đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất đến giá cổ phiếu - Pdf 12

[BÀI BÁO CÁO NHÓM THỰC TẾ GIÁO TRÌNH]
MỤC LỤC
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THỰC TẾ GIÁO TRÌNH]
DANH MỤC
CHỮ CÁI
VIẾT TẮT
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG BÀI
BĐS Bất động sản
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
NĐT Nhà đầu tư
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TTCK Thị trường Chứng khoán
VCSH Vốn chủ sở hữu
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THỰC TẾ GIÁO TRÌNH]
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn 2000-2005
Biểu đồ 2.2: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2006
Biểu đồ 2.3:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2007
Biểu đồ 2.4:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2008
Biểu đồ 2.5:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2009
Biểu đồ 2.6:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2010
Biểu đồ 2.7:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2011
Biểu đồ 2.8:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2012
Biểu đồ 2.9: Tình hình biến động lãi suất huy động giai đoạn 2000-2005
Biểu đồ 2.10: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2006 (nhìn k thẳng)
Biểu đồ 2.11:Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2007
Biểu đồ 2.12:Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2008
Biểu đồ 2.13:Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2009

cao và tiềm ẩn nhiều biến động bất thường.Xuất phát từ mục đích đưa ra
các dự báo cũng như phòng ngừa cho những kế hoạch đầu tư, chúng tôi đã tiến hành
việc kiểm định các mô hình kinh tế lượng để có cái nhìn tổng quan hơn về thị trường
chứng khoán cũng như sự biến động của chỉ số VN – Index trong giai đoạn 2006-
2012.(cô nói tại sao chỉ trong giai đoạn ni, chắc vứt phần ni đi)
T
Mặt khác, trên thị trường lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm và có tác động lớn
đến nền kinh tế. Do đó, phân tích sự tác động giữa nhân tố lãi suất đến giá cổ phiếu
giúp chúng ta giải quyết các câu hỏi: Lãi suất có tác động giá cố phiếu hay không?Nếu
có thì tác động như thế nào? Mức độ ra sao?Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã liên hệ
giữa lý thuyết với thực tiễn. Kết quả phân tích các mô hình hồi quy hoàn toàn phù hợp
với những gì đã được học.
Cuối cùng, do giới hạn về thời gian cũng như khối lượng kiến thức, đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Nhóm chúng tôi rất mong nhận được
những phản hồi và góp ý tích cực từ phía thầy cô và các bạn để bài báo cáo được hoàn
thiện hơn.
Nhóm xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do thực hiện đề tài
Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước. Ở Việt
Nam, Ngân hàng Nhà nước đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm
tác động tích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Trong nền kinh tế hiện
nay, lãi suất là một chỉ số rất quan trọng và được theo dõi chặt chẽ hằng ngày. Mỗi
mức lãi suất được công bố sẽ ảnh hưởng đến những quyết định của cá nhân cũng như
doanh nghiệp; quyết định đầu tư hay gừi tiết kiệm và mỗi quyết định đó dù nhỏ nhưng
cũng góp phần tác động đến sự phát triển kinh tế của cả một quốc gia. Chính vì những
lý do đó mà từ năm 2007 đến nay, vấn đề được quan tâm nhất là lãi suất hay cuộc đua
lãi suất giữa các ngân hàng thương mại. Không chỉ có những nhà kinh tế, các doanh

