Phương tiện rào đón trong các bài báo nghiên cứu kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt - Pdf 12

ĐẠI HỌC QUỐC GIA – HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
_______________________

PHẠM THỊ THANH THÙY PHƯƠNG TIỆN RÀO ĐÓN TRONG CÁC BÀI BÁO NGHIÊN CỨU KINH TẾ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG
VIỆT


Phản biện 2 : TS. Nguyễn Văn Mười Phản biện 3 : TS. Phan Văn Hoà Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án ti
ến sỹ họp tại :
Trường ĐH Ngoại Ngữ - ĐHQG

Vào hồi 8 giờ 30 ngày 18 tháng 9 năm 2008

Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà nội
- Trung tâm thông tin – Thư viện, khoa sau Đại học - Đại học Ngoại ngữ- ĐHQGHN

Chương I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Hai thập kỷ nghiên cứu về ngôn ngữ khoa học cho thấy rằng thể loại ngôn ngữ viết
khoa học không chỉ đơn thuần mang một số đặc như tính khách quan, không ngôi, và
chỉ mang tính thông tin như trước đây nó đã từng được nghĩ như vậy. Thực tế là rất
nhiều nhà nghiên cứu như Butler (1990), Crompton (1997, 1998), Hyland (1994, 1996,
1998) Myers (1985, 1989), Salager-Meyer (1994, 2000), Swales (1990) cho thấy rằng

nhận biết ra các chức năng của phương tiện rào đón trong các bài nghiên cứu khoa học
kinh tế?
2. Các công cụ rào đón trong các bài báo nghiên cứu khoa học kinh tế tiếng Anh và tiếng
Việt giữ những chức năng gì?
3. Các công cụ rào đón được sử dụng trong các bài báo nghiên cứu khoa học kinh tế tiếng
Anh và tiếng Việt có những điểm giống và khác nhau như thế nào?
I.3. Những đóng góp của nghiên cứu
1. Khác với các nghiên cứu trước đây chỉ chủ yếu tập trung vào phân tích hiện tượng rào
đ
ón phổ biến trong các cuộc hội thoại (như nghiên cứu của Stubbs, 1986; Coates,
1987; Nittono, 2003; Nguyễn Quốc Sinh, 2004; Phan Thi Phương Dung, 2004), nghiên
cứu này phân tích các bài nghiên cứu khoa học được sử dụng thực tế trong giới chuyên
môn để xem xét các khái niệm liên quan đến các chiến lược mang tính kinh viện về các
hình thức rào đón.
2. Nghiên cứu này miêu tả cách sắp xếp các dạng thức rào đón được sử dụng trong các
bài nghiên cứu khoa học kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. Nghiên cứu này c
ũng đưa ra
những khuôn mẫu hợp lý giải thích cho việc lựa chọn sử dụng các hình thức rào đón.
3. Nghiên cứu về các nguyên tắc tu từ này cung cấp một cái nhìn mới về hình thức tu từ
này cho giới ngôn ngữ.
4. Những thông tin từ nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn kỹ lưỡng hơn về cách các
nhà nghiên cứu đưa ra những yêu cầu của mình, cách họ tiến hành nghiên cứu và cách
họ đoán biết nhữ
ng phản ứng không tốt từ phía độc giả đối với những nhận định của họ
để có những sự chuẩn bị tốt hơn trước những phản ứng đó.
5. Những thông tin trong luận án này cũng đóng góp vào sự hiểu biết của chúng ta về
cách thức sử dụng lập luận và cấu trúc luận cứ. Nói một cách khác, nghiên cứu này
giúp chúng ta đoán trước được nhữ
ng từ chối có thể có từ phía độc giả và hiểu sâu sắc
hơn quá trình mà các tác giả dẫn dắt người đọc đến sự đồng tình với những nhận định

