt của HS lớp 6 đảm bảo tính
khoa học và tính khả thi, luận án sẽ góp phần khắc phục được những hạn
chế của thực trạng của ĐG hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
tiếng Việt ở lớp 6 nói riêng và môn Ngữ văn nói chung.
6. Các phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp điều tra khảo sát
* Phương pháp thống kê phân loại
1.1.1. Một số khái niệm có tính chất công cụ
1.1.1.1. Khái niệm “năng lực”
Từ quan niệm về năng lực có thể hiểu về năng lực tiếng Việt như sau:
Năng lực tiếng Việt là điểm gặp gỡ, hội tụ của các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
tiếng Việt tiếp thu được trong học tập, rèn luyện và khả năng vận dụng các
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó cùng với những khả năng sẵn có để tiếp nhận,
tạo lập các văn bản trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ và giải quyết
một cách có hiệu quả những tình huống xác định cũng như các tình huống
linh hoạt trong cuộc sống.
Tuy nhiên, luận án xác định mục đích là nghiên cứu vấn đề ĐG năng lực
tiếng Việt của HS lớp 6. Theo quan điểm năng lực đã nêu trên thì có thể xác
lập các tiêu chí khái quát để ĐG năng lực tiếng Việt của HS lớp 6 như sau:
1. Khả năng nắm những kiến thức cơ bản về tiếng Việt được học ở
lớp 6 như: từ và cấu tạo từ, từ mượn, nghĩa của từ, các biện pháp tu từ từ
vựng, từ loại, cụm từ, các thành phần chính của câu, các kiểu câu trần
thuật đơn, các dấu câu, v.v…
2. Khả năng hình thành kĩ năng và kĩ xảo tiếng Việt tương ứng với
các kiến thức đã học.
3. Khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tiếng Việt nói
trên cùng với những khả năng sẵn có để tiếp nhận và tạo lập các văn bản
trong giao tiếp bằng ngôn ngữ; để ứng xử, hành động, giải quyết một
cách hiệu quả các tình huống đã xác định cũng như các tình huống linh
hoạt trong học tập và trong cuộc sống.
1.1.1.2. Khái niệm “kiểm tra”
Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét.
1.1.1.3. Khái niệm “đánh giá”.
Từ những ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước nói trên, có
thể quan niệm: Đánh giá là thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả
Bài Bài Điền Đúng Đối Nhiều Trả
luận ngắn luận dài khuyết sai chiếu lựa chọn lời ngắn
cặp đôi
7
1.1.4. Vai trò và vị trí của đánh giá
Vị trí và mối quan hệ của ĐG với các thành tố của quá trình dạy học được
thể hiện trong sơ đồ sau:
MT
ND PP PT TC
ĐG
Quá trình dạy học
MT: Mục tiêu PT: Phương tiện
ND: Nội dung TC: Tổ chức
PP: Phương pháp ĐG: Đánh giá
1.1.5. Nguyên tắc đánh giá
- Chưa nắm vững tinh thần đối mới ĐG.
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BỘ CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 6
Để ĐG năng lực tiếng Việt của HS lớp 6 có thể thông qua nhiều
phương tiện khác nhau nhưng câu hỏi là phương tiện quan trọng nhất vì
vậy trong luận án này chúng tôi tập trung vào việc xây dựng và sử dụng bộ
câu hỏi.
2.1. Xây dựng bộ câu hỏi đánh giá
2.1.1. Các bước xây dựng bộ câu hỏi đánh giá
2.1.1.1. Xác định mục đích của việc xây dựng bộ câu hỏi
Trong việc biên soạn bộ câu hỏi để ĐG năng lực tiếng Việt của HS,
việc xác định mục đích là cơ sở để người soạn lựa chọn nội dung, hình
thức, độ khó, số lượng,… các câu hỏi.
Soạn bộ câu hỏi này luận án nhằm các mục đích sau: Thứ nhất là để
ĐG năng lực của HS khi học xong từng bài, từng chương, từng phần và
toàn bộ nội dung CT tiếng Việt 6. Bên cạnh mục đích vừa nêu, luận án còn
nhằm tới mục đích thứ hai là điều chỉnh hoạt động dạy và học tiếng Việt
của GV và HS.
9
2.1.1.2. Xác định các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cần đánh giá
Xác định yêu cầu trên sẽ giúp cho việc soạn bộ câu hỏi ĐG sát với
mục tiêu dạy học, trên cơ sở đó mà có thể ĐG chính xác, khách quan, toàn
diện năng lực tiếng Việt của HS.