Đề tài tập trung nghiên cứu sự tác động giữa lãi suất mà cụ thể ở đây là lãi suất
huy động đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu ở đây là chỉ số VN-Index niêm yết tại Sàn giao dịch chứng
khoán TP Hồ Chí Minh HOSE trong giai đoạn từ năm 2006-2012. Lãi suất huy động
giai đoạn từ năm 2006-2012. (Bỏ đi)
+ Không gian: chỉ số VN-Index tại Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
HOSE và lãi suất huy động của NHTM.
+ Thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn từ 1/2006 đến 12/2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu (tổng quan lịch sử).
Một số nghiên cứu cùng mục tiêu của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam và nghiên
cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Huế đã được sử dụng làm tài liệu
tham khảo, giúp xác định sự tác động của lãi suất đến giá của các cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Các sách, bài báo về ngân hàng, tài chính, marketing, các số liệu sơ cấp lấy từ
các trang web cophieu68.com, cafef.vn…, thông tin về lãi suất huy động của các ngân
hàng trên trang web của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sbv.com.vn), laisuat.vn, dữ
liệu thống kê của IMF và Bloomberg.
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page
Tìm hiểu lý thuyết
Đưa ra tập hợp nhân tố và biến quan sát
Thảo luận
Phân !ch dữ liệu
Kết luận
4.2. Nghiên cứu định lượng
Dựa trên sự phù hợp với đặc thù về thông tin và kinh tế Việt Nam, nhân tố lãi
suất được xem xét tương quan với thị trường chứng khoán Việt Nam. Vì vậy mô hình
nghiên cứu có dạng:
Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập thông tin, phân tích dữ liệu phục vụ cho

trên số tiền vốn gọi là lãi suất.
Ở trong tầm kinh tế vi mô, lãi suất là cơ sở cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành tiết kiệm; đầu tư
số vốn tích lũy được gửi vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác.
Mặt khác ở tầm kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là công cụ điều tiết cho vay nhạy bén
và hiệu quả; thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất
định. Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung cầu vốn quyết định. Khi cung lớn hơn cầu
thì lãi suất giảm, khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng. Giới hạn cao nhất của lãi suất
bao giờ cũng phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân, nếu bằng thì không có người
nào đi vay. Theo Marshall: Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên thị
trường bất kỳ; lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn trên thị
trường đó với lãi suất đó bằng tổng cung về vốn được cung ứng trên thị trường đó với
lãi suất đó.
o Phân loại:
 Căn cứ vào hình thức tín dụng
- Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay
dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
- Lãi suất ngân hàng: áp dung trong quan hệ tín dụng ngân hàng. Bao gồm các
loại lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu của NHTM, lãi suất chiết
khấu của NHTW, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất cơ bản.
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page
- Lãi suất tín dụng Nhà nước: áp dung khi Nhà nước đi vay của các chủ thể
khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.
 Căn cứ vào thời hạn của tín dụng
- Lãi suất ngắn hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn.
- Lãi suất dài hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn và dài hạn.
 Căn cứ vào tính chất ổn định của lãi suất
- Lãi suất cố định: là lãi suất áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay.
- Lãi suất biến đổi: lã lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc
không báo trước. Điều chính theo biến động của lãi suất trên thị trường.

hàng chứ không mở rộng đầu tư. Do đó lãi suất và đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
với nhau.
 Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Đối với nguồn thu nhập của gia đình, số tiền này sẽ được dùng để thực hiện hai
mục tiêu: tiêu dùng và tiết kiệm. Sự phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm sẽ phụ thuộc
vào nhu cầu con người, giá cả hàng hóa và lãi suất tiền gửi. Lãi suất ảnh hưởng trực
tiếp đến giá cả hàng hóa và tỷ suất tiền gửi, do đó tác động trực tiếp đến nguồn thu
nhập. Khi lãi suất thấp, giá cả hàng hóa thấp, người ta sẽ tiêu dùng hàng hóa nhiều hơn
so với việc tiết kiệm. Ngược lại, khi lãi suất cao, con người ta có xu hướng gửi tiền
vào ngân hàng để hưởng lợi nhuận, làm tiêu dùng giảm, tiết kiệm tăng.
 Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Sự thay đổi của lãi suất đồng nội tệ và ngoại tệ sẽ ảnh hưởng lên tỷ giá hối đoái
quốc gia. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng, chúng ta xét hai trường hợp. Thứ nhất là tăng
do tỷ lệ lạm phát tăng, lãi suất thực không đổi, thì điều này sẽ làm cho đồng nội tệ
giảm giá, tỷ giá tăng. Trường hợp thứ hai lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tăng,
lạm phát không đổi, người ta sẽ chuyển sang nắm giữ đồng nội tệ nhiều hơn làm cầu
nội tệ tăng, nội tệ lên giá làm tỷ giá giảm.
Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động
xuất nhập khẩu của quốc gia. Tỷ giá tăng sẽ làm cho hàng hóa trong nước ở nước
ngoài trở nên đắt hơn và hàng nước ngoài đối với trong nước sẽ rẻ hơn, từ đó nhập
khẩu tăng, xuất khẩu giảm làm giảm xuất khẩu ròng. Tương tự khi lãi suất giảm sẽ làm
tăng xuất khẩu ròng.
 Lãi suất với lạm phát
Lãi suất và lạm phát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong thời kỳ lạm phát
tăng cao, việc tăng lãi suất sẽ có ý nghĩa làm giảm lượng tiền lưu thông, giúp kìm hãm
sự gia tăng của lạm phát. Tuy nhiên không nên lạm dụng vì khi tăng lãi suất sẽ làm
giảm tổng cầu, tổng đầu tư, đẩy nền kinh tế không phát triển.
 Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt, nó có vai trò quan trọng trong việc phân bổ
hiệu quả các nguồn lực giữa các ngành kinh tế. Vai trò đó được hiểu như sau: Khi