ượng và nghiên
cứu định tính. Việc phân tích được tiến hành theo một số bước như: thu thập các hiện
tượng rào đón (nghiên cứu định tính), sử dụng chương trình phần mềm vi tính
MonoConc để hỗ trợ cho việc tìm kiếm các hiện tượng rào đón. Sau đó, trong tập hợp
các cách diễn đạt rào đón, phân tích định lượng được tiến hành nhằm tìm ra những cấu
trúc rào đón được sử dụng phổ biến trong t
ập hợp các văn bản, sự phân bổ của các cấu
trúc rào đón này trong các phần thảo luận (surface analysis). Cuối cùng các nghiên cứu
sâu được tiến hành trong văn cảnh thực của văn bản nhằm xác định mục đích sử dụng
các phương thức rào đón của các tác giả kinh tế (pragmatic analysis) .
Để tìm ra sự giống nhau và khác nhau trong cách sử dụng hiện tượng rào đón trong
tiếng Anh và tiếng Việt, phương pháp so sánh đối chiếu cũ
ng được sử dụng trong luận
án (Comparative and contrastive analysis methods). Bên cạnh đó, để kiểm tra giả
thuyết về mục đích sử dụng các phương thức rào đón của các tác giả kinh tế, tôi cũng
sử dụng các bảng câu hỏi khảo sát (phân tích định tính) và phỏng vấn các chuyên gia
kinh tế Hoa Kỳ và Việt nam. Trong số những người được phỏng vấn có một số người
là tác giả của những bài viết tôi lựa chọ
n trong nguồn dữ liệu phân tích. Thông qua
email và phỏng vấn trực tiếp, các chuyên gia kinh tế này đưa ra những nhận xét và
đánh giá về mục đích sử dụng các diễn đạt rào đón trong các văn bản kinh tế.
Chương II: Cơ sở lý luận
II.1. Định nghĩa về rào đón – Các khía cạnh nhận thức về rào đón
Hiện tượng rào đón có thể được hiểu một cách rộng là một hiện tượng đặc trưng của
một thể loại nhất định. Tuỳ thuộc vào từng thể loại nhất định, hiện tượng rào đón được
sử dụng để thoả mãn những yêu c
ầu mang tầm vĩ mô, hoặc hoàn thành những ý định
mang tính vi mô. Tuy nhiên, hiện tượng rào đón thường thoả mãn những tiêu chuẩn
nhất định và có những giới hạn nhất định. Từng thể loại khác nhau cũng quyết định các
cấu trúc rào đón, thể loại rào đón và chức năng rào đón khác nhau được sử dụng. Rào

trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong các bài báo khoa
học kinh tế, hiện tượng này chưa được chú ý đúng mức. Bên cạnh đó, theo như chúng
tôi được biết những nghiên cứu về các biểu thức rào đón trong lĩnh vực kinh tế chỉ chủ
yếu tập trung vào một khía cạnh đơn lẻ và một cách gián tiếp. Ví dụ, khi nghiên cứu về
cách thức tranh luận, hay nghiên cứu về mức độ cam kết của tác giả với những thông
tin đưa ra, các nhà nghiên cứu đề cập gián tiếp tới hiện tượng rào đón như là một trong
những phương ti
ện tu từ trong muôn vàn phương tiện tu từ được các tác giả kinh tế sử
dụng.) Bloor và Pindi (1987) đề cập tới phương tiện rào đón như là một công cụ phác
hoạ giản đồ cấu trúc của các dự báo kinh tế. Bloor và Bloor (1993) xem xét các cấu
trúc câu được rào đón một cách tỉ mỉ nhằm tìm ra cách các nhà kinh tế giảm nhẹ các
nhận định của họ như thế nào trong các bài báo khoa học kinh tế. Dudley-Evans (1993)
nghiên cứu các chiến lược lịch s
ự được sử dụng khi các nhà kinh tế sử dụng trong
tranh luận. Tuy có những nghiên cứu về các biểu thức rào đón trong các văn bản kinh
tế, một nghiên cứu có tính hệ thống về hiện tượng này là rất cần thiết.
Chương III. Kết Quả Nghiên Cứu Trong Các Bài Báo Kinh Tế Tiếng Anh
III.1. Các đặc điểm từ vựng-ngữ pháp được sử dụng để rào đón trong các bài báo kinh tế.
III.1.1. Các Công Cụ Rào Đón Từ Vựng Trong Các Văn Bản Kinh Tế Tiếng Anh
Trong số các công cụ rào đón từ vựng xuất hiện trong các bài báo khoa học tiếng Anh,
công cụ xuất hiện phổ biến nhất là hình thức rào đón danh từ/đại từ (trung bình cứ 100
từ
văn bản xuất hiện 0.816 công cụ rào đón loại này). Công cụ phổ biến đứng thứ hai là
các Động từ tình thái có chức năng như các phương tiện rào đón trong các bài báo
khoa học kinh tế tiếng Anh với số lượng trung bình 0.485 công cụ trên 100 từ văn bản.
Tiếp theo đó là các động từ với tần số xuất hiện trung bình là 0.283 công cụ trên 100 từ
văn bản. Các kết quả chung nêu trên cho thấy một sự khác bi
ệt khá rõ rệt giữa các công
rào đón từ vựng trong các bài báo kinh tế tiếng Anh.
Các công cụ rào đón danh từ và đại từ được coi là các công cụ tiềm năng trong các bài

