PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Huyện Hà Trung được hình thành từ rất sớm, là một trong những cái
nôi của dân tộc Việt Nam. Sau năm 1945, phủ Hà Trung được đổi thành
huyện Hà Trung (vào năm 1977).
Nền kinh tế của nước ta nói chung và huyện Hà Trung(thuộc tỉnh
Thanh Hóa) nói riêng đã có chuyển biến tích cực và gặt hái được những
thành tựu to lớn trong các lĩnh vực kinh tế. Sự thay đổi trên đã tạo động lực
quan trọng, góp phần đưa tỉnh Thanh Hóa chuyển sang một giai đoạn phát
triển mới để khẳng định vị trí của tỉnh trong nền kinh tế chung cả nước.
Là huyện có truyền thống lịch sử lâu đời với những di tích lịch sử, văn
hóa nổi tiếng như: Lăng miếu, đền, chùa Những di tích không chỉ góp phần
tô đẹp cho Hà Trung mà còn mở ra những cơ hội to lớn cho ngành du lịch.
Cùng đó, hơn 40% là diện tích đồi, núi đá đã tạo cho huyện thế mạnh phát
triển ngành khai thác, chế biến vật liệu xây dựng. Trên địa bàn huyện còn có
hệ thống giao thông thủy, bộ thuận tiện với quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-
Nam cùng với hệ thống sông Lèn, sông Tống, sông Hoạt, sông Chiếu, sông
Bạch Đó chính là lợi thế tạo nên sức bật để Hà Trung ngày càng khởi sắc
trong sự phát triển chung của tỉnh
Cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ theo nền kinh tế chung của Tỉnh,
kinh tế Huyện Hà Trung cũng đang trên phát triển nhanh chóng và vượt bậc.
Trong cơ cấu nền kinh tế của huyện ,ngành nông nghiệp, dịch vụ chiếm vị trí
quan trọng, tạo nên động lực cho tăng trưởng nền kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế của huyện ngày càng cao và ổn định, nhờ thế mà chất lượng
cuộc sống của nhân dân ngày một nâng lên.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
1
Trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa, huyện Hà Trung luôn
giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế chung của tỉnh. Việc đánh giá đầy đủ
tiềm năng và thực trạng kinh tế của huyện là vấn đề cần thiết và cấp bách, để
từ đó đưa ra các định hướng cũng như những giải pháp nhằm phát huy tối đa
kinh tế của huyện Hà Trung, trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển của các
ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại cũng như sự phân
hóa lãnh thổ trong sản xuất. Bên cạnh đó có chú ý so sánh vị trí kinh tế của
huyện Hà Trung với toàn tỉnh để thấy được vai trò của huyện trong nền kinh
tế chung.
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kinh tế huyện Hà Trung
trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2012, tầm nhìn đến năm 2020.
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Phát triển kinh tế huyện luôn là vấn đề quan tâm của các nhà nghiên
cứu khoa học, các nhà kinh tế, các cơ quan chuyên ngành nhằm phát huy các
thế mạnh vốn có để phát triển nền kinh tế bền vững và nâng cao chất lượng
cuộc sống cho nhân dân.
Về lý luận và thực tiễn, ở vùng Bắc Trung Bộ có nhiều công trình
nghiên cứu, tiêu biểu như: “Phê duyệt tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
vùng Bắc Trung Bộ thời kỳ 1996 – 2010” quyết định số 761/TTg của Thủ
tướng Chính phủ ra năm 1997 nói về nguồn lực và thực trạng phát triển kinh
tế - xã hội của vùng.
Những tác phẩm tiêu biểu cho việc nghiên cứu về kinh tế lãnh thổ:
Tác giả Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) với “Địa lý các vùng kinh tế
Việt Nam” NXB giáo dục, 2009. Trong tác phẩm này tác giả giới thiệu về
nguồn lực, thế mạnh và sự phân chia vùng kinh tế.
Tác giả Lê Thông (chủ biên) với “Địa Lý các tỉnh và thành phốViệt
Nam” (tập 1,2,3), NXB Giáo dục, 2002. Trong tác phẩm này tác giả giới
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
3
thiệu về nguồn lực, thế mạnh và thực trạng về kinh tế - xã hội của các tỉnh,
thành phố.