Trong phần này, chúng ta sẽ làm rõ điều đó.
Đối với chứng khoán nói chung và từng loại cổ phiếu nói riêng, khi lưu thông
trên thị trường đều tuân theo quy luật của thị trường. Giá của cổ phiếu được hình thành
dựa trên quy luật cung-cầu và sự mất cân bằng trên thị trường sẽ dẫn đến sự biến động
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page
về giá cả hàng hóa. Những nhân tố làm thay đổi lượng cung-cầu của cổ phiếu trên thị
trường, chính là những nhân tố làm thay đổi giá cổ phiếu đó. Có rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến giá cổ phiếu, ta có thể chia làm 2 nhóm nhân tố chính: nhóm nhân tố cơ bản
và nhóm nhân tố vĩ mô. Khi tiến hành giao dịch trên thị trường, các nhà đầu tư thường
dựa trên những nhân tố cơ bản lẫn nhân tố vĩ mô để đưa ra những quyết định mua bán
với giá cả phù hợp nhất.
2.1 Nhân tố cơ bản
Trên thị trường, giá cổ phiếu được xác định dựa trên nền tảng các yếu tố cơ bản là:
(1) Tình hình lợi nhuận (ví dụ chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phiếu – EPS. EPS
là thước đo để xác định phần lợi nhuận công ty tạo ra trên mỗi cổ phiếu).
(2) Hệ số định giá (ví dụ hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu – P/E).
(3) Tính thanh khoản của một loại cổ phiếu phản ánh mức độ quan tâm của
công chúng đầu tư.
Cần lưu ý rằng, EPS là một thước đo phổ biến, nhưng ngoài ra còn có những
thước đo kế toán khác cũng được sử dụng để đánh giá tình hình lợi nhuận, ví dụ như
cổ tức trên mỗi cổ phiếu hay dòng tiền trên mỗi cổ phiếu. Đồng thời, bản thân EPS
cũng có thể được điều chỉnh theo những nguyên tắc tài chính nhằm tạo ra những con
số phản ánh chính xác hơn về tình hình lợi nhuận của công ty.
Vì vậy, khi mua một cổ phiếu nào đó nghĩa là bạn mua một phần tương ứng của
dòng lợi nhuận công ty có thể tạo ra trong tương lai. Đây chính là cơ sở cho việc xác
định P/E, hay P/E thể hiện mức giá bạn sẵn sàng trả cho một phần của dòng lợi nhuận
được hưởng trong tương lai từ việc đầu tư vào cổ phiếu đó. Một phần của dòng lợi
nhuận được tạo ra này sẽ được chia dưới dạng cổ tức hay cổ phiếu thưởng; phần còn
lại sẽ được công ty giữ lại để tái đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Dòng
lợi nhuận tương lai là kết quả của mức lợi nhuận hiện tại và tỷ lệ tăng trưởng trong