nữa) trong phát ngôn 17b, c.
2. (16a) Or they fail to recognize (16b) that the elderly can support any
given flow of consumption with a lesser flow of money income than can
young people? (17a) A misunderstanding like one of these can soften
some of the implications of the models above, (17b) but more work is
needed to show (17c) whether a single misunderstanding can fully
reconcile one of the theories with the facts. (EE. 14)
(Hoặc họ đã không nhận ra rằng những người cao tuổi có thể ủng hộ bất
kỳ xu hướng tiêu dùng nào với một nguồn thu nhập ít hơn giới trẻ. Một
sự hiểu lầm giống như vậy có thể làm yếu đi một số ứng dụng của các
mô hình nêu trên, nhưng nhiề
u nghiên cứu nữa cần được làm sáng tỏ liệu
chỉ một sự hiểu lầm đơn thuần thôi có thể hoàn toàn thoả mãn tất cả các
học thuyết với các sự kiện hay không.)
Các động từ từ vựng xuất hiện trong tập dữ liệu của luận án này được phân loại dựa
trên những nhóm từ vựng được thiết lập trên cơ sở những ý nghĩa cơ bản xu
ất hiện
trong những động từ khác nhau. Chúng tôi chia thành các động từ từ vựng đóng vai trò
rào đón thành ba loại sau: (i) các động từ mang tính đưa tin; (ii) các động từ tri nhận
chứa đựng ý nghĩa do dự; và (iii) các hệ từ (linking verbs) mang ý nghĩa do dự. Chúng
tôi thường thấy những loại động từ này xuất hiện khi tác giả muốn nhận xét hoặc đề
cập tới những nhận định của các tác giả khác. Ví dụ,
3.
(2a) A standard life-cycle model would suggest (2b) that, aside from tax
issues, the form of the pension plan is irrelevant to the worker's
retirement security. (EE. 3)
(Mô hình vòng đời chuẩn đề xuất rằng bên cạnh các vấn đề về thuế, hình
thức kế hoạch trợ cấp lương hưu là không thích đáng để đảm bảo vấn đề
lương hưu cho công nhân).
Sự do dự trong phát ngôn của tác giả trong ví dụ nêu trên được thể hiện qua một cấu

trong các tình huống được đề cập trong các phát ngôn của mình. Công cụ này cũng
được xem như là một yếu tố mơ hồ, giả tạo được thêm vào để làm tăng khả n
ăng
thuyết phục của tác giả trong những phát ngôn của mình. Trong ví dụ dưới đây, tác giả
đã sử dụng cấu trúc ẩn yếu tố tác giả đi kèm với there để làm tăng sự thuyết phục của
nội dung phát ngôn trong mệnh đề (15b)
4. (15a) There seems again to be every likelihood (15b) that, an anomaly
between these regression results (15c) which appear to indicate (15d) that
the MPC was not aiming at gradualism. (EE. 18)
([Ở đây] dường như sự bất thường giữa các kết quả hồi quy này cho
thấy MPC không hướng t
ới phương tiện tu từ).
Cấu trúc câu There seems again to be every likelihood đã làm tăng ảnh hưởng của phát
ngôn (15b). So với phát ngôn 4 thì phát ngôn 4’ được dựng lên dưới có sức diễn đạt
yếu hơn.
4’. (15a’) “The likelihood is (15b) that, an anomaly between these regression
results (15c) which appear to indicate (15d) that the MPC was not aiming
at gradualism.
(15a’) “Có khả năng là (15b) sự bất thường giữa các kết quả hồi quy này
cho thấy MPC không hướng tới phương tiện tu từ.
Bên cạnh diễn đạt những điều có thể hoặc chắc chắn, hoặc quan trọng xẩy ra, cấu trúc
It trong tập dữ liệu còn được sử dụng để diễn đạt những điều suy nghĩ cũng như những
giả đị
nh của tác giả.
Cấu trúc One cũng là một công cụ tu từ hữu hiệu giúp các tác giả kinh tế che chắn các
phát ngôn của mình. Cấu trúc One trong tập dữ liệu thường xuất hiện cùng với các
Động từ tình thái như might, may, would.
III. 2. Phân Tích Ngữ Dụng Học Các Công Cụ Rào Đón trong Các Văn Bản Tiếng Anh.
Nhận thức được tính đa chức năng của các phương tiện rào đón trong các văn bản kinh
tế