Tác giả Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức với giáo trình “Địa lí
kinh tế - xã hội Việt Nam tập 1,2”, NXB Sư phạm, 2008. Tác phẩm này đã
đưa hệ thống cơ sở lý luận chung nhất về phát triển kinh tế -xã hội. Đồng
mối quan hệ mật thiết với nhau tạo nên một thể thống nhất và hoàn chỉnh.
Chúng luôn có những tác động qua lại với nhau, ảnh hưởng đến nhau ở cả
hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. Kinh tế huyện Hà Trung được coi là thể
tổng hợp hoàn chỉnh. Vì vậy khi nghiên cứu phải có cái nhìn tổng hợp lãnh
thổ, phải nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, KT – XH,
hoàn cảnh lịch sử, các chính sách phát triển kinh tế của vùng Bắc Trung Bộ,
của tỉnh Thanh Hóa. Từ đó tìm ra các quy luật phát triển, định hướng phát
triển nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng của huyện Hà Trung.
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Khi nghiên cứu phải đảm bảo tính hệ thống của đề tài. Tính hệ thống
làm cho đề tài trở nên lôgic hơn. Lãnh thổ được coi là một hệ thống hoàn
chỉnh và thống nhất, trong đó bao gốm các hệ thống con như: các thị trấn,
các xã. Các hệ thống này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, cần phải
tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống đó để đánh giá chính xác vấn
đề nghiên cứu.
4.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật hiện tượng luôn ở trạng thái động, chúng luôn vận động và
biến đổi không ngừng. Kinh tế huyện Hà Trung cũng nằm trong quy luật đó.
Do đó, khi nghiên cứu kinh tế huyện Hà Trung cần nghiên cứu trong một
giai đoạn cụ thể, để thấy được mối quan hệ với những thay đổi về tình hình
KT - XH của Tỉnh, của vùng trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Từ đó
đánh giá được những khả năng và triển vọng của kinh tế huyện Hà Trung,
đồng thời đề ra những định hướng, giải pháp phát triển trong tương lai.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
5
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Những giải pháp cho phát triển kinh tế của huyện Hà Trung dựa trên
quan điểm phát triển bền vững. Việc phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo
vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường, kết hợp hài
hòa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo lợi ích của
huyện Hà Trung, phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Hà Trung, Uỷ ban
Nhân dân huyện Hà Trung. Từ đó tác giả sử dụng phương pháp thống kê
toán học để xử lý các số liệu đã thu thập được theo mục đích, tính toán các
chỉ số phát triển, tỉ trọng của các ngành, so sánh, đánh giá….để thấy được vị
trí và sự biến chuyển của nền kinh tế huyện Hà Trung trong quá trình công
nghiệp hóa.
4.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ.
- Bản đồ dùng để mô tả hiện trạng kinh tế, sự phân bố các hiện tượng
địa lý kinh tế, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, các mối quan hệ
giữa chúng và những dự kiến phát triển kinh tế.
- Biểu đồ: được sử dụng để phản ánh quy mô các hiện tượng kinh tế
như: quy mô ngành, lĩnh vực…
4.2.5 Phương pháp thực địa
Được thực hiện trên cơ sở khảo sát, tìm hiểu trực tiếp các thị trấn, xã,
các cụm công nghiệp và một số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp trên địa bàn huyện. Từ đó xin ý kiến đánh giá của các nhà quản lý,
các chuyên gia, phỏng vấn một số cán bộ địa phương và hộ nông dân, hộ
kinh doanh thương mại dịch vụ về lĩnh vực liên quan đến đề tài. Thu thập
thêm thông tin và bổ sung những hiểu biết của tác giả về quê hương và cũng
là địa bàn nghiên cứu đồng thời kiểm chứng các phân tích, tổng hợp và nhận
định của tác giả.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
7
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Kế thừa, bổ sung và cập nhật cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về phát
triển kinh tế.
- Làm sáng tỏ những lợi thế và cơ hội phát triển cũng như những hạn
chế và thách thức đối với sự phát triển nền kinh tế của huyện Hà Trung.
- Nhận diện nền kinh tế của huyện Hà Trung theo cơ cấu ngành và cơ
cấu lãnh thổ
(GDP) hoặc tổng thu nhập quốc dân tính theo đầu người.
Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố cơ bản như: vốn, con
người, kỹ thuật và công nghệ, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị và quản lí nhà
nước.
Vốn là yếu tố rất cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. Việc tăng lượng
vốn và hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa trong phát triển kinh tế.
