Câu hỏi ôn thi có đáp án môn lịch sử đảng - Pdf 12

Câu Hỏi: Dựa vào ba sự kiện quan trọng sau đây: Chiến thắng Việt Bắc(1947),
chiến thắng Biên giới(1950) và chiến thắng Điện Biên Phủ(1954), hãy làm sáng
tỏ các bước phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân ta
Chiến thắng Việt Bắc (1947)
Chiến lược chiến tranh của Pháp là "đánh nhanh thắng nhanh", nhưng sau khi
quân ta rút khỏi các đô thị, Pháp tuy có chiếm thêm được một số thành phố, thị
trấn và kiểm soát được một số đường giao thông quan trọng, chúng vẫn không
thực hiện được âm mưu đánh nhanh thắng nhanh và cũng không sao giải quyết
được mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng (càng mở rộng địa bàn
chiếm đóng thì lực lượng còn bị dàn mỏng, dễ bị ta tiêu diệt; nhưng nếu tập trung
quân để tránh bị ta tiêu diệt thì không thể mở rộng được địa bàn chiếm đóng).
Trong khi đó, nước Pháp đang gặp nhiều khó khăn về mọi mặt
Để giải quyết tình trạng trên, Pháp đã liều lĩnh mở cuộc tấn công quy mô lớn lên
căn cứ địa Việt Bắc nhằm phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt phần lớn
bộ đội chủ lực của ta, rồi dùng thắng lợi quân sự để thúc đẩy việc thành lập chính
quyền bù nhìn toàn quốc (chính quyền Bảo Đại) và nhanh chóng kết thúc chiến
tranh. Nhưng cuộc tấn công đó đã bị ta đánh bại.
* Với chiến thắng Việt Bắc, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên
địch, 16 máy bay bị hạ, 11 tàu chiến, cano bị đánh chìm; tinh thần binh lính Pháp
hoang mang, dư luận Pháp phẫn nộ; căn cứ Việt Bắc được giữ vững, các cơ quan
đầu não của Đảng và Nhà nước an toàn, bộ đội ta trưởng thành, ảnh hưởng của
chính phủ kháng chiến lên cao. Đồng thời, ta đã đánh bại hoàn toàn chiến lược
"đánh nhanh thắng nhanh" của địch, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài
với ta. Đồng thời lực lượng so sánh giữa ta và địch bắt đầu thay đổi theo chiều
hướng có lợi cho ta.
* Chiến thắng Biên giới (1950):
Sau chiến thắng Việt Bắc (thu đông 1947), tình hình thế giới đã diễn ra theo chiều
hướng có lợi cho ta: Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa ra đời (1.10.1949); từ tháng 1.1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt
công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và

không thể bỏ, để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Cuộc tiến công
của ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng ở nhiều nơi (đồng bằng Bắc bộ, Điện
Biên Phủ, Sênô, Pleiku - Nam Tây Nguyên, Luông Phabang) khiến cho bước đầu
kế hoạch Navarre bị phá sản. Thắng lợi này tạo điều kiện, thời cơ thuận lợi để ta
tiến lên giành thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ.
Trong tình thế bước đầu kế hoạch Navarre bị phá sản, Pháp tập trung xây dựng
Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương (biến thành
trung tâm điểm của kế hoạch Navarre) nhằm thu hút lực lượng của ta vào đây để
tiêu diệt. Ta cũng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với Pháp;
toàn quân toàn dân ta gấp rút chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ theo tinh
thần: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng".
Sau ba đợt tấn công (từ 13-3 - 7-5-1954), chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng.
Ta diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ: 16.200 tên; hạ 62 máy
bay, thu toàn bộ vũ khí và cơ sở vật chất kỹ thuật của địch; đập tan kế hoạch
Navarre và mọi mưu đồ chiến lược của Pháp Mỹ.
Như vậy, với ba chiến thắng quan trọng: Chiến thắng Việt Bắc (1947), Chiến
thắng Biên giới (1950) và Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954); cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã từng bước phát triển vững chắc, bẻ gãy
âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của địch, tiến lên giành quyền chủ động chiến
lược trên chiến trường chính Bắc bộ, cuối cùng đánh bại địch hoàn toàn trong
chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán và ký
Hiệp định Geneve, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Câu Hỏi: Phân tích quá trình chuyển hướng và hoàn chỉnh từ chuyển hướng
chiến lược cách mạng của Đảng từ HộI Nghị TW 6 (11-1939) đến HộI nghị TW
8(5 – 1941)
a. Tình hình thế giới và trong nước
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, trong đó Pháp là nước tham
chiến. Chính phủ Pháp thi hành một loạt các biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở
trong nước và phong trào cách mạng thuộc địa.