(2) chức năng bảo vệ diện mạo của các tác giả. Hãy xét ví dụ dưới đây,
5. Likewise, (18a) firms (18b) that do not manipulate their earnings or
compete for glamorous executives (18a) might not survive (18c) as
independent entities long enough for reality to intervene. (EE. 1)
(Tương tự như vậy, (18a) các hãng kinh doanh (18b) mà không kiểm soát
được các nguồn thu nhập của mình hoặc không hoàn thành tốt các chức
năng quản lý (18a) có thể không tồn tại đủ lâu dài được (18c) như các
doanh nghiệp độc lập để thự
c tế can thiệp vào.
Công cụ rào đón might (có thể) trong ví dụ (5) ở trên đã giúp tác giả của phát ngôn ở
trên né tránh được việc chịu trách nhiệm hoàn toàn với độ chính xác của phát ngôn đó,
và còn có thể tránh được việc đưa ra một kết luận sai về sự tồn tại của các doanh
nghiệp (được đề cập trong phát ngôn (18a), và (18c))
Ở ví dụ (6) dưới đây, các cụm từ có tính chất rào đón như in our knowledge (theo như
chúng tôi biế
t), one important limitation of our analysis (một hạn chế quan trọng trong
phân tích của chúng tôi) hàm ý rằng các tác giả đã nhận thức được hạn chế trong kiến
thức của mình về độ chính xác của thông tin trong phát ngôn, và các tác giả cũng quan
tâm tới việc liệu có thể thực sự đạt được các thực tế đã nêu lên. Trong những trường
hợp này, thừa nhận sự thiếu chính xác trong các phát ngôn có thể là điều tốt nhất để
che dấu nhữ
ng quan điểm của tác giả.
6. (14) But there is also a surprising number of gaps in our knowledge
about trade liberalization and poverty, and important questions for further
research. (EE. 10)
((14) Nhưng có rất nhiều khoảng cách, theo như chúng tôi được biết) về tự
do hoá thương mại và nghèo đói, và những điều này là những vấn đề quan
trọng cần được nghiên cứu thêm).
Trong khi các biểu thức rào đón định hướng nội dung tập trung phần lớn vào độ chính
xác trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, các biểu thức rào đ

Số lượng các công cụ tình thái trong tập dữ liệu tiếng Việt trên 100 từ văn bản là rất
cao. Theo ước tính cứ 100 từ vựng văn bản thì có hơn 20 công cụ tình thái tiếng Việt
được sử dụng. Hai loại công cụ tình thái phổ biến là (1) Trạng từ Tình thái; và (2) Trợ
Động từ
Tình thái.
Trong tiếng Việt, trạng từ tình thái (hay một số nhà ngôn ngữ học gọi là tiểu từ) thường
được sử dụng như những từ riêng rẽ vì thói quen của những người sử dụng. Dần dần
những tiểu từ và những trạng ngữ này được mô hình hoá và trở thành những đơn vị cố
định trong tiếng Việt. Các trạng từ tình thái trong tập dữ liệu tiếng Việt được coi là các
công cụ rào đón thường được sử dụng để diễn đạt thái độ và niềm tin của tác giả về độ
chính xác của một phát ngôn. Nếu xét tới độ chắc chắn của tác giả tới độ chính xác của
phát ngôn thì ta có thể chia các trạng từ tình thái trong tập dữ liệu tiếng Việt thành hai
cấp độ: (i) cấp độ chắc chắn cao; (ii) và cấp độ chắc chắn thấp hơn.
Các công cụ tr
ạng từ tình thái thuộc nhóm thứ nhất trong tập dữ liệu tiếng Việt chiếm
34 thành phần trong tổng số 56 công cụ trạng từ tình thái. Các công cụ trạng từ tình
thái chỉ độ chắc chắn cao như rõ ràng, thực sự, tất nhiên, nhất định, đương nhiên, hoàn
toàn diễn đạt sự chắc chắn của các tác giả về độ chính xác của thông tin trong phát
ngôn mà tác giả đưa ra. Khác với nhóm trạng từ tình thái nhóm một, các trạ
ng từ tình
thái thuộc nhóm hai như dường như); khá + tính từ; khoảng chỉ diễn đạt một niềm tin,
sự thiếu quả quyết của tác giả.
Một loại công cụ rào đón từ vựng khác trong tập dữ liệu tiếng Việt là động từ. Các
động từ trong tập dữ liệu tiếng Việt có vai trò như những biểu thức rào đón có thể được
chia thành hai nhóm: Các động từ
nhận thức và các động từ tri giác. Cao Xuân Hạo
(1991) và Nguyễn Thiện Giáp (2000) cùng chung quan điểm khi đưa ra nhận định rằng
những động từ như cho, cho rằng, thấy, cho thấy ẩn chứa những giả định thực tế.
Những nhà ngôn ngữ này gọi những động từ loại này là các động từ nhận thức hay các
động từ thực chứng (như Palmer (1986) đã đặt tên cho nhóm động từ này). Nhữ