thấp khiến giá cổ phiếu giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu
sẽ tăng giá và ngược lại. Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế
phát triển tốt và có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút. Nếu dự đoán được xu
hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của
TTCK. Vì vậy việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh hưởng của nó đến giá
chứng khoán cũng rất quan trọng đối với các nhà đầu tư.
 Lãi suất
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page
Lãi suất trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay đổi trong
lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Khi lãi suất chuẩn
tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống, ngược lại lãi suất
chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng lên.
Thông thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một
người phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Thế nhưng câu chuyện về lãi suất
khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó. Mối quan hệ giữa lãi
suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều nhau. Giá của trái phiếu
là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị
chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa
lãi suất thị trường và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng
tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm. Không chỉ vậy, quan hệ
quan hệ giữa lãi suất thị trường và lãi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác
động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán
thì giá chứng khoán sẽ giảm, điều này khiến cho hoạt động trên thị trường chứng
khoán giảm sút vì người ta thích gửi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.
Ngoài sự tác động của hai nhân tố nêu trên, giá cổ phiếu còn chịu ảnh hưởng
của các nhân tố khác như:
 Môi trường chính trị
Cũng có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK, xã hội luôn có những tác động nhất định
đến hoạt động của TTCK. Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về Chính phủ và
các hoạt động chính trị. Tuy nhiên ở nước ta tình hình chính trị tương đối ổn định nên

Như đã phân tích ở trên, TTCK là một chủ thể chịu tác động của nhiều nhân tố
bao gồm các nhân tố kinh tế vĩ mô và vi mô. Đối với nhân tố lãi suất, về mặt lý thuyết,
về mặt lý thuyết,(bỏ đi) lãi suất huy động tăng sẽ dẫn đến lãi suất cho vay tăng theo,
làm tăng chi phí vay vốn của các doanh nghiệp, hạn chế mở rộng quy mô sản xuất
kinh doanh và qua đó làm giảm lợi nhuận, khiến cổ phiếu của các doanh nghiệp trở
nên kém hấp dẫn hơn. Trên thực tế đã có một thuyết cơ bản, chính thống và quy ước
được dùng để giải thích sự vận động của giá cổ phiếu thông qua lợi nhuận của doanh
nghiệp. Đó là thuyết quy ước về giá cổ phiếu (Conventinal Theory of Stock Prices).
Theo thuyết này, nguyên nhân cơ bản của sự vận động giá cả là sự dự đoán lợi nhuận
doanh nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp là nhân tố trực tiếp quan trọng nhất trong
việc quyết định giá cổ phiếu. Bởi giá cổ phiếu chính là giá trị hiện tại (Present Value)
của tất cả lợi tức cổ phần trong tương lai. Do đó, khi lợi nhuận doanh nghiệp thay đổi,
giá cổ phiếu sẽ thay đổi và khi lãi suất thay đổi thì chi phí vay vốn của doanh nghiệp
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page
cũng thay đổi, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu
lợi nhuận công ty tạo ra thấp, dòng tiền tạo ra giảm cùng với lãi suất chiết khấu tăng
lên sẽ làm giảm giá trị của cổ phiếu. Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp có tỷ trọng
các khoản nợ vay ngân hàng lớn hơn VCSH, thì lãi suất tăng sẽ làm cho doanh nghiệp
dễ lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính và phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Lúc
này nhà đầu tư lại yêu cầu mức bù rủi ro cao hơn và giá cổ phiếu tiếp tục giảm xuống.
Ta có thể thấy rõ qua công thức định giá doanh nghiệp:
Ngoài ra, khi chi phí vay vốn doanh nghiệp tăng, chi phí này được chuyển cho
các cổ đông (viết lại) vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận mà doanh nghiệp dùng để thanh toán
cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh
đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt
hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao (giả dụ lãi suất tiết kiệm). Hơn nữa, lãi suất tăng
còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh
nghiệp giữ lại tiền mặt nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó khuếch trương kinh
doanh. Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho doanh nghiệp vì chi phí cho vay
mượn xuống thấp, và giá cổ phiếu thường tăng lên.