Để thực hiện tốt việc này, cần căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng
10
Trong SGK, bài này gồm bốn đơn vị kiến thức. Cứ sau hai đơn vị
kiến thức thì lại có một phần luyện tập, cụ thể là:
1. So sánh là gì?
2. Mô hình cấu tạo của phép so sánh:
3. Luyện tập
4. Các kiểu so sánh
5. Tác dụng của phép so sánh
6. Luyện tập
So với SGK, SGV khi trình bày nội dung so sánh có mở rộng về một
số phương diện sau đây:
- Phân biệt so sánh lô gích với so sánh tu từ.
- So sánh có giá trị đối với quá trình nhận thức, đem cái chưa biết đối chiếu
với cái đã biết để qua cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết.
- Nói rõ hơn tác dụng của việc lược bớt một số yếu tố nào đó trong
cấu tạo của phép so sánh.
- Trong so sánh, vế B luôn luôn được coi là chuẩn so sánh. Có trường
hợp vế B được nêu cụ thể đủ rõ để người đọc nhận ra, song cũng có trường
hợp vế B được đưa ra không đầy đủ buộc người nghe phải suy luận mới hiểu
được. Chuẩn so sánh ở vế B cũng có khi có tính chất mơ hồ, không cụ thể.
Từ việc phân tích các căn cứ trên đây có thể xác định nội dung và
kiến thức cần đạt khi dạy học bài So sánh như sau:
STT
bài
Mục tiêu
phép so sánh khi
tạo lập văn bản.
11
2.1.1.3. Thiết lập ma trận hai chiều cho bộ câu hỏi
Ma trận còn được gọi là bảng đặc trưng hai chiều. Thiết lập bảng ma
trận là một việc làm không thể thiếu khi xây dựng bộ câu hỏi. Bảng ma
trận cho biết số lượng câu hỏi nói chung; số câu hỏi cho mỗi nội dung dạy
học ở các mức độ nhận thức cụ thể. Có bảng ma trận người soạn câu hỏi sẽ
có điều kiện để phân bố hợp lí các nội dung cần ĐG.
Để lập ma trận trước hết phải xác định các hình thức biên soạn câu
hỏi cho mỗi nội dung cần ĐG.
Bước tiếp theo là cần căn cứ vào bảng các yêu cầu về kiến thức kĩ
năng cần ĐG đã xác định trước để xem xét cần ĐG những nội dung học
tập nào, ở mức độ nhận thức nào. Sau đó kết hợp với dự định về hình thức
câu hỏi để lập ma trận.
Khi thiết lập ma trận, chúng tôi luôn đối chiếu với những tiêu chuẩn
để ĐG ma trận
Ma trận của bộ câu hỏi
Vận dụng STT
Bài Nhận
biết
Thông
hiểu
TN TL
Tổng
4
1
3
8
10
4 5. Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển
nghĩa của từ
1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
5 6. Chữa lỗi dùng từ 3
3
4
4
1
3
8
10
6 7. Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) 2
2
9 11. Cụm danh từ 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
10 12. Số từ và lượng từ 1
1
3
3
3
3
1
3
8
10
12
11 13. Chỉ từ 1
1
10
14 17. Ôn tập tiếng Việt 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
15 18. Phó từ 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
16 19. So sánh 1
1
2
2
19 23. Ẩn dụ 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
20 24. Hoán dụ 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
21 25. Các thành phần chính của câu 2
2
5
5
1
4
4
2
2
1
3
8
10
25 29. Câu thiếu chủ ngữ, câu thiếu vị ngữ 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
26 30. Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ 1
1
2
2
4
4
1
29 32. Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
30 34. Tổng kết phần tiếng Việt 1
1
2
2
4
4
1
3
8
10
Cộng 26 68 116 30 240
1314
Đối với những câu hỏi dạng TL, các tiêu chí đó là:
Tiêu chí 1: Câu hỏi phải ĐG nội dung quan trọng của chuẩn CT (về
mặt kiến thức, kĩ năng).
Tiêu chí 2: Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề về mặt trình
bày, trọng tâm cần nhấn mạnh và số điểm.
Tiêu chí 3: Câu hỏi phải yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức vào các
tình huống mới.
Tiêu chí 4: Nội dung câu hỏi phải cụ thể. Nó phải đặt ra một yêu cầu và
các hướng dẫn cụ thể cách thức thực hiện yêu cầu đó chứ không phải chỉ đưa
ra một yêu cầu chung chung mà bất cứ một câu trả lời nào cũng phù hợp.
Tiêu chí 5: Yêu cầu của câu hỏi phải phù hợp với trình độ và nhận
thức của HS.