thể gây ra hành động nào, và trong vị trí của vị ngữ, không có một dấu hiệu liên kết
nào với tác nhân của hành động. Trong tập dữ liệu tiếng Việt, các cấu trúc phi chủ thể
này có thể chia thành ba nhóm: (i) cụm giới từ + (từ chỉ thời gian) + động từ; (ii) các
cụm động từ; và (iii) các dạng bị động. Nhóm đầu tiên bao gồm các cấu trúc phi chủ
ngữ với một cụm giới từ và một động từ. Cấu trúc này có thể bị coi là cấu trúc sai ngữ
pháp trong tiếng Anh (theo Quirk và các đồng nghiệp, 1976). Nhóm biểu thức phi chủ
thế thứ hai bao gồm nhữ
ng cụm từ bắt đầu bởi những động từ hay cụm động từ. Thành
phần chủ chốt của những biểu thức này là cụm danh từ làm chủ ngữ bị thiếu vắng. Sự
vắng mặt của chủ ngữ trong những biểu thức này thể hiện một điều rằng không phải
lúc nào cũng có thể tìm được thông tin về danh từ bị thiếu thông qua các dạ
ng động từ.
IV. 2. Phân Tích Ngữ Dụng Học Các Công Cụ Rào Đón trong Các Văn Bản Tiếng Anh.

Xét về mặt ngữ dụng học, một từ, một cấu trúc hay một hoạt động lời nói có thể được
sử dụng cùng một lúc với nhiều chức năng khác nhau, và ngược lại, một chức năng
ngôn ngữ có thể được diễn đạt thông qua nhiều cấu trúc khác nhau. Để thành công
trong giao tiếp, những người tham gia quá trình giao tiếp nên lự
a chọn những cách giao
tiếp thuận lợi có thể giữ được thể diện cho đối phương giao tiếp của mình. Trong
trường hợp này, sử dụng các công cụ rào đón chính là một cách thức hữu hiệu trong
nhiều cách khác nhau nhằm duy trì tính lịch sự trong giao tiếp. Trong văn bản, cuộc
hội thoại giữa tác giả và độc giả là một cuộc hội thoại đặc biệt, vì các tác giả không
giao tiếp trực tiế
p với các độc giả của mình nên khó có thể biết ngay được những phản
hồi của độc giả về những thông tin trong phát ngôn của tác giả. Chính vì vậy các tác
giả kinh tế phải bảo vệ thể diện của mình bằng cách sử dụng nhiều hơn nữa các biểu
thức rào đón. Các tác giả kinh tế sử dụng các công cụ rào đón để nhấn mạnh tới sự
quan tâm của họ t
ới các độc giả của mình. Họ còn sử dụng các biểu thức rào đón như

ả khi tiếp nhận thông tin trong các
phát ngôn được đưa ra, và có thể sẽ dễ dàng chấp nhận các thông tin này hơn khi mà
thể diện dương tính của họ (sự mong muốn được cộng đồng biết tới) được công nhận.
Bên cạnh đó, nhiều lúc để nhấn mạnh tầm quan trọng của các phát ngôn của mình, các
tác giả kinh tế đã làm tăng giá trị của các phát ngôn bằng các phương tiện tăng cường.
Các phương tiện t
ăng cường thường là các trạng từ ảnh hưởng tới các thành phần khác
trong câu (Crystal, 2003). Phần lớn các phương tiện tăng cường có chức năng như
công cụ rào đón trong tập dữ liệu tiếng Việt là các trạng từ nhấn mạnh như hoàn toàn,
thực sự, nhất định, tuyệt đối, rõ ràng, đương nhiên, dĩ nhiên, đại bộ phận…. Những
phương tiện tăng cường này thường đứ
ng trước một động từ thường trong câu và có
chức năng nhấn mạnh những động từ thường này.
Trong khi nhấn mạnh các thông tin trong các phát ngôn là một cách tốt để bảo vệ thể
diện dương tính của các tác giả (sự mong đợi được cộng đồng biết tới), giảm nhẹ các
thông tin trong các phát ngôn lại là một cách dễ dàng để bảo vệ thể diện âm tính của
các tác giả (thể diện âm tính đề cao cá tính, tính độ
c lập của tác giả). Bên cạnh mong
muốn được công nhận trong giới chuyên môn (thể diện dương tính), các tác giả kinh tế
Việt Nam cũng không muốn mất thể diện trước những người khác (thể diện âm tính).
Trong lĩnh vực khoa học, các kết quả nghiên cứu có thể thay đổi theo thời gian, hoàn
cảnh và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Có thể cùng một lý thuyết và phương pháp
như nhau nhưng được áp dụng trong những hoàn cảnh và thời gian khác nhau có thể

cho những kết quả khác nhau. Chính vì vậy, các tác giả kinh tế đã ý thức được điều này
và chỉ rõ phạm vi áp dụng kết quả nghiên cứu của họ trong các phát ngôn của mình
nhằm hạn chế những phản ứng về độ chính xác từ phía các độc giả của mình.
Bên cạnh bảo vệ thể diện dương tính và thể diện âm tính của mình, các tác giả kinh tế
còn cố gắng bảo vệ thể
diện của các độc giả bằng các biểu thức rào đón. Để đạt được

Chương V. So Sánh Việc Sử Dụng Các Công Cụ Rào Đón trong Tiếng Anh và Tiếng Việt
V.1. Những Nhận Xét Chung

Nhìn lại bảng 3 ở trên, chúng ta thấy sự khác biệt về mặt số lượng các công cụ rào đón
giữa tiếng Anh và tiếng Việt trên mỗi 100 từ văn bản. Nhìn chung, số lượng các công
cụ rào đón được sử dụng trong bảng dữ liệu tiếng Anh nhiều gấp hai lần so với số
l
ượng các công cụ rào đón được sử dụng trong bảng dữ liệu tiếng Việt. Sự khác biệt
này được thể hiện thông qua một số công cụ nổi bật như (1) Các dạng tình thái; (2) Các
dạng danh từ/ đại từ; (3) Các công cụ phi từ vựng, và đặc biệt (4) Các công cụ rào đón
phức hợp. So với các tác giả trong các văn bản tiếng Anh, các tác giả Việt nam sử dụng
nhiều hơn các dạng tình thái để
rào đón cho các phát ngôn của mình, nhưng lại sử dụng
ít hơn các dạng cấu trúc danh từ hoá trong các bài viết của mình. Trong khi các tác giả
Việt nam sử dụng nhiều ngôn ngữ mơ hồ thông qua việc sử dụng nhiều cấu trúc phi
chủ thể để tránh đề cập tới một đối tượng cụ thể hứng chịu những chỉ trích từ phía tác
giả, hoặc chịu trách nhiệm thực hiện những nh
ận xét do tác giả đưa ra, các tác giả trong
các văn bản tiếng Anh lại có xu hướng sử dụng kết hợp nhiều công cụ rào đón một lúc
để tăng hiệu quả thuyết phục trong những phát ngôn của họ.
Bảng 5 dưới đây cho chúng ta thấy một cái nhìn rõ hơn về sự khác nhau trong việc sử
dụng các biểu thức rào đón trong hai ngôn ngữ.
V.2. So Sánh Việc Sử Dụng Các Biểu Thức Rào Đón Theo Các Tiêu Chí Khác Nhau
Để có đượ
c một bức tranh cụ thể hơn về việc sử dụng các biểu thức rào đón trong hai
thứ tiếng Anh và Việt, chúng tôi tiến hành so sánh việc sử dụng các biểu thức rào đón ở
hai tập dữ liệu theo các loại biểu thức rào đón cụ thể.
Kỹ thuật thống kê t-test được sử dụng để kiểm tra liệu việc sử dụng các biểu thức rào
đón trong các văn bả
n kinh tế tiếng Anh có khác biệt so với việc sử dụng các biểu thức

luận rằng việc sử dụng các biểu thức rào đón giữa
hai ngôn ngữ là khác nhau.
Nếu giá trị P > α (=0.05) thì chúng ta phải chấp nhận giả thuyết ngược H
0

V.2.1. Các Loại Biểu Thức Rào Đón Giống Nhau
Giá trị P về loại biểu thức cụm từ rào đón giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt =
0.819 > giá trị α = 0.05, nên giả thuyết ngược H
0
không thể bị bác bỏ. Nghĩa là biểu
thức cụm từ rào đón trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt là không khác nhau.
Kết quả P = 0.545 > giá trị α = 0.05, nên một lần nữa giả thuyết ngược H
0
không thể bị
bác bỏ. Nghĩa là biểu thức động từ rào đón trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
là không khác nhau.
Hai loại biểu thức rào đón nữa cũng giống nhau giữa hai ngôn ngữ là các biểu thức rào
đón trạng ngữ và các biểu thức rào đón tính ngữ với các kết quả P tương ứng là 0.940
(trạng ngữ) và 0.646 (tính ngữ). Những giá trị này đều > giá trị α = 0.05. Do đó chúng ta
phải chấp nhậ
n giả thuyết ngược H
0
và bác bỏ giả thuyết H
1
.

V.2.2. Các Loại Biểu Thức Rào Đón Khác Nhau
Bên cạnh có những loại biểu thức rào đón được sử dụng với số lượng như nhau trong
hai ngôn ngữ, bảng số liệu thống kê về biểu thức rào đón được sử dụng trong hai ngôn
ngữ cũng chỉ ra một số loại biểu thức rào đón được sử dụng trội hơn hơn ở một thứ ngôn

thuyết H
1
rằng có sự khác biệt trong việc sử dụng dạng biểu thức rào đón phức hợp. Giá
trị trung bình Mean của biểu thức rào đón này trong tiếng Anh (6.512) lớn hơn rất nhiều
so với giá trị trung bình của biểu thức rào đón này trong tiếng Việt (0.526) chứng tỏ các
tác giả kinh tế trong các văn bản tiếng Anh sử dụng kết hợp rất nhiều biểu thức với nhau
để nhằm tă
ng khả năng rào đón các biểu thức của họ.
Ngoài những khác biệt có thể dễ dàng nhận biết qua các số liệu, chúng ta cũng có thể rút
ra một số khác biệt khác trong việc sử dụng các biểu thức rào đón trong hai ngôn ngữ
nếu phân tích cụ thể hơn một chút. Ví dụ chúng ta có thể thấy mục đích của việc sử
dụng các biểu thức rào đón trong hai ví dụ dưới đây là khác nhau giữa hai ngôn ng
ữ.

12. (3) Do vậy, để giải quyết vấn đề này, chúng ta nên kết hợp sử dụng hạn ngạch
xuất khẩu và thuế xuất khẩu đối với gạo. (VE.11)
13. (9) We conclude by suggesting an additional propagation mechanism, vertical
specialization. (10a) We mean the phenomenon (10b) by which countries
increasingly specialize in producing only particular stages of a good's
production sequence (10c) so that a good crosses multiple borders while in
process. (EE. 2)
((9) Chúng tôi kết luận bằng cách đưa ra một cơ chế phổ biến nữa, có tính
chuyên môn hoá cao. (10a) Ý của chúng tôi muốn đề cập tới hi
ện tượng (10b)
mà các nước đang tăng cường chuyên môn hoá trong sản xuất ở một số giai
đoạn sản xuất đặc biệt nào đó do đó một sản phẩm có thể được luân chuyển qua
nhiều nước ngay cả khi quá trình sản xuất chưa hoàn chỉnh).

Trong ví dụ (12), biểu thức rào đón đại từ số nhiều chúng ta kết hợp với biểu thức rào
đón động từ nên hỗ trợ tác giả Việt nam trong việc làm giảm tính áp đặt trong gợi ý mà

ộng rãi trong các
văn bản kinh tế với các mục đích khác nhau. Trung bình cứ 100 từ văn bản có hơn
1 biểu thức rào đón trong các văn bản tiếng Anh và con số này là gần 0.5 biểu thức
rào đón. Công cụ rào đón có thể được các tác giả kinh tế sử dụng để thể hiện mong
muốn diễn đạt chính xác nội dung trong các phát ngôn của mình, và đồng thời
khẳng định những đóng góp của họ cho chuyên ngành mà họ
đang nghiên cứu.
Bên cạnh đó, các biểu thức rào đón còn là công cụ hỗ trợ các tác giả trong việc
thừa nhận những hạn chế của mình trong nghiên cứu, cũng như nói lên những thiếu
sót có thể có do phạm vi nghiên cứu hạn chế đem lại. Tất cả những hành động này
sẽ góp phần làm tăng khả năng thuyết phục cho những phát ngôn của các tác giả.
2. Các văn bản kinh tế ti
ếng Anh và tiếng Việt xuất hiện rất nhiều loại biểu thức rào
đón. Các công cụ rào đón từ vựng chiếm một tỷ lệ cao nhất trong cả hai loại văn
bản tiếng Anh và tiếng Việt (trung bình cứ 100 công cụ rào đón thì có khoảng
2,062 biểu thức rào đón từ vựng tiếng Anh và khoảng 1,836 công cụ rào đón từ
vựng tiếng Việt). Sở dĩ các công cụ rào đón từ v
ựng xuất hiện khá phổ biến như
vậy vì thường các công cụ rào đón từ vựng diễn đạt ý rõ ràng, cụ thể nên chúng có
thể tránh được những ý nghĩa mơ hồ trong các văn bản khoa học. Trong các văn
bản kinh tế tiếng Anh, công cụ rào đón từ vựng danh từ/ đại từ xuất hiện nhiều
nhất, kế đó là công cụ tình thái và công cụ động từ. Trong khi trong các văn bản
kinh tế tiếng Việt thứ tự này có một chút thay đổi, công cụ tình thái chiếm đa số và
tiếp sau là các công cụ danh từ/ đại từ và động từ. Bên cạnh các công cụ từ vựng,
các công cụ rào đón phi từ vựng cũng được các tác giả kinh tế sử dụng khá nhiều
để che chắn cho họ trước những phản ứng tiêu cực có thể xuất hiện từ phía các độc
giả do những hạ
n chế trong kiến thức hoặc trong phạm vi nghiên cứu, hay do
phương pháp nghiên cứu chưa phù hợp gây ra.
3. Các biểu thức rào đón được sử dụng khác nhau trong các lĩnh vực nghiên cứu.

t
ăng mức độ che chắn cho các phát ngôn của họ (trung bình cứ 100 từ văn bản thì
có tới 6.512 biểu thức rào đón được sử dụng kết hợp nhau trong tiếng Anh, so với
0.516 biểu thức rào đón được sử dụng trong tiếng Việt).
5. Về mặt ngữ dụng học, các biểu thức rào đón là một công cụ đa chức năng được các
tác giả kinh tế sử dụng với mục đích tăng thêm sự đồng tình với các phát ngôn của
mình. Các công cụ rào đón không chỉ cho phép các tác giả kinh tế diễn đạt được
những suy nghĩ, những gợi ý, mà còn giúp họ diễn đạt những điều họ tin là đúng.
Mối quan h
ệ giữa các tác giả kinh tế với các độc giả của mình được củng cố khi
các tác giả kinh tế sử dụng các công cụ rào đón nhằm giữ thể diện cho cả tác giả
lẫn độc giả của mình. Cụ thể, các biểu thức rào đón là những công cụ che chắn hữu
hiệu của các tác giả kinh tế trước những phản ứng ngược (nếu có) từ phía độc giả
nhằm tăng khả năng đồng tình của độc giả với các phát ngôn của họ. Đồng thời
công cụ che chắn còn khuyến khích độc giả tham gia vào đánh giá, ra quyết định
đối với các phát ngôn nghĩa là gián tiếp làm tăng thể diện dương tính của các độc
giả.
6. Những kết quả trong nghiên cứu này cho thấy rằng chúng ta nên xem xét, đánh giá
các biểu thức rào đón trong một văn cảnh cụ thể. Các k
ết quả phân tích ngữ nghĩa
về cách thức sử dụng các biểu thức rào đón thu được thông qua việc phân tích tập
cơ sở dữ liệu trong luận án chỉ có thể hiểu được nghĩa một cách chính xác khi
chúng ta đặc các biểu thức rào đón đó vào một văn cảnh cụ thể.
7. Các biểu thức rào đón phức hợp xuất hiện tương đối phổ biến trong tập cơ
sở dữ
liệu của luận án. Trong các văn bản tiếng Anh, có tới 37,5% ba loại biểu thức rào
đón được sử dụng đồng thời trong một câu văn bản, 33,9% hai loại biểu thức rào
đón được sử dụng đồng thời và có khoảng 28,6% bốn loại biểu thức rào đón cùng
đồng thời được các tác giả kinh tế sử dụng trong cùng một câu để tăng hiệu quả rào
đón củ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status