đó kênh đầu tư ngoại tệ hiện tại cũng không tiềm năng. Với các lý do trên, cộng thêm
xu hướng hồi phục của nền kinh tế Việt Nam thì một phần dòng tiền tiết kiệm đã
chuyển vào chứng khoán.
Tuy nhiên chúng ta phải luôn nhớ rằng, lãi suất không phải là yếu tố có tính
quyết định đối với giá chứng khoán và có rất nhiều cách thức khác nhau để xem xét sự
thay đổi của giá chứng khoán và khuynh hướng thị trường. Do vậy, không ai có thể tự
tin nói rằng một công bố gia tăng lãi suất huy động của ngân hàng có thể tạo nên ảnh
hưởng xấu đến toàn bộ giá chứng khoán.
Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô mà cụ thể là nhân tố lãi suất với chỉ số
chứng khoán – đại diện cho tình hình của thị trường chứng khoán – cũng (thêm) đã
được nhiều sinh viên và các chuyên gia trong và ngoài nước nghiên cứu.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Mỹ – Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh
đã sử dụng phương pháp tập hợp các thông tin thứ cấp và những nhận định của chuyên
gia về chứng khoán để “Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên sàn
giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh HOSE”. Tác giả cho rằng 3 nhân tố tác động đến
giá cổ phiếu: nhân tố ngoại sinh (lãi suất, lạm phát ), nhân tố nội sinh (gắn với công
ty cổ phần) và nhân tố can thiệp (tâm lý nhà đầu tư, đầu cơ).
1http://forum.vietstock.vn/archive/index.php/t-8119-p-3.html
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page
Công trình dự thi giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên của nhóm sinh
viên Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh đã sử dụng mô hình OLS, GARCH,
EGARCH để nghiên cứu “Mối liên hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường
chứng khoán Việt Nam” và nhóm cũng chỉ ra rằng giá cổ phiếu trên TTCK có mối
tương quan ngược chiều với lãi suất.(sửa lại: lãi suất có sự tác động ngược chiều đến
giá cổ phiếu trên TTCK -> câu ni hợp lý k hè???)
Đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến Thị trường Chứng
khoán Việt Nam” của PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt và Ths Phạm Dương Phương
Thảo đã sử dụng mô hình OLS, kết quả cho thấy khi các nhân tố khác không đổi tại
Việt Nam thì: nhân tố cung tiền, lạm phát, giá dầu và sản lượng công nghiệp có tương
quan dương, còn lãi suất, tỷ giá có tương quan9 âm với thị trường chứng khoán.