Tiêu chí 6: Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được
hết những yêu cầu của cán bộ ra đề đến HS.
Tiêu chí 7: Câu hỏi phải diễn đạt theo cách giúp HS hiểu được độ dài
của bài luận, mục đích của bài luận, thời gian viết bài luận, tiêu chí ĐG,
chấm điểm bài luận.
2.1.1.5. Xây dựng đáp án và biểu điểm
Xây dựng đáp án là khâu quan trọng khi biên soạn bộ câu hỏi ĐG.
Đáp án góp phần làm cho việc ĐG đảm bảo tính chính xác, khách quan.
Mỗi câu hỏi TN chỉ có một đáp án duy nhất đúng. Đối với câu hỏi tự luận,
đáp án cần có độ mở hợp lí để khuyến khích sự sáng tạo của mỗi HS. Tuy
nhiên đáp án cũng nên có những yêu cầu nhất định mà HS cần đạt. Về điểm
số, chúng tôi lựa chọn cách xây dựng biểu điểm như sau: điểm tối đa toàn
khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án đúng.
Bài So sánh
1. Viết tiếp vào chỗ trống để hoàn thành khái niệm về so sánh:
So sánh là:………
2. Trong đoạn văn: Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như
thổi, mặt mũi khôi ngô khoẻ mạnh như thần. mấy lần sử dụng phép so sánh?
A. Một C. Ba
B. Hai D. Bốn
3. Đọc các câu chứa các phép so sánh ở dưới và điền các tập hợp từ
chứa hình ảnh so sánh vào mô hình phép so sánh.
1. Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
16
2. Tiếng hát trong như suối ngọc tuyền
Êm như hơi gió thoảng cung tiên.
3. Gái thương chồng đương đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái chiều hôm.
Vế A
(Sự vật được so
sánh)
(1)
Phương diện so
sánh
(2)
cha mẹ với con cái
C. Cho thấy lòng biết ơn sâu sắc của con cái đối với cha mẹ
D. Cả 3 tác dụng trên
17
7. Giải thích nghĩa của các thành ngữ có sử dụng phép so sánh sau
đây bằng một câu.
A. Ăn ở như bát nước đầy:
B. Học thầy không tày học bạn:
C. Thất bại là mẹ thành công:
D. Lương y như từ mẫu:
8. Viết một đoạn văn (từ 6 đến 8 câu) kể về kỉ niệm sâu sắc của em
với một người bạn thân. Trong đoạn văn có sử dụng phép so sánh.
2.2. Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá trong quá trình dạy học tiếng Việt
2.2.1. Sử dụng bộ câu hỏi để đánh giá năng lực tiếng Việt của học sinh
Như đã trình bày, mục đích thứ nhất của chúng tôi khi soạn bộ câu hỏi
là để ĐG năng lực tiếng Việt của HS qua từng bài học, từng chương, từng
phần và toàn bộ CT Tiếng Việt 6.
Câu hỏi dành cho mỗi bài chia làm ba loại để KT ba mức độ nhận
thức của HS là nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
Không chỉ KT kiến thức, kĩ năng trong từng bài học, bộ câu hỏi còn
nhằm KT kiến thức, kĩ năng và rộng hơn là năng lực tiếng Việt của HS
qua từng phần học và toàn bộ CT Tiếng Việt lớp 6. Nhằm mục đích này,
bộ câu hỏi được soạn theo hướng tích hợp dọc. Chính vì thế, ĐG kiến
thức, kĩ năng ở từng bài cũng KT được kiến thức, kĩ năng đã học ở lớp
học trước, cấp học trước.
Giáo viên có thể sử dụng bộ câu hỏi này để ĐG kết quả học tập phần
thành kĩ năng cần thiết.
Không chỉ cung cấp ngữ liệu, cách khai thác ngữ liệu, bộ câu hỏi
còn có tác dụng giúp GV mở rộng, củng cố, nâng cao các kiến thức và kĩ
năng cho HS trong mỗi bài học.
Như đã trình bày, GV có thể sử dụng bộ câu hỏi để ĐG HS trước khi
dạy học, trong khi dạy học và sau khi dạy học. Trên cơ sở kết quả thu được
trình độ và năng lực, về thái độ nhận thức của HS sau khi ĐG, GV uốn nắn
kịp thời những sai sót, điều chỉnh hiệu quả hoạt động dạy của GV, hoạt động
học của HS, tạo điều kiện để hoạt động dạy học phần Tiếng Việt đạt kết quả
tối ưu. Cụ thể là GV kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy và các tài
liệu giảng dạy của mình cho phù hợp với tình hình, đối tượng. Còn HS, trên
cơ sở những kết quả thu được, nhận ra những lỗ hổng về kiến thức, những
yếu kém về kĩ năng của mình, ĐG được mình trong mối tương quan với yêu
cầu cần đạt về kiến thức kĩ năng của chuẩn CT và với người xung quanh từ
đó có sự điều chỉnh thay đổi phương pháp học tập để đạt kết quả cao hơn.