Con người là yếu tố cơ bản và quan trọng của tăng trưởng kinh tế bền
vững, đó phải là con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và
nhiệt tình lao động được tổ chức chặt chẽ. Các yếu tố như máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
9
quả bởi đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật, có sức khỏe và kỷ luật lao
động tốt. Kết quả năng suất lao động sẽ cao, tạo được sự tích lũy lớn cho nền
kinh tế.
Cơ cấu kinh tế được xây dựng càng hiện đại thì tăng trưởng kinh tế
càng nhanh và càng bền vững. Thể chế chính trị càng ổn định, tiến bộ, thì
tăng trưởng kinh tế càng nhanh. Nhà nước đề ra được các đường lối, chính
sách phát triển đúng đắn thì tăng trưởng kinh tế càng mạnh.
Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, do
đó tăng trưởng kinh tế không phản ánh được sự biến đổi của cơ cấu kinh tế -
xã hội, đời sống tinh thần và văn hóa của dân cư, không đánh giá chính xác
phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội. Tăng trưởng có thể
cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy
hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng
không hiệu quả.
Mặc dù vậy, các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế vẫn được
sử dụng làm thước đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, nó trở
thành mục tiêu phấn đấu của một chính phủ, một vùng, địa phương vì nó là
tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước, hay một địa
toàn xã hội. Phát triển kinh tế có nghĩa là trong đó phải có tăng trưởng kinh
tế, mà theo đó phúc lợi xã hội cũng tăng lên, các vấn đề của xã hội cũng thay
đổi theo chiều hướng tăng, từ đó chất lượng cuộc sống cũng nâng cao. Tham
gia vào quá trình phát triển có nghĩa là tham gia vào quá trình hưởng thụ và
đóng phúc lợi xã hội.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế
Sự phát triển kinh tế của một lãnh thổ chịu tác động của hàng loạt các
nhân tố quan trọng như: vị trí địa lý, các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên, dân số và lao động, khoa học và công nghệ, đường lối chính sách,
truyền thống và kinh nghiệm sản xuất bao gồm cả trong và ngoài nước có
khả năng khai thác để sản xuất hàng hóa hay cung ứng dịch vụ góp phần
phát triển kinh tế.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
11
- Theo quan điểm kinh tế học, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế gồm có:
+ Nhóm mang tính chất sản xuất vật chất: là tài nguyên thiên nhiên, dân
số và nguồn lao động, khoa học và công nghệ, nguồn vốn. Nhóm nhân tố này
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa. Mức độ
tham gia của chúng phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và tính chất của nền kinh tế.
+ Nhóm mang tính chính trị xã hội: Bao gồm thể chế chính trị, đường
lối chính sách, truyền thống và tính cộng đồng, kinh nghiệm quản lý sản xuất
và kinh doanh. Nhóm nhân tố này không trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất nhưng góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Nền kinh tế có đường lối chính sách đúng đắn sẽ phát huy được mọi nhân
tố ở trong và ngoài nước phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội
nhanh và ổn định.
- Căn cứ vào nguồn gốc có các nhân tố sau:
+ Vị trí địa lý: Vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, vị trí chính trị, vị trí giao
trong phân công lao động quốc tế.
1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là đối tượng lao động của
con người và là nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống vừa
phục vụ cho phát triển kinh tế. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên bao gồm đất
đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản Sức lao động càng
cao thì các danh mục tài nguyên càng được mở rộng. Đối với việc phát triển
kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Tài
nguyên thiên nhiên thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi được con người
khai thác và sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả. Trên thế giới nhiều nước
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
13
có nhiều tài nguyên nhưng vẫn chỉ là nước nghèo, chậm phát triển như: Chi
Lê, Vênêxuêla Nhưng cũng có nhiều nước nghèo tài nguyên song vẫn là
quốc gia hàng đầu về kinh tế như Nhật Bản, Pháp, Anh
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, là nhân
tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, tạo ra của cải cho xã hội.
Điều đó cho thấy tài nguyên thiên nhiên thực sự là nguồn lực quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2.3. Kinh tế - xã hội
1.1.2.3.1 Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động có vai trò quyết định với việc phát triển kinh
tế - xã hội. Nguồn lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất nuôi sống nhân
loại mà còn sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng vào quá trình
sản xuất. Mặt khác con người cũng chính là thị trường tiêu thụ các sản phẩm
và các dịch vụ xã hội. Dân số càng đông, mức sống và nhu cầu càng cao
càng có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các ngành kinh tế.