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT VÀ CHỈ SỐ
VN-INDEX TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1. Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn từ 2006 - 2012
Giai đoạn từ năm 2000 - 2005:
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn 2000-2005
(Nguồn: cophieu68.com)
- Giai đoạn đầu: Từ khi ra đời cho đến hết năm 2000, chỉ số chứng khoán VN-Index đã
tăng “phi mã” từ 100 điểm lên 571 điểm – gấp 5,7 lần trong vòng 6 tháng.
- Giai đoạn thứ 2: bắt đầu từ năm 2001 đến giữa năm 2004, chỉ số VN-Index gần như
“rơi tự do” từ 571 điểm xuống còn trên 130 điểm.
- Giai đoạn thứ 3: từ nửa cuối năm 2004, chỉ số VN-index tăng dần lên trên 200 điểm
và đến hết năm 2005 đã vượt qua mốc 300 điểm.
Giai đoạn từ năm 2006 - 2012
 Năm 2006 T kéo biểu đồ cho nó biến động rồi đó
Biểu đồ 2.2: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2006
(Nguồn: cophieu68.com)
Thị trường giao dịch tập trung những tháng đầu năm 2006 đã chứng kiên sự lên
điểm nhanh chóng của chỉ số VN-Index. Sau một thời gian dài xoay quanh mức 300
điểm, VN-Index đã vượt ngưỡng 400 điểm vào phiên giao dịch ngày 01/3/2006. Đến
cuối tháng, vào phiên giao dịch ngày 31/3/2006, ngưỡng 500 điểm cũng bị phá vỡ. Kết
thúc phiên giao dịch ngày 25/4/2006 VN-Index đạt 632,69 điểm - con số cao nhất kể
từ khi TTCK Việt Nam được hình thành năm 2000. Cùng với sự lên điểm của VN-
Index, khối lượng và giá trị giao dịch cũng tăng cao. Khối lượng cổ phiếu khớp lệnh
bình quân phiên cho 5 tháng đầu năm 2006 là 1,7 triệu cổ phiếu, giá trị đạt hơn 84 tỷ
đồng, cao lần lượt gấp 3 và 5 lần so với mức bình quân của 4 tháng cuối năm 2005.
Chỉ số giá chứng khoán VN-Index của phiên giao dịch cuối cùng của năm
(ngày 29/12) tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ở mức
751,77 điểm, tăng mạnh so với mức 307,5 điển của phiên giao dịch cuối cùng năm
2005. Như vậy tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page

trọng cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam.
Tăng trưởng vượt bậc trong năm 2007 đã đẩy giá cổ phiếu các công ty tăng lên
quá cao, bong bóng trên TTCK được bơm phồng. Sự xấu đi của các yếu tố kinh tế vĩ
mô và các chính sách thắt chặt của Chính phủ đã làm cho bóng bóng này xì hơi, chỉ số
VN-Indexgiảm trên 65% trong năm 2008. Có cổ phiếu đã giảm giá đến 94%, nhiều cổ
phiếu giảm trên 80% giá trị. Hầu hết các công ty chứng khoán gặp khó khăn do sự sụt
giảm chung của thị trường khiến thiệt hại từ nghiệp vụ tự doanh bị thua lỗ và các
nghiệp vụ kinh doanh khác đều đình đốn. Với quy định vốn tối thiểu cho các nghiệp
vụ kinh doanh của công ty chứng khoán sắp được áp dụng chắc chắn làn sóng sáp
nhập và phá sản công ty chứng khoán là không thể tránh khỏi.
 Năm 2009
Biểu đồ2.5:Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2009
(Nguồn: cophieu68.com)
Cuộc khủng hoàng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động mạnh tới
Việt Nam,dù kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng 2009 vẫn là một năm đánh dấu bước
phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam. Mặc dù về những tháng cuối năm, TTCK
Việt Nam đã có điều chỉnh giảm do tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính
phủ nhưng nhìn chung với một chu kỳ tăng điểm kéo dài hơn 8 tháng trong những
tháng giữa năm thì cả năm 2009 TTCK Việt Nam có một năm tăng trưởng rất ấn
tượng, chỉ số VN-Index đã phục hồi mạnh trên 50%. Số lượng công ty mới niêm yết
tăng vọt, trong đó nhiều doanh nghiệp lớn được niêm yết trên sàn. Điều đặc biệt là giai
đoạn thị trường hồi phục từ đáy 234,66 điểm chủ yếu được dẫn dắt nhờ khối nhà đầu
tư cá nhân. So với các kênh đầu tư khác như vàng, USD, bất động sản, tiết kiệm, có
thể nói kênh đầu tư chứng khoán rất hấp dẫn và đem lại lợi nhuận lớn nhất ở Việt Nam
trong năm 2009. Đây lànăm đầu tiên TTCK Việt Nam bắt đầu có sự liên hệ chặt chẽ
với TTCKthế giới, là một tín hiệu tích cực vì nó cho thấy TTCK và kinh tế Việt Nam
bước đầu trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới chứ không còn là thị trường
biệt lập.
 Năm 2010
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status