19
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm
Với một đề tài thuộc chuyên ngành Phương pháp giảng dạy Tiếng
Việt, việc tổ chức thực nghiệm sư phạm chủ yếu nhằm KT kết quả nghiên
cứu của luận án.
Để xác định các vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở
các nội dung:
- Xác định độ giá trị, độ tin cậy và độ phân biệt của hệ thống câu hỏi
chuyên môn cần đến nội dung của câu hỏi đó.
Nhận xét: Biểu đồ dưới đây cho thấy cho thấy toàn bộ các câu hỏi đều
có thể lấy được (phù hợp với mẫu).
Tieng Viet 6 , 2/2007
Item Fit
01/23/07 14:16:25.21
all on t_viet (N = 415 L = 25 Probability Level=0.50)
INFIT
MNSQ 0.63 0.67 0.71 0.77 0.83 0.91 1.00 1.10 1.20 1.30
+ + + + + + + + + +
1 item 1 . | * .
2 item 2 . | * .
3 item 3 . |* .
4 item 4 . * | .
5 item 5 . | * .
6 item 6 . * | .
7 item 7 . * | .
8 item 8 . * | .
9 item 9 . * | .
10 item 10 . | * .
11 item 11 . | * .
12 item 12 . | * .
13 item 13 . * | .
14 item 14 . * | .
15 item 15 . *| .
16 item 16 . * .
17 item 17 . * .
tượng HS (một được dạy học theo phương pháp hiện hành và một được dạy
theo phương pháp chúng tôi trình bày trong luận án : sử dụng bộ đề ĐG sau
mỗi bài học), chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét bước đầu về hiệu quả của
việc sử dụng đề ĐG theo hướng luận án đề xuất.
Dưới đây là bảng so sánh kết quả dạy học của lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng:
Địa
phương
Lớ
p TN
Lớp ĐC
Tổng s
ố
bài KT
Điểm kém
(Dưới 5)
Điểm TB
(5 - 6)
Điểm khá
(7 - 8)
Điểm giỏi
(9 - 10)
SL % SL % SL % SL %
Phú Thọ TN 206 8 3,9 67 32,5
111 53,9
20 9,7
TN 184 16 8,7 42 22,8
98 53,3
28 15,2
ĐC 188 19 10,1
64 34 81 43 24 12,9
Tổng cộng
TN 783 34 4,3 235 30,0
414 52,9
100 12,8
ĐC 769 49 6,4 340 44,2
317 41,2
63 8,2
Căn cứ vào kết quả làm bài của HS ở các lớp thực nghiệm trên đây,
căn cứ vào kết quả trao đổi, phỏng vấn GV, chúng tôi rút ra nhận xét sau:
Sử dụng hệ thống câu hỏi ngay trong và sau mỗi bài học sẽ giúp HS
nắm vững từng phần kiến thức và toàn bộ bài học ngay trên lớp, giúp GV
nắm được kết quả học tập của HS để điều chỉnh phương pháp dạy cho phù
kiến thức, kĩ năng cần ĐG; Thiết lập ma trận hai chiều cho bộ câu hỏi; Biên
soạn bộ câu hỏi; Xây dựng đáp án và biểu điểm; Chỉnh lí và hoàn thiện các
câu hỏi. Đồng thời, luận án cũng đã xác định được các tiêu chí cần đảm bảo
khi xây dựng câu hỏi TN cũng như câu hỏi TL. Tuân theo đầy đủ qui trình và
các tiêu chí này khi soạn thảo là điều kiện tiên quyết để câu hỏi đạt yêu cầu.
Luận án đề xuất một bộ câu hỏi mở gồm 210 câu hỏi TN và 30 câu
hỏi TL bao quát toàn bộ phần Tiếng Việt lớp 6, đã được thử nghiệm qua
thực tế và xử lí trên phần mềm QUEST và kết luận: muốn xây dựng một
câu hỏi ĐG có chất lượng tốt, đảm bảo độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy và
tính khả thi cần phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí luận về ĐG, kinh
nghiệm rút ra từ những thành công và hạn chế của thực tiễn ĐG hiện nay,
nội dung CT dạy học, chuẩn kiến thức, kĩ năng trong CT, những nghiên