Lực lượng lao động là một bộ phận của dân cư và là yếu tố quyết định
đến việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác. Chất lượng và số lượng
lao động cũng là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế,
- Vốn đầu tư: Là yếu tố đầu vào cần thiết cho một quá trình sản xuất.
Để đảm bảo cho quá trình phát triển ổn định nền kinh tế phải đầu tư kết cấu
hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, máy móc, trang thiết bị, công nghệ, mua các
sáng chế, đào tạo nguồn nhân lực và các dịch vụ khác. Vì thế, việc gia tăng
nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả góp phần đẩy mạnh tốc độ
tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tích lũy nội bộ của nền kinh tế.
Nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định chính trong phát triển kinh tế,
đặc biệt với các nước đang phát triển và các nước kém phát triển. Bên cạnh
nguồn vốn trong nước, nguồn vốn từ nước ngoài được sử dụng để đầu tư cho
phát triển, tạo điều kiện để khai thác hiệu quả tiềm năng của đất nước, góp
phần đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
15
- Thị trường: Là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là yếu tố đảm bảo
khâu tiêu dùng, xuất nhập, giá cả và tạo ra nhu cầu mới, giúp cho quá trình
tái sản xuất diễn ra không ngừng. Thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết
sản xuất cho các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị
trường luôn có sự thay đổi do thị hiếu của người tiêu dùng, do đó biến đổi
nhiệm vụ sản xuất để thích ứng tiêu dùng đã thúc đẩy sự tăng trưởng phát
triển của nền kinh tế.
1.1.2.3.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các yếu tố của nền kinh tế không ngừng thay đổi, do đó cơ cấu kinh tế
cũng thay đổi theo từng thời kì phát triển. Đó chính là sự thay đổi về số
lượng và tương quan tỉ lệ giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế
cho phù hợp với môi trường, thời kì mới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý
nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nó
giúp cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc và có khả năng
hội nhập với khu vực, thế giới.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chủ yếu là do nhu cầu của con người thay
đổi. Dân số ngày càng tăng, nhu cầu của con người ngày càng nhiều ảnh
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đòi hỏi phải có một thể chế chính trị
xã hội ổn định. Sự ổn định đó được thể hiện bằng đường lối phát triển kinh
tế, xã hội đúng đắn, phù hợp với các quy luật khách quan, có khả năng thu
hút mọi nguồn lực trong và ngoài nước. Ngược lại, sự khủng hoảng về chính
trị tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế.
Ở nước ta bước đầu có sự thành công về đường lối chính sách phát
triển kinh tế và hiện nay đang đẩy mạnh thực hiện quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa để đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp vào
năm 2020. Việc xây dựng và kiện toàn hệ thống đường lối chính sách tạo
điều kiện thuận lợi, hạn chế các khó khăn, tạo môi trường kinh doanh, lựa
chọn các nghề để huy động được sức mạnh tổng hợp của nội lực và ngoại lực
thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Bên cạnh còn mở rộng quan hệ ngoại giao,
hợp tác bình đẳng hai bên cùng có lợi, không can thiệp nội bộ của nhau.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
17
1.1.3.Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế
- Tổng sản phẩm trong nước: Tổng sản phẩm trong nước (Gross
Domestic Product viết tắt là GDP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một
nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính).
GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, mối quan hệ tỷ
lệ giữa các ngành trong sản xuất, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần
huy động vào ngân sách. Chỉ tiêu này còn dùng để tính tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất.
Ngoài ra còn dùng để đánh giá trình độ phát triển và mức sống của con người.
- Tổng thu nhập quốc gia: Tổng thu nhập quốc gia (Gross National
Income viết tắt là GNI) bằng GDP cộng với chênh lệch giữa thu nhập nhân
tố sản xuất từ nước ngoài với thu nhập nhân tố sản xuất cho nước ngoài,
trong một thời kì nhất định, thường là một năm.
GNI lớn hay nhỏ hơn GDP tùy thuộc mối quan hệ kinh tế (đầu tư vốn,
+ Giá trị sản xuất thủy sản: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ kết
quả sản xuất kinh doanh mà ngành thủy sản tạo ra trong một thời gian nhất
định. Các hoạt động thuộc ngành thủy sản bao gồm nuôi trồng và đánh bắt
thủy hải sản như cá, tôm, ba ba, ếch, lươn, trai lấy ngọc, rong, rau câu. Ngoài
ra doanh thu bán các sản phẩm về đánh bắt và dịch vụ có liên quan, giá trị
công việc ươm và nhân giống thủy sản cũng được tính vào giá trị sản xuất
ngành thủy sản.
Khi phân tích, đánh giá phát triển kinh tế của thành phố Thanh Hóa,
tác giả đã sử dụng chỉ tiêu GTSX và GTSX bình quân trên đầu người.
- Cơ cấu kinh tế: Là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với
vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định
hợp thành. Cơ cấu kinh tế có vai trò quyết định tới sự phát triển và tăng
trưởng kinh tế cũng như quyết định đến sự phát triển xã hội.
Cơ cấu kinh tế là thuộc tính có ý nghĩa quyết định của nền kinh tế, nó
phản ánh tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế, phản ánh số lượng
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
19
và chất lượng của các bộ phận hợp thành để tạo nên hệ thống kinh tế vận
động và phát triển không ngừng. Để dễ phân tích và xem xét cơ cấu của nền
kinh tế người ta chia nền kinh tế thành các góc độ liên hệ sau:
+ Góc độ ngành: Ở góc độ ngành được chia thành các nhóm ngành:
Nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp (khu vực I); công nghiệp, xây
dựng (khu vực II) và nhóm ngành dịch vụ (khu vực III). Đối với nhóm ngành
này phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu
thành nền kinh tế.
Nhóm ngành nông nghiệp và nhóm ngành phi nông nghiệp. Nhóm này
thể hiện rất rõ đóng góp của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế, đặc biệt
với các nước đang phát triển thì việc xem xét cơ cấu theo kiểu này có ý
nghĩa quan trọng. Việc chuyển cư nông thôn sang sống ở thành thị và lao
động nông nghiệp sang làm trong các khu phi nông nghiệp đều có ảnh hưởng
cấu ngành hình thành trước và trên cơ sở phân bố các ngành, cơ cấu lãnh thổ
sẽ hình thành. Dựa vào hình thức sở hữu sẽ hình thành cơ cấu loại hình kinh
tế. Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể phát triển trên lãnh
thổ của cả nước hay của các vùng. Việc phân bố lãnh thổ một cách hợp lý
góp phần thúc đẩy phát triển cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế.
Trong mối quan hệ này, vai trò quan trọng hàng đầu thuộc về cơ cấu ngành
kinh tế.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Vài nét về phát triến kinh tế của vùng Bắc Trung Bộ
Bắc Trung Bộ là vùng lãnh thổ chạy dài trên nhiều vĩ độ có diện tích
51.551,9 km
2
chiếm 15,6% diện tích cả nước, dân số 10,10 triệu người chiếm
11,6 % dân số cả nước (năm 2010). Bao gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).
Địa hình của vùng tương đối phức tạp với trên 60% diện tích là đồi núi
và có sự đa dạng của các kiểu địa hình. Từ Tây sang Đông dọc theo lãnh thổ
các tỉnh có các dạng địa hình núi, trung du, đồng bằng ven biển và hải đảo.
Đồi núi thấp có độ cao dưới 1000m chiếm phần lớn diện tích của vùng.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
21
Địa hình thoải, ít dốc với những bán bình nguyên tương đối phẳng, đất
đai khá màu mỡ, một số nơi có đất đỏ badan rất thích hợp để trồng nhiều cây
công nghiệp và cây ăn quả.
Dải đồng bằng nhỏ, hẹp ngang kéo dài từ Bắc xuống Nam (trừ đồng
bằng Thanh- Nghệ Tĩnh) độ phì của đất không cao, chất dinh dưỡng bị rửa
trôi nhiều gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Bắc Trung Bộ ven biển
với các dạng địa hình khúc khuỷu, nhiều vũng vịnh và bán đảo, nhiều cồn
cát, đầm phá, Ngoài ra còn có hệ thống các đảo ven bờ có ý nghĩa về mặt
kinh tế cũng như an ninh quốc phòng. Dạng địa hình ven biển cho phép Bắc
ngành cũng đang có sự chuyển dịch. Trong nông nghiệp, giảm tỉ trọng ngành
trồng trọt từ 72.3% năm 2000 xuống 60,6% năm 2012, tăng tỉ trọng ngành
chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp (25,2% lên 36,4%; 2,5% lên 3,0%).
Ngành công nghiệp của vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển như:
vị trí địa lí thuận lợi, nguồn TNTN phong phú, nguồn lao động dồi dào, chất
lượng nguồn lao động ngày một tăng, cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng
đang được đầu tư phát triển. Trong những năm gần đây, công nghiệp đã có
những bước phát triển mới, giá trị sản xuất công nghiệp của vùng liên tục
tăng. Tính theo giá so sánh năm 1994, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000
đạt 7.158,2 nghìn tỷ đồng, đến năm 2012 đạt 30.151,8 tỷ đồng tăng gấp hơn
4,2 lần so với năm 2000, chiếm 41,9% GTSX của toàn vùng Bắc Trung Bộ
và 3,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước.
Cơ cấu ngành công nghiệp cũng đang có sự chuyển dịch phù hợp với
xu hướng chung của cả nước. Công nghiệp chế biến là ngành chiếm tỉ trọng
cao nhất và đang có xu hướng tăng lên đạt trên 75% giá trị xản xuất công
nghiệp, công nghiệp khai thác và sản xuất, phân phối điện, ga, khí đốt đang
có xu hướng giảm tỉ trọng nhưng vẫn còn chậm.
Các hệ thống tổ chức lãnh thổ đa dạng, trong đó phải kể đến các khu
công nghiệp tập trung. Năm 2012 toàn vùng có 18 khu công nghiệp có quyết
định thành lập trong đó đất cho thuê chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng diện tích khu
công nghiệp của cả nước, nhưng tỉ lệ lấp đầy tương đối cao đạt 60,8%. Tuy
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
23
nhiên khả năng thu hút các dự án đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp
của vùng Bắc Trung Bộ còn khiêm tốn. Các dự án đầu tư của nước ngoài chỉ
tập trung vào một số ngành công nghiệp nhẹ như dệt, sợi, may mặc, công
nghiệp thực phẩm.
Ngành dịch vụ đang được ưu tiên phát triển, đứng thứ hai ở khu vực
Bắc Trung Bộ và ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của vùng
đóng góp 34,8% trong cơ cấu GTSX của vùng năm 2012. Tốc độ tăng
Tỉnh Thanh Hóa nằm ở cực bắc Bắc Trung Bộ với diện tích 11.131,94
km
2
chiếm 3,37% diện tích cả nước (năm 2012), dân số 3.487,8 nghìn người
chiếm 4,0% dân số cả nước, năm 2012. Về mặt tổ chức hành chính, tỉnh
Thanh hóa gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện.
Địa hình Thanh Hóa nghiêng, dốc và kéo dài theo hướng Tây Bắc -
Đông Nam tạo nên sự phân dị địa hình theo quy luật núi, trung du, đồng
bằng, ven biển. Sự đa dạng của địa hình đã hình thành nhiều nhóm, loại cảnh
quan khác nhau, tạo điều kiện phát triển nông - lâm ngư - ngư nghiệp kết
hợp. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa hè nóng, gió Tây khô nóng hoạt
động mạnh và mưa nhiều, Mùa đông lạnh ít mưa, có sương muối. mạng lưới
sông ngòi dày đặc, với các hệ thống sông lớn như sông Chu, sông Mã có giá
trị cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt cũng như tiềm năng thủy điện.
Tài nguyên sinh vật của vùng có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế, sinh thái và
môi trường. Rừng chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, có hệ thực vật phong
phú đa dạng về họ và loài. Nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú
như: vàng, quặng đa kim chì, kẽm, thiếc, đồng, sắt là điều kiện thuận lợi để
tỉnh Thanh Hóa phát triển một cơ cấu ngành công nghiệp đa dạng. Vùng biển
Thanh Hóa có nguồn tài nguyên biển phong phú như khoáng sản, hải sản
biển, có bãi biển đẹp, có vịnh nước sâu là điều kiện thuận lợi để phát triển
tổng hợp kinh tế biển như khai thác khoáng sản biển, khai thác và nuôi trồng
thủy sản, du lịch biển, giao thông đường biển.
Lê Thị Tuyết Luận văn thạc sĩ K21
25