quyết định thành lập mặt trận dtộc thống nhất phản dế đông dương thay cho mặt trận dân
chủ đông dương. Để đkết, tập hợp mọi llượng vào mặt trận, hội nghị chủ trương tạm gác
khẩu hiệu cm ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất of đế quốc & địa chủ phản
bội quyền lợi dtộc, chống tô cao, lãi nặng, chủ trương thay khẩu hiệu lập chính quyền xô
viết công nông bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà.
Những ndung của hội nghị đã chứng tỏ sự sắc sảo, nhạy bén sự sángtạo of đảng ta
trong công tác lđạo cm, đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận về cm dtộc dân chủ
ndân
Sau sự điều chỉnh bước đầu này dảng ta tiếp tục có những thay đổi phù hợp với
nhưĩng diễn biến mới của đk lsử đặt ra.
Hội nghị tháng 11/1940:
Bước sang năm 1940, tình hình qtế và trong nc có những chuyển biến mau lẹ hơn.
Ctranh t/giới thứ 2 bước vào gđoạn quyết liệt, nc pháp thất bại nhanh chóng. ở đông
dương thực dân pháp một mặt đẩy mạnh chính sách thời chiến, trắng trợn đàn áp phong
trào cm của ndân ta. mặt khác we thoả hiệp với nhật nhưng những thoả hiệp đó khong làm
dịu di tham vọng xâm chiếm đông dương của phát xít nhật.
Từ 6-9/11/1940 hội nghị TW đảng đã họp tại đình bảng bắc ninh. hội nghị khẳng định
sự đúng đắn chủ trương cmạng của đảng vạch ra tại hội nghị tW tháng 11/1939 và hoàn
chỉnh thêm 1 bước sự điều chỉnh chủ trương cm của đảng.
Từ sự phân tích đặc điểm kt xh việt nam, hội nghị chỉ rõ tính chất của cm đông dương
vẫn là cm tsản dân quyền.cm phản đế và cm thổ địa là hai bộ phận khăng khít, phải đồng
thời tiến hành không thể cái làm trc cái làm sau.
Hội nghị đã quyết định hai vấn đề quan trọng về việc duy trì đội du kích bắc sơn và
hoãn cuộc khởi nghĩa nam kỳ.
Hội nghị là sự tiếp tục cho sự điều chỉnh chủ trương cm of đảng, từng bước đặt cuộc
vận động gphóng dtộc & giai đoạn trực tiếp .
Hội nghị tháng 5/1941:
Bước sang năm 1941 tình hình cách mạng trong nc có nhiều biấn đổi quan trọng. ngày
28/1/1941 lãnh tụ NAQ trở về nc sau 30 năm hoạt động ở nc ngoài. Người tích cực xúc
tiến việc chuẩn bị tổ chức hội nghị ban chấp hành tW đảng.

* ý nghĩa của chủ trương chuyển hướng chỉ đạo clược của đảng trong năm 39-41:
Có ý nghĩa quyết định đvới sự ptriển của phong trào cm đi tới thắng lợi của cm tháng 8/45
CHủ trương là sự hoà ưuyện giữa trí tuệ toàn đảng với tư tưởng NAQ với đường lối
cm dtộc dân chủ VN, góp phần bổ sung, ptriển làm phong phú thêm kho tàng lý luận mác-
lênin về cm giải phóng dân tộc
Câu Hỏi: TạI sao HộI Nghị TW lần 8 của Đảng Cộng Sản Đông Dương lạI đặc
nhiệm vụ giảI phóng lên hàng đầu và chủ trương thành lập mật trận Việt
Minh.
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó (Cao Bằng) xây dựng thí điểm các
đoàn thể cứu quốc để tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh. Hội nghị cán bộ tỉnh
Cao Bằng của Đảng Cộng sản Đông Dương, họp vào cuối tháng 4 năm 1941, dưới
sự chủ tọa của Hoàng Văn Thụ và Vũ Anh, đã khẳng định công tác xây dựng thí
điểm các đoàn thể cứu quốc đạt kết quả tốt, chứng tỏ chủ trương thành lập Mặt
trận Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc là hoàn toàn đúng đắn.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, họp từ ngày 10
đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó, huyện Hà
Quảng, tỉnh Cao Bằng, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thành
lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Các tổ chức quần chúng
trong Việt Minh đều lấy tên là Hội cứu quốc (như Hội công nhân cứu quốc, Hội
nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội quân nhân cứu quốc ).
Nội dung của HộI nghị lần VIII có chủ trương như sau:
- Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu bởi : Mâu thuẫn chủ yếu của
dân tộc ta lúc này là mâu thuẫn giữa dân tộc với phát xít Pháp - Nhật. Ban chấp
hành trung ương quyết định tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất
cho cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và
Việt gian cho dân cày nghèo”.
- Xây dựng lực lượng cách mạng: thành lập mặt trận Việt Minh thay cho Mặt
trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực
lượng tham gia giải phóng dân tộc. Trực thuộc Mặt trận Việt Minh có Hội công
nhân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc…

dựng và phát triển kinh tế – xã hội;
Đặc biệt là chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước đã thực sự phát huy quyền làm
chủ kinh tế của nhân dân, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo của quần chúng để
phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm
cho xã hội:
+ Về lương thực thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập
45 vạn tấn gạo, đến năm 1990 chúng ta đã đáp ứng được nhu cầu trong nước, có
dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân.
+ Về hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng, mẫu
mã – chất lượng tiến bộ hơn trước, lưu thông tương đối thuận lợi.
+ Về kinh tế đối ngoại, phát triển mạnh và mở rộng hơn trước: từ năm 1986 đến
1990, hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần, hàng nhập khẩu giảm đáng kể.
+ Kiềm chế được một bước đà lạm phát, đời sống nhân dân giảm bớt khó khăn.
+ Bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước.
Những thành tựu trong bước đầu thực hiện đường lối đổi mới đã chứng tỏ đường
lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới là phù hợp.
* Hạn chế
Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội; nền kinh tế còn mất cân
đối lớn, lạm phát tuy có giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao, thất nghiệp gia tăng.
Chế độ tiền lương còn bất hợp lí, mức sống của những người sống chủ yếu bằng
lương và của một bộ phận nông dân bị giảm sút.
Sự nghiệp văn hóa có những mặt tiếp tục xuống cấp, hiện tượng tham nhũng, hối
lộ, bất công xã hội, vi phạm pháp luật, kỉ luật, kỉ cương… vẫn còn khá nặng nề và
phổ biến.
2. Kế hoạch 5 năm 1991 – 1995: Tiếp tục sự nghiệp đổi mới
2.1. Nhiệm vụ, mục tiêu của Đại hội VII
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã tổng kết, đánh giá
việc thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung,

Tình trạng tham nhũng, lãnh phí, buôn lậu, làm ăn phi pháp cũng như hiện tượng
tiêu cực trong bộ máy nhà nước chưa được ngăn chặn triệt để.
Sự phân hóa giàu nghèo, đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn.
3. Kế hoạch 5 năm 1996 – 2000: Đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3.1. Nhiệm vụ mục tiêu của Đại hội VII
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (7/1996) đã kiểm điểm, đánh giá
việc thực hiện nghị quyết Đại hội VII và đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục
tiêu của kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 là:
Đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng
kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức
xúc về xã hội. Cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh
tế.
3.2. Thành tựu và hạn chế của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa (1996 - 2000)
* Thành tựu
Nền kinh tế vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyển
dịch tích cực:
Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7%. Công nghiệp tăng bình quân
13,5%, nông nghiệp tăng 5,7%
Cơ cấu các ngành kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển: xuất khẩu đạt 51,6 tỉ USD, nhập khẩu đạt 61
tỉ USD, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt khoảng 10 tỉ USD (tăng 1,5 lần
so với 5 năm trước). Đặc biệt, đến năm 2000, Việt Nam đã có 40 dự án đầu tư ra
nước ngoài.
Khoa học và công nghệ có bước chuyển biến tích cực. Giáo dục và đào tạo có
bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất.
Các lĩnh vực văn hóa – xã hội phát triển đáng kể.
Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường,

khẩu hiệu cm ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất of đế quốc & địa chủ phản
bội quyền lợi dtộc, chống tô cao, lãi nặng, chủ trương thay khẩu hiệu lập chính quyền xô
viết công nông bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà.
Những ndung của hội nghị đã chứng tỏ sự sắc sảo, nhạy bén sự sángtạo of đảng ta
trong công tác lđạo cm, đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận về cm dtộc dân chủ
ndân
Sau sự điều chỉnh bước đầu này dảng ta tiếp tục có những thay đổi phù hợp với
nhưĩng diễn biến mới của đk lsử đặt ra.
Hội nghị tháng 11/1940:
Bước sang năm 1940, tình hình qtế và trong nc có những chuyển biến mau lẹ hơn.
Ctranh t/giới thứ 2 bước vào gđoạn quyết liệt, nc pháp thất bại nhanh chóng. ở đông
dương thực dân pháp một mặt đẩy mạnh chính sách thời chiến, trắng trợn đàn áp phong
trào cm của ndân ta. mặt khác we thoả hiệp với nhật nhưng những thoả hiệp đó khong làm
dịu di tham vọng xâm chiếm đông dương của phát xít nhật.
Từ 6-9/11/1940 hội nghị TW đảng đã họp tại đình bảng bắc ninh. hội nghị khẳng định
sự đúng đắn chủ trương cmạng của đảng vạch ra tại hội nghị tW tháng 11/1939 và hoàn
chỉnh thêm 1 bước sự điều chỉnh chủ trương cm của đảng.
Từ sự phân tích đặc điểm kt xh việt nam, hội nghị chỉ rõ tính chất của cm đông dương
vẫn là cm tsản dân quyền.cm phản đế và cm thổ địa là hai bộ phận khăng khít, phải đồng
thời tiến hành không thể cái làm trc cái làm sau.
Hội nghị đã quyết định hai vấn đề quan trọng về việc duy trì đội du kích bắc sơn và
hoãn cuộc khởi nghĩa nam kỳ.
Hội nghị là sự tiếp tục cho sự điều chỉnh chủ trương cm of đảng, từng bước đặt cuộc
vận động gphóng dtộc & giai đoạn trực tiếp .
Hội nghị tháng 5/1941:
Bước sang năm 1941 tình hình cách mạng trong nc có nhiều biấn đổi quan trọng. ngày
28/1/1941 lãnh tụ NAQ trở về nc sau 30 năm hoạt động ở nc ngoài. Người tích cực xúc
tiến việc chuẩn bị tổ chức hội nghị ban chấp hành tW đảng.
Họp từ ngày 10-19/5/1941 tại pắc bó (cao bằng)do đồng chí NAQ chủ trì. Trên csở phân
tích tình hình t/giới và tình hình đông dương về mọi mặt ktế, ctrị , chính sách của nhật,

lượng tham gia giải phóng dân tộc. Trực thuộc Mặt trận Việt Minh có Hội công
nhân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc…
Mặt trận Việt Minh được hình thành với một số đặc điểm: Chỉ hoạt động
trong phạm vi dân tộc Việt Nam , có cương lĩnh hành động rõ ràng, có cờ đỏ sao
vàng, tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ.
- xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của đảng và
nhân dân ta trong giai đoạn hiên tại , pt llcm bao gồm chính trị quân sự thành lập
các khu căn cứ , chú trọng công tác xd đảng, đào tạo cán bộ và đẩy mạnh công tác
vận động quần chúng
Phương châm hình thái khởi nghĩa ở nước ta: Nắm vững và dự báo được thời
cơ cách mạng. chuẩn bị sẵn sàng ll nhằm lợi dụng cơ hội thuận tiện hơn cả đánh
lại quân thù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status