Triển vọng kinh tế , phát triển khoa học và công nghệ thế giới - Pdf 12

1
LỜI GIỚI THIỆU
Kinh tế toàn cầu hiện đang trong khủng hoảng, chuyển dịch từ giai đoạn
phát triển ổn định sang giai đoạn rất bất ổn khi khurngg hoảng tài chính
bắt nguồn ở các nước giàu có đã làm rung chuyển các thị trường tài chính
toàn cầu. Các thị trường hàng hóa cũng chao đảo dữ dội từ mức giá rất cao
trong năm 2007 và đã rơi mạnh, giá cả nhiều loại hàng hóa giảm tới hơn
một nửa vào nửa đầu năm 2008.
Tuy nhiên, mặc dầu các chỉ số kinh tế đều xấu, dự báo chi tiêu cho nghiên
cứu và phát triển (NCPT) trong năm 2009 sẽ đạt 1.143,2 tỷ USD, cao hơn
3,2% so với năm 2008. Phần lớn tăng trưởng toàn cầu này là do sự mở
rộng tiếp tục NCPT ở châu Á, mặc dù sự tăng trưởng NCPT trong vùng
địa lý này cũng bị những tác động toàn cầu.
Các quốc gia vẫn tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu KH&CN và đưa ra những
ưu đãi khuyến khích NCPT nhằm nâng cao năng lực đổi mới của quốc gia.
Do các cơ hội thị trường toàn cầu tăng lên và tài năng kỹ thuật trở nên
rộng khắp hơn, nên đã xuất hiện xu hướng hợp tác trong các chương trình
nghiên cứu và sử dụng tài năng ở nước ngoài để hỗ trợ các hoạt động sản
xuất, tiếp thị và bán hàng trong nước.
Để giúp bạn đọc có thêm thông tin trong bối cảnh thế giới diễn ra nhiều sự
thay đổi nhanh, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
xin giới thiệu Tổng luận “Triển vọng kinh tế, phát triển khoa học và công
nghệ thế giới” nhằm phản ánh tình hình kinh tế và những xu thế phát triển
khoa học và công nghệ toàn cầu.
Nội dung tổng luận này được biên soạn dựa trên số liệu của các báo cáo
và những nghiên cứu phân tích của Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Hợp tác
và Phát triển Kinh tế và các tổ chức nghiên cứu và phát triển có uy tín trên
thế giới.
TRUNG TÂM THÔNG TIN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
2

tuy nhiên các nước có nền tảng cơ sở vững chắc hơn, khi lâm vào cuộc khủng hoảng
có thể bị tác động nhẹ hơn. Tình trạng tài chính tồi tệ đã trở nên khắc nghiệt nhất ở các
nước có các nguồn thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và tại các nước cho thấy có dấu
hiệu của sự quá nóng và mở tín dụng nhanh một cách không bền vững trước khi cuộc
khủng hoảng tài chính mạnh lên. Trong số 20 nước đang phát triển có nền kinh tế phản
ứng đột ngột nhất trước sự sa sút của các điều kiện tài chính (được đo bằng sự sụt
giảm tỷ giá hối đoái, sự gia tăng lãi sản xuất, và sự suy giảm trên thị trường chứng
khoán), có 6 nước thuộc châu Âu và Trung Á, và 8 nước thuộc châu Mỹ Latinh và
vùng Caribê.
3
1.1.1. Các điều kiện tín dụng thắt chặt hơn sẽ dẫn đến đầu tư và tăng trưởng
GDP chậm lại một cách đột ngột
Trong tình trạng hiện nay, các triển vọng tăng trưởng đối với cả các nước thu nhập
cao lẫn các nước đang phát triển đều trở nên xấu đi một cách căn bản và khả năng về
một cuộc suy thoái nghiêm trọng toàn cầu là điều không thể loại trừ.
Ngay cả khi các làn sóng hoảng loạn tràn ngập các thị trường chứng khoán và tín
dụng trên khắp thế giới sớm được đưa vào tầm kiểm soát, thì cuộc khủng hoảng vẫn có
khả năng sẽ gây ra một sự suy giảm mạnh trong các hoạt động, xuất phát từ sự mất
đòn bẩy trên các thị trường tài chính đã xuất hiện và được cho là sẽ tiếp diễn. Dự báo
cơ bản ở đây là các điều kiện tín dụng sẽ thắt chặt hơn nhiều, các dòng vốn đổ vào các
nước có thu nhập trung bình yếu hơn và một sự suy giảm mạnh về nhu cầu nhập khẩu
toàn cầu được cho là những yếu tố chính chi phối sự giảm tốc ở các đang phát triển.
Nhu cầu nhập khẩu được dự báo sẽ giảm 3,4% tại các nước thu nhập cao trong năm
2009, trong khi nợ tư nhân ròng và các luồng vốn đổ vào các nước đang phát triển
được ước tính sẽ giảm từ 1 nghìn tỷ USD năm 2007 xuống còn khoảng 530 tỷ trong
năm 2009, tức là giảm từ chỗ chiếm 7,7% xuống còn 3% GDP của các nước đang phát
triển. Kết quả là tăng trưởng đầu tư tại các nước đang phát triển có thể sẽ chậm lại
đáng kể, chỉ tăng có 3,5% tại các nước có thu nhập trung bình, so với tỷ lệ gia tăng
13,2% đạt được trong năm 2007.
Một cuộc suy thoái rõ rệt được cho là đã bắt đầu từ giữa năm 2008 ở châu Âu, Nhật

Cuộc khủng hoảng tài chính và tốc độ chững lại của tăng trưởng toàn cầu đã xảy ra
vào một thời điểm khi tất cả các nước đang phát triển đang ở vào tình thế dễ bị tổn
thương hơn so với những năm trước đây. Giá hàng hoá cao hơn làm tăng thêm thâm
hụt tài khoản vãng lai của nhiều nước xuất khẩu dầu mỏ lên đến mức đáng lo ngại (con
số thâm hụt đã vượt quá mức 10% GDP ở khoảng một phần ba các nước đang phát
triển), và sau khi đã tăng một cách đáng kể, nguồn dự trữ ngoại hối của các nước đang
phát triển xuất khẩu dầu mỏ giờ đây đang giảm nếu tính theo tỷ trọng nhập khẩu của
các nước này. Ngoài ra, lạm phát cao và tình trạng ngân khố bị suy giảm do những
nguyên nhân chu kỳ và do chi tiêu Chính phủ đã tăng lên nhằm làm giảm bớt gánh
nặng giá hàng hoá cao.
Mặc dù suy thoái toàn cầu có khả năng bị kéo dài, nhưng một số yếu tố phục hồi
sau đó vẫn có thể nhận thấy rõ. Các yếu tố này bao gồm sự chuyển dịch sớm hướng
đến ổn định trong lĩnh vực nhà ở tại Mỹ; sự tiến bộ liên tục về thanh toán nợ và một sự
vững mạnh trên các bảng kết toán tài sản của các ngân hàng và các hộ gia đình; một sự
nới lỏng dần các điều kiện tín dụng khi các gói giải cứu của các Chính phủ phát huy
tác dụng và các nhà đầu tư bắt đầu quay trở lại với các thị trường chứng khoán đã
giảm mạnh; những gia tăng ở thu nhập cá nhân thực (nhờ giá thực phẩm và nhiên liệu
thấp hơn); và không gian gia tăng đối với các chính sách ngân khố và tiền tệ do áp lực
lạm phát được nới lỏng và những chi tiêu của Chính phủ để trợ cấp lương thực và
nhiên liệu cũng thay nhau giảm.
1.1.2. Các chính sách khôn ngoan và thận trọng là điều then chốt do tình trạng
không chắc chắn vẫn bao trùm lên triển vọng
Mặc dù dự báo về triển vọng này được đưa ra như một hệ quả tất yếu, nhưng tình
hình vẫn còn nhiều bất ổn định và có thể để lại các hậu quả trên phạm vi rộng, trong
đó có một kịch bản khi sự phục hồi tăng trưởng vào năm 2010 sẽ yếu hơn, nó bị kéo
trở lại do sự tiếp tục tái thiết lại lĩnh vực ngân hàng, và những tác động bất lợi do giá
nhà ở và thị trường chứng khoán thấp hơn.
Một cuộc suy thoái gay gắt hơn cũng có thể xảy ra. Nếu như tình trạng đóng băng
trên các thị trường tín dụng không tan biến như đã được dự báo bên trên, thì những
hậu quả đối với các nước đang phát triển có thể là thảm khốc. Các điều kiện tài chính

nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính sách cần đặc biệt cảnh giác với việc tiếp nhận
các khoản nợ cao quá mức hay tạo ra các điều kiện gây bong bóng lạm phát bằng việc
phản ứng một cách quá mạnh trước sự suy giảm toàn cầu. Mặc dù điều quan trọng đối
với các nhà hoạch định chính sách là phải phản ứng nhanh trước các vấn đề nổi cộm,
nhưng điều cần thiết là các biện pháp và điều kiện gắn với sự trợ giúp cần được chú
trọng vào việc khắc phục một số các căn nguyên yếu kém cơ bản. Nếu không, các
Chính phủ có khả năng sẽ bị mất đi sự hỗ trợ của thị trường và các người dân đóng
thuế khi họ cố gắng hạn chế quy mô của những cuộc phá sản trong giai đoạn gần.
1.2. Thị trường tài chính
1.2.1. Tình trạng các điều kiện tài chính trở nên xấu đi đã gia tăng nhanh một
cách đáng kể vào tháng 9 năm 2008.
Sự biến động kéo dài lan truyền trên các thị trường tài chính và tín dụng toàn cầu kể
từ giữa năm 2007 đã gia tăng nhanh vào tháng 9 năm 2008, với sự sụp đổ bất ngờ của
6
các tổ chức tài chính lớn, đầu tiên diễn ra ở Mỹ tiếp theo đó là ở châu Âu. Cuộc khủng
hoảng đã lan truyền nhanh chóng sang các thị trường mới nổi và làm nảy sinh các mối
lo ngại về một hiểm họa dây chuyền đối với hệ thống tài chính quốc tế. Mối lo ngại
ngày càng tăng về một nguy cơ giống hệt gây phá vỡ các thị trường tín dụng, đặc biệt
là các thị trường thương phiếu và liên ngân hàng.
Hồi đầu năm nay, các ngân hàng lớn vẫn còn có khả năng thu hút các nhà đầu tư
vốn cổ phần mới trong một nỗ lực nhằm xây dựng lại các cơ sở vốn của họ, đã bị xói
mòn bởi những thua lỗ nghiêm. Tuy nhiên, niềm tin của các nhà đầu tư đã bị rạn nứt
bởi sự sụp đổ hồi tháng Ba của Bear Sterns, công ty chứng khoán lớn thứ bẩy thế giới
về tổng trị giá tài sản. Vào tháng 9 và tháng 10, các chính quyền tại Mỹ và châu Âu đã
phải phản ứng bằng những biện pháp đặc biệt phi thường, trong đó có việc bơm những
khoản tiền mặt lớn; điều phối giảm tỷ lệ lãi suất chính sách; tiếp quản các tổ chức tài
chính lớn; tăng cường bảo lãnh tiền gửi; và các kế hoạch mua lại các tài sản tài chính
đã bị sút kém (như Chương trình Mua lại Tài sản đang gặp Rắc rối của Mỹ - TARP),
để chiếm một lượng vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại và để can thiệp vào
các thị trường thương phiếu.

đối với các nước đang phát triển kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2008 (vào thời điểm
Lehman Brothers bị đổ vỡ). Chỉ số về tính dễ bị tổn thương này cho thấy mức trung
bình của sự giảm giá hàng loạt của tiền tệ, những mất mát trên thị trường cổ phiếu nội
địa, và những gia tăng tiền bù rủi ro, cũng như sự suy giảm của tổng luồng vốn đổ vào
một nước trong vòng 12 tháng. Chỉ số này còn cho thấy rằng hầu như tất cả các nước
thu nhập trung bình đều phải chịu áp lực căng thẳng về tài chính.
Giá cổ phiếu trên thị trường mới nổi, phản ánh qua Chỉ số Hỗn hợp Morgan-Stanley
(MSCI), đã sụt giảm hơn 67% (tính theo đồng đôla) từ chỗ đạt đỉnh cao vào tháng 10
năm 2007, đưa mức giá quay trở về mức đạt được vào đầu năm 2005. Sự điều chỉnh ồ
ạt ở giá cổ phiếu đã diễn ra rộng khắp các nền kinh tế có thị trường mới nổi, với sự suy
giảm lớn nhất được ghi nhận ở một loạt các nền kinh tế thuộc châu Âu và Trung Á,
như Ukraine (80%), Romania (75%), Bungaria (75%), và Liên bang Nga (73%). Các
nền kinh tế thị trường mới nổi lớn khác, bao gồm Braxin, Trung Quốc, và Ấn Độ được
ghi nhận có sự hiệu chỉnh giá hơn 60%. Mặc dù có những suy giảm trong năm qua, giá
cổ phiếu tại các thị trường mới nổi vẫn giữ ở mức cao hơn so với ở các thị trường
trưởng thành nhìn từ triển vọng dài hạn hơn, mặc dù vẫn được đặc trưng bởi tính bất
ổn định cao hơn nhiều.
Việc bán xôn các tài sản trên thị trường mới nổi đã khơi mào cho một sự giảm giá
rõ rệt ở tỷ giá ngoại hối tại một loạt nước, đảo ngược lại phần lớn sự tăng giá trong hai
năm trước. Ví dụ, đồng Real Braxin thực tế đã giảm 40% so với đồng đôla (20% so
với đồng euro) trong giai đoạn từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 11 năm 2008, nhưng
đồng tiền này đứng ở mức chỉ thấp hơn 8% so với trị giá của nó hồi tháng 1 năm 2007.
Đồng Rand Nam Phi đã giảm giá gần 60% so với đồng đôla (38% so với đồng euro)
trong giai đoạn từ cuối tháng 10 năm 2007 đến giữa tháng 11 năm 2008. Tương tự,
đồng Lira Thổ Nhĩ Kỳ cũng giảm giá 40% so với đồng đôla (20% so với đồng euro) từ
cuối tháng 10 đến giữa tháng 11 năm 2008, nhưng đồng tiền này chỉ mất giá 6% giá trị
thực trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 10 năm 2008.
Cuộc khủng hoảng ngân hàng nổ ra vào tháng 9 năm 2008 đang gây hạn chế tín
dụng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với những nước đi vay kém tin
cậy nhất. Những chênh lệch trái phiếu chủ quyền đã nới rộng đến đỉnh cao -1100 điểm

Ngay cả khi có một sự khôi phục lại niềm tin thị trường và một sự tan băng tại các
thị trường tín dụng và những dịch chuyển vốn, thì các điều kiện tín dụng tổng thể đối
với các thị trường mới nổi sẽ vẫn thắt chặt hơn đáng kể so với thời gian gần trước đây.
Hậu quả là nợ ròng tư nhân và các luồng vốn đổ vào các nước đang phát triển được dự
báo là sẽ giảm từ mức cao kỷ lục 1,03 nghìn tỷ USD (7,6% GDP các nước đang phát
triển) đạt được vào năm 2007 xuống còn khoảng 530 tỷ USD (3% GDP) vào năm
2009. Mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng sẽ có sức chịu đựng hơn một chút trước
xu thế chậm lại, thắt chặt tính dụng có thể làm cho các công ty thu nhập cao phải giảm
đầu tư trực tiếp nước ngoài của họ hơn nhiều so với họ đã làm trong thời gian trước
khủng hoảng tài chính, vốn đã từng đặt trọng tâm vào các nước đang phát triển.
1.2.4. Thắt chặt tiền tệ làm giảm mạnh các triển vọng tăng trưởng nội địa
Trước khi sự biến động tài chính phát triển thành một cuộc khủng hoảng có quy mô
toàn cầu, các nước đang phát triển chủ yếu bị tác động bởi nhu cầu chậm lại ở các
nước thu nhập cao thông qua kênh xuất khẩu. Nhiều nước đang phát triển đã cho thấy
có khả năng phục hồi mạnh khi đối diện với môi trường bên ngoài đang dần dần xấu
đi, bởi vì nền kinh tế của các nước này được hỗ trợ bằng sự tăng trưởng đầu tư mạnh
9
và được che chắn bằng những lượng dự trữ ngoại hối lớn. Tình trạng này đã thay đổi
đột ngột kể từ tháng 9 năm 2008.
Không như những thay đổi từ từ trên các thị trường dịch vụ và hàng hoá, những
biến động trên các thị trường tài chính xảy ra nhanh và bất ngờ, và chúng thường có xu
hướng "thái quá". Điều quan trọng hơn, sự leo thang của cuộc khủng hoảng gây ảnh
hưởng trực tiếp đến động cơ tăng trưởng nội địa ở nhiều nền kinh tế đang phát triển,
việc huy động kinh phí cho chi tiêu vốn đột ngột trở nên khó khăn hơn. Ngoài ra, cuộc
khủng hoảng còn gây áp lực mạnh đối với nguồn dự trữ ngoại hối và cùng lúc có thể
bộc lộ ra những bất tương hợp tiền tệ nguy hiểm trong các bảng kết toán tài sản của
khu vực tư nhân.
Trong thời kỳ bùng nổ toàn cầu 5 năm trước đây, các ngân hàng địa phương và các
công ty tư nhân với đồng tiền địa phương đang có giá trị cao đã bị hấp dẫn bởi việc đi
vay ở nước ngoài bằng đồng đôla. Với sự thay đổi đột ngột trong biến động tiền tệ, sự

nước. Mức tăng của khối lượng xuất khẩu giảm từ 14,6% năm 2007 xuống còn 2,5%,
trong quý 3, do thương mại liên vùng OECD (đặc biệt là bên trong khu vực châu Âu)
yếu đi cùng với giảm cầu của các nước đang phát triển.
Trong quý hai, tình trạng ở châu Âu và Nhật Bản trở nên tồi tệ rõ rệt. GDP của Nhật
Bản giảm tới 3,7% theo chỉ số giá điều chỉnh hàng năm theo mùa, và GDP của khu
vực châu Âu giảm 0,7%. Mức suy giảm của chi tiêu hộ gia đình kết hợp với các hiệu
ứng của lạm phát tăng cao, đầu tư giảm sút và mức chuyển dịch lớn trong phần đóng
góp của thương mại vào mức tăng trưởng tất cả đều đóng góp vào chu kỳ này. Ở châu
Âu, sự trì trệ ngày càng tăng ở các thị trường xuất khẩu và cuộc vật lộn lâu dài về việc
định giá đồng Euro đã đẩy xuất nhập khẩu tới ranh giới âm ở quý hai, thể hiện ở những
mức đóng góp vào mức tăng trưởng chung trượt từ 1,4 điểm ở quý cuối cùng của năm
2007 xuống điểm không.
Ngược lại, ở Mỹ, GDP tăng lên 2,8% ở quý hai, do các kích thích tài chính và chính
sách nới lỏng tiền tệ đã thúc đẩy tiêu dùng. Hơn nữa, tốc độ suy giảm của đầu tư từ
dân chúng giảm, trong khi các mức đóng góp của thương mại, vốn vẫn hưởng lợi từ
đồng đôla yếu, tăng lên tới 1,6 điểm phần trăm của tăng trưởng. Cầu nội địa của Mỹ
vẫn suy giảm từ quý cuối của năm 2006, do mức tăng trong tiết kiệm nội địa góp phần
làm xoay chiều các mức mất cân bằng toàn cầu vốn là một mối quan ngại trong vài
năm trước đây. Khi những trục trặc tài chính tăng cao trong quý ba, bao gồm những
mức suy giảm không lường trước ở các thị trường cổ phiếu ở châu Âu, Nhật Bản và
Mỹ, chi tiêu của người tiêu dùng ngày càng chịu sức ép. Và với hiệu suất xuất khẩu
của các nền kinh tế OECD giảm đi khi cầu toàn cầu đang tăng, khu vực châu Âu và
Nhật Bản rơi vào tình trạng suy thoái kỹ thuật ở quý này, trong khi mức tăng trưởng
của Mỹ suy thoái trở lại.
1.3.2. Khủng hoảng tài chính dưới những bất ổn ngoại lệ
Xét trên những sự phát triển mạnh trong giai đoạn tháng 9 tới tháng 11/2008, khó
mà đo được độ sâu của cuộc suy thoái đang diễn ra. Nếu các thị trường tín dụng vẫn sẽ
đóng băng và giá cả của bất động sản tiếp tục giảm, thì mức suy giảm của sản xuất
trong năm tới có thể sẽ rất cao. Tuy nhiên, hiện tại các nhà chức trách đang tiến hành
thực hiện các phương pháp đo đạc đặc biệt về tiền tệ và tài chính và được kỳ vọng là

vĩ mô của nước này lại tương tự như của Mỹ và châu Âu. Chi tiêu của hộ gia đình đã
bị hạn chế, lạm phát tăng cao gây áp lực lên giá điện, và niềm tin của người tiêu dùng
đã giảm sút mạnh xuống mức thấp của 17 năm qua. Điều tra Tankan về ý định đầu tư
của doanh nghiệp đã thể hiện mức giảm rõ rệt, phù hợp với sự chuyển dịch theo hướng
xuống về kỳ vọng đối với triển vọng xuất khẩu của Nhật Bản.
Cầu nhập khẩu giảm sút ở các nước châu Á mới nổi đã được tăng cường bởi chính
sách tỷ giá lãi xuất thắt chặt ở các nước như Ấn Độ, Inđônêxia, Philipin và Thái Lan
nhằm ngăn cản áp lực lạm phát. Trong suốt quý 3, GDP của Nhật Bản giảm tới 0,4%
và đối với thời gian còn lại của năm 2008, hiệu ứng lan toả dần dần từ sự sút giảm của
tín dụng tới suy giảm xuất khẩu sẽ khiến cho GDP của Nhật Bản giảm nữa, tới mức
tăng trưởng 0,5% cho cả năm. Suy thoái ở Nhật Bản được cho là sẽ kém rõ rệt hơn
những nơi khác, với sản lượng sản xuất giảm xuống 0,1% trong năm 2009 trước khi
đạt tới 1,6% vào năm 2010 khi cầu đầu tư toàn cầu phục hồi và kích thích xuất khẩu
của Nhật Bản.
1.4. Triển vọng đối với các nước đang phát triển
Ngay từ trước khi các kênh tín dụng quốc tế đóng băng, đã có những dấu hiệu thể
hiện hoạt động kinh tế chậm lại ở các nước đang phát triển. Mức tăng trưởng chậm lại
ở các nền kinh tế có thu nhập cao, thị trường cổ phiếu suy giảm, và các luồng vốn
quốc tế giảm sút làm giảm đầu tư vào các nước đang phát triển, trong khi làm tăng
12
mạnh tốc độ lạm phát kéo theo mức tăng giá hàng hoá lên cao làm giảm chi tiêu của
người tiêu dùng.
Sản xuất công nghiệp (trừ Trung Quốc) vẫn đang mạnh nhưng bắt đầu chậm lại từ
giữa năm 2008. Ở các nước còn lại của Đông Á, sự chuyển dịch theo hướng xuống của
mức tăng trưởng sản xuất thể hiện rất rõ, giảm từ 20% vào tháng Giêng xuống mức
giảm 5% vào tháng 5/2008, trước khi phục hồi tới điểm không vào tháng 9.
Rõ rệt hơn là sự suy giảm theo hướng dốc đứng của tăng trưởng sản xuất công
nghiệp của Trung Quốc gần đây, từ 20% vào tháng 7 xuống mức suy giảm 0,2% vào
tháng 9. Mức tăng trưởng xuất khẩu yếu đi, cùng với việc thắt chặt quản lý vi mô các
kho hàng, xét trên triển vọng tăng trưởng doanh số bán bất ổn, đã thể hiện rõ quá trình

đã giảm 35% trong 9 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm trước.
13
1.4.2. Sự suy giảm sẽ rõ rệt hơn trong năm 2009
Hướng tới tương lai, các xu hướng bất lợi gần đây được dự báo là sẽ tăng, bị chi
phối bởi một mức giảm mạnh đặc biệt của tăng trưởng đầu tư ở các nước đang phát
triển, xuất khẩu yếu đi do nhu cầu nhập khẩu từ các nước giàu giảm và lạm phát kéo
dài thậm chí vẫn leo thang ở một số nước. Mức tăng trưởng GDP ở các nước đang phát
triển được dự kiến giảm tới 4,5% trong năm 2009, tức là thấp hơn 3 điểm phần trăm
dưới mức trung bình của 5 năm qua. Không có một khu vực hoặc nước nào có thể
thoát khỏi sự suy thoái tăng trưởng này. Quá trình phục hồi trong năm 2010 lên mức
6,1% được dự đoán là một sự cải thiện tương đối sớm cho tình hình tài chính và tăng
trưởng của các nước giàu, một viễn cảnh hiện đang chịu một mức bất ổn cao.
Các kết quả tăng trưởng cho năm 2009 được dự kiến sẽ khác biệt giữa các nước
đang phát triển và các khu vực, tuỳ thuộc vào mức độ phụ thuộc của chúng vào các
luồng vốn bên ngoài và việc cho vay để đầu tư tài chính của ngân hàng, các liên kết
thương mại tới các nước giàu có ảnh hưởng lớn, các tiếp xúc trực tiếp và phi trực tiếp
tới cuộc khủng hoảng cho vay thiếu tín nhiệm, và mức độ tham gia của các ngân hàng
nước ngoài vào khu vực tài chính nội địa. Ngoài ra, chính sách phản ứng với cuộc
khủng hoảng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tổng quan kinh
tế giai đoạn gần.
1.4.3. Lạm phát tăng nhưng có xu hướng đi xuống
Suy thoái kinh tế toàn cầu dự kiến và giá cả hàng hoá thấp hơn nhiều sẽ góp phần
làm giảm mức tăng lạm phát đã diễn ra trong suốt năm 2007 và 2008. Lạm phát giá cả
tiêu dùng tổng thể giữa các nước OECD tăng từ mức khiêm tốn là 2% trong năm 2007
lên 4% qua một năm ở quý 3 của năm 2008, bị thúc đẩy bởi mức tăng ở Mỹ (4,9%),
khu vực châu Âu (3,9%) và Anh (5%). Mặc dù mức tăng của giá hàng hoá dường như
đã vượt đỉnh, nhưng động lực của lạm phát toàn phần trong tháng 8 đạt tới 8,5% ở Mỹ
trước khi giảm vào tháng 9, trong khi giảm xuống 2,3% ở Nhật Bản và 3,6% ở châu
Âu.
Lạm phát giá tiêu dùng tăng nhanh hơn nhiều ở các nước đang phát triển so với ở

các lãi xuất chủ đạo lên 25 điểm chuẩn hoặc hơn. Mức suy giảm của giá hàng hoá gần
đây và tốc độ phát triển chậm lại toàn cầu sẽ có thể làm giảm sự khó khăn này trong
thời gian tới, và thực vậy, một sự chuyển dịch theo hướng điều tiết tiền tệ hiện đang
được thực hiện để giảm thiểu tác động của các hiệu ứng làm giảm mức tăng trưởng
của cuộc khủng hoảng kinh tế.
1.4.4. Triển vọng các khu vực
GDP của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương giảm từ 10,5% năm 2007 xuống
8,5% năm 2008, (ngoại trừ Trung Quốc, mức tăng trưởng của khu vực này từ 6,2%
năm 2007 giảm xuống 5,3%, ). Giữ vai trò quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng chậm
chạp này, mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ 10,6% trong quý một giảm xuống
giảm xuống 9% trong quý 3 do sự suy giảm của đầu tư và xuất khẩu. Giá dầu mỏ và
thực phẩm tăng cao đã làm thúc đẩy lạm phát trung vị của khu vực này lên 9% vào
năm 2008, so với 5% của 2 năm trước. Sự suy giảm tổng thể của Nhật Bản và Trung
Quốc làm giảm mức tăng trưởng xuất khẩu, tỷ lệ này đối với các nước Đông Á không
kể Trung Quốc giảm từ 10,5% trong năm 2006 xuống còn 4% trong năm 2008. Theo
đó, sản lượng chế tạo giảm từ 5% mức tăng trưởng năm 2007 xuống mức giảm như
vậy trong năm 2008. Tổng các luồng vốn giảm tới 1/3, xuống còn 64 tỷ$US cả năm tới
tháng 9/2008.
Triển vọng cho giai đoạn 2009 và 2010 vẫn rất mờ nhạt với tình trạng tồi tệ của môi
trường bên ngoài. Cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn cầu đã có ít tác động trực tiếp tới
khu vực, nhưng một số nước lại quá yếu để chống lại các hiệu ứng lan toả dưới dạng
các tác động lan truyền từ các công ty cao cấp, các luồng vốn giảm sút và các thị
trường cổ phiếu nội địa bị tuột dốc. Đặc biệt, đầu tư khu vực tư nhân đứng bên bờ rủi
15
ro. Mặc dù Trung Quốc chống đỡ các tác động của cuộc khủng hoảng khá tốt, nhưng
một số nước vẫn phải chịu sự suy giảm mạnh trong thương mại thế giới và có tình
trạng tài chính khó khăn hơn. Mặc dù xu hướng giảm của giá dầu và lương thực sẽ hỗ
trợ cho các vị trí đối ngoại và tạo ra một số cứu cánh để chống chọi với lạm phát, thì
chi tiêu đầu tư giảm sút sẽ góp phần làm giảm mạnh mức tăng trưởng của khu vực này
xuống 6,7% trong năm 2009. Quá trình hồi phục dần dần ở các thị trường nước ngoài

hoạt động để kìm giữ các tỷ lệ lạm phát cơ bản, cải thiện chất lượng các hệ thống ngân
hàng, và tạo dựng các công cụ đệm để chống lại khủng hoảng tài chính dây truyền.
Tuy nhiên, trong năm 2008, lạm phát toàn phần tăng lên tương ứng với giá dầu mỏ và
lương thực tăng, và các nhà hoạch định chính sách ở các nước như Braxin và Chilê đã
16
tăng các tỷ lệ lãi suất. Các luồng vốn vào khu vực này bị giảm tới 45% trong khoảng
giữa tháng 1 và tháng 9/2008, so với cùng kỳ năm 2007. Sự suy giảm ở cầu bên ngoài
và ở các thị trường tài chính quốc tế, kết hợp với mức giảm gần đây của giá cả hàng
hoá, làm giảm mức tăng trưởng GDP từ 5,7% vào năm 2007 xuống 4,4% vào năm
2008.
Tốc độ phát triển chậm lại toàn cầu và thâm hụt ở các luồng vốn thể hiện các rủi ro
rõ ràng đối với mức tăng trưởng bền vững, đặc biệt là tạo áp lực lên đầu tư khu vực tư
nhân. Do giá hàng hoá tiếp tục giảm đi, một số nước xuất khẩu chính, đặc biệt là
Achentina, sẽ có thể có các thặng dư tài khoản vãng lai chuyển sang thâm hụt. Đối với
các nước khác, bao gồm Braxin và Mêxicô, độ sâu của sự suy thoái ở Mỹ và châu Âu
sẽ khiến xuất khẩu có tăng trưởng âm, còn nhập khẩu thu hẹp dần sẽ dẫn tới sự quay
trở lại của vị trí thặng dư.
Mức tăng trưởng GDP ở khu vực được cho là giảm xuống 2.1% trong năm 2009
trước khi tăng lại lên 4% vào năm 2010. Các sự kiện xảy ra ở từng nước cũng sẽ tạo ra
một thách thức: tình trạng ở một số nước Andean có xu hướng kém ổn định: Cộng hoà
Vênêzuêla vừa trải qua một đợt quốc hữu hoá nữa và mức tăng trưởng của nước này
có thể sẽ giảm từ 8,4% trong năm 2007 xuống 3,2% vào năm 2010; còn GDP của
Achentina có thể sẽ giảm từ 8,7% trong năm 2007 xuống 4% trong năm 2010, với mức
tăng trưởng 1,5% ở đáy khe năm 2009.
Các nước đang phát triển của vùng Trung Đông và Bắc Phi đã cho thấy một ví dụ
thú vị về sự phân hoá của các hiệu ứng do mức leo thang ở giá lương thực và dầu mỏ
toàn cầu gây ra. Ở các nền kinh tế xuất khẩu dầu lửa, mức tăng doanh thu của dầu lửa
và khí tự nhiên lên tới 200 tỷ USD đã củng cố cho mức tăng trưởng 5,8% trong năm
2008, giảm xuống từ 6,4% trong năm 2007. Mức tăng trưởng cầu nội địa chậm lại ở
nước Cộng hoà Hồi giáo Iran (nơi có mức tăng trưởng GDP giảm từ 7,8% xuống

cách điều chỉnh từng phần giá nhiên liệu nội địa, cắt giảm chi tiêu phát triển, và (bước
đầu) thắt chặt chính sách tiền tệ.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang đặt áp lực giảm hơn nữa lên mức tăng
trưởng. Các luồng vốn vào giảm sút (xuống tới 40%, trong giai đoạn tháng 1-9/2008
so với cùng kỳ năm 2007, và các kỳ hạn tín dụng khắc nghiệt sẽ làm giảm đầu tư khu
vực tư nhân, trong khi các luồng chuyển tiền về giảm sút sẽ bổ sung áp lực lên mức
tăng trưởng. Trợ giá lương thực và nhiên liệu đã thúc đẩy phí tổn tài chính tăng cao,
làm đảo ngược tiến độ gần đây trong việc củng cố tài chính. Và những mức thâm hụt
ngày càng tăng đang thu hẹp phạm vi hỗ trợ cho các chương trình nhà nước khẩn cấp
khác, bao gồm cơ sở hạ tầng quá tải của khu vực. Mức tăng trưởng chậm lại rõ nhất ở
Ấn Độ và Pakistan, là những nước có sản xuất công nghiệp giảm mạnh còn xung
lượng sản xuất của Nam Á gần đây đã giảm từ mức đỉnh là 12% trong tháng 4/2008
xuống mức giảm 2% vào tháng 8.
GDP của Nam Á cũng được cho là giảm xuống 5,4% trong năm 2009 nhưng sẽ
phục hồi lên 7,2% vào năm 2010. Mức tăng trưởng vững chắc sẽ được hỗ trợ bởi cầu
nước ngoài cải thiện và giá hàng hoá thấp hơn.
Tăng trưởng của khu vực châu Phi cận Sahara, ngoại trừ Nam Phi, tăng một mức
đáng kể là 7% trong năm 2007, mức tăng cao nhất trong 35 năm qua, nhờ hiệu suất
vững chắc của cả các nước nhập khẩu lẫn xuất khẩu dầu lửa. Tăng trưởng của các
nước xuất khẩu dầu lửa tăng lên 8,2% trong năm 2007, vượt mức 5,5% đạt trong 5
năm qua; tăng trưởng của các nước nhập khẩu dầu lửa đã phá vỡ kỷ lục trong suốt 25
năm, đạt mức 5,4%. Những tiến bộ của GDP đã trở nên rộng hơn và ổn định hơn trong
những năm gần đây, đặc biệt là giữa các nước nhập khẩu dầu. Và một đặc điểm đáng
lưu ý và khuyến khích đối với hiệu suất gần đây của châu Phi là mức đóng góp ổn định
của đầu tư vào tăng trưởng chung của GDP.
Trong năm 2008, hoạt động kinh tế ngoài Nam Phi vẫn mạnh ở mức 6,6% khi các
mức tăng trưởng GDP giữa các nước sản xuất dầu giảm nhẹ xuống 7,8%, do kết hợp
với nhóm lớn hơn gồm các nước nhập khẩu dầu có mức tăng trưởng GDP giảm xuống
18
4,2% trong năm. Đầu tư tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng GDP, trong khi xuất khẩu ròng

vòng một năm. Sự suy giảm từ từ hiện nay trong phát triển toàn cầu có nghĩa là một số
nước xuất khẩu đã có thời gian chuyển đổi sang các thị trường phát triển mạnh hơn so
ở các nước đang phát triển. Ví dụ như trong khi tỉ lệ của Mỹ trong khối lượng hàng
xuất khẩu của Ấn Độ giảm 17,1% năm 2004 xuống 15,3% năm 2007, tỉ lệ của Trung
Quốc trong hàng nhập khẩu của Ấn Độ tăng từ 5,5% lên 8,4%.
Ngoài ra, nhiều nước (trong đó có một số nước Mỹ Latinh) đã giảm lượng hàng
xuất khẩu bởi cầu của Mỹ thấp làm cho giá cả hàng hóa cao hơn. Hơn nữa, tác động
đối với khối lượng thương mại thế giới giảm nhẹ do tăng trưởng thương mại mạnh mẽ
19
giữa các khu vực ở Đông Á, phần lớn là do sự tiếp tục hội nhập của Trung Quốc vào
các thị trường toàn cầu. Tăng trưởng trong xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc
tiếp tục vượt mức 20% trong suốt hai năm qua, trong khi ngoài Trung Quốc, tăng
trưởng xuất khẩu vẫn mạnh.
Các nhân tố làm lắng dịu tình hình có vẻ như sẽ chưa được kích hoạt trong năm
2009. Sự suy giảm trong nhu cầu nhập khẩu ở những nước có thu nhập cao tăng lên,
chỉ một số ít các trung tâm phát triển có thể xuất hàng hóa trở lại, và giá cả hàng hóa
đang giảm dần. Do đó, các nước đang phát triển đang rơi vào trình trạng doanh thu từ
xuất khẩu giảm mạnh, tuy nhiên tình trạng này có thể chỉ mang tính tạm thời. Những
nước này với nguồn dự trữ không đủ duy trì nhập khẩu sẽ cần phải dựa vào sự kết hợp
giữa giảm giá tỉ giá hối đoái và phát triển chậm hơn để hạn chế lượng hàng nhập khẩu.
Các dòng tiền chuyển vào các nước đang phát triển, đạt khoảng 283 tỉ USD năm
2008, bắt đầu giảm nhẹ trong nửa cuối năm và dự đoán sẽ giảm mạnh vào năm 2009.
Khoản tiền thu được từ nước ngoài theo đồng nội tệ dự đoán sẽ giảm do tình hình suy
thoái ở các nền kinh tế công nghiệp, thu nhập thấp hơn ở các nước xuất khẩu dầu có
thu nhập cao và tăng trưởng chậm lại ở nhiều nước đang phát triển hiện đang là điểm
đến của những người nhập cư.
Trong khi dự đoán các dòng tiền chuyển vào các nước đang phát triển giảm vì tỉ lệ
GDP của nước nhận tiền sẽ giảm từ 1,8 xuống 1,6% trong năm 2009, mức độ suy giảm
của nước đó phụ thuộc đáng kể vào sự tiến triển của tỉ giá hối đoái. Sự chao đảo hiện
nay trong tỉ giá hối đoái song phương có ảnh hưởng lớn tới sự thay đổi dự tính trong

cả dầu và thực phẩm giảm còn một nửa, từ mức đỉnh điểm 8,1% GDP năm 2008
xuống 4,3% năm 2009, do giá hàng hóa thấp hơn và khối lượng hàng hóa nhập khẩu
giảm mạnh từ 8,1% năm 2008 xuống 1,5% năm 2009. Tác động tới sự phát triển toàn
cầu này cần phải được giải quyết vào năm 2010 khi giá dầu đi vào ổn định, giá của các
mặt hàng khác chỉ giảm 4,3% và thương mại thế giới bắt đầu hồi phục.
Khủng hoảng tài chính là nguyên nhân chính dẫn đến những biến đổi bất thường
của tỉ giá hối đoái trong suốt mùa thu năm 2008. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới
đều mất giá so với đồng USD Mỹ và đồng yên Nhật, điều này phản ánh khu vực đầu tư
an toàn ở Mỹ. Chứng khoán kho bạc, sự đảo chiều của đồng yên nhờ các hoạt động
thương mại và chính sách tháo đòn bẩy của các ngân hàng, các công ty và các nhà đầu
tư. Không đồng tiền của nước đang phát triển nào được đánh giá cao so với đồng USD
hơn 0,5% trong suốt thời kỳ này. Trung bình, đồng tiền của các nước đang phát triển
đã giảm 15% so với đồng USD, và đồng tiền của nước có thu nhập cao cũng bị mất giá
(trừ Nhật Bản). Nói chung tình hình cạnh tranh của Mỹ, Nhật và Trung Quốc và những
nước có đồng tiền ổn định so với đồng USD cũng sẽ suy giảm; cạnh tranh với các
nước có đồng tiền bị sụt giá sẽ được cải thiện trên những thị trường này. Kết quả là,
việc thúc đẩy mạnh mẽ cho xuất khẩu ròng mang lại tăng trưởng cho Mỹ có vẻ yếu đi,
đồng thời xuất khẩu ròng sẽ hỗ trợ cho việc phục hồi tăng trưởng của nhiều nước đang
phát triển.
1.6. Các thị trường hàng hóa
Giá cả hàng hóa – có xu hướng tăng cao hơn kể từ năm 2003 – tiếp tục tăng mạnh
từ năm 2007 tới nửa đầu năm 2008. Đến giữa tháng 11, giá cả giảm mạnh, xóa bỏ tình
hình giá cả tăng cao của những tháng đầu năm 2008. Việc giảm giá bất ngờ này phản
ánh phản ứng truyền thống của thị trường hàng hóa đối với sự tăng trưởng chậm chạp
trên toàn thế giới tại thời điểm của sự bùng nổ khủng hoảng, sự suy giảm này bị thổi
phồng và càng mạnh hơn do khủng hoảng tài chính. Vào mùa hè năm 2008, giá năng
lượng tăng hơn 80% tính bằng đồng USD so với một năm trước, trong khi giá hàng
hóa khác chỉ cao hơn 35%.
Hầu hết tất cả giá cả hàng hóa khác ngoài giá năng lượng tăng lên trong suốt năm
2008 là ngũ cốc (hơn 60%), chất béo và dầu (hơn 34%) và phân bón (hơn 140%). Giá

Phản ứng về lượng cung ở các nước ngoài OPEC rất đáng thất vọng. Tuy nhiên,
cung cấp dầu mỏ của các nước ngoài OPEC bắt đầu tăng về số lượng tại một số khu
vực và dự tính sẽ tăng lên trong nửa cuối năm 2008 và trong suốt năm 2009-10.
Kết quả là nhu cầu giảm nhưng cung lại tăng, giá dầu dự đoán đạt trung bình
75USD/thùng trên danh nghĩa trong giai đoạn 2008-2010, phản ánh giá dầu giảm thực
sự hơn 30%.
1.6.2 Giá nhiều kim loại giảm sau khi nhu cầu thu hẹp lại
Giá của nhiều kim loại đã sụt giảm trong những tháng gần đây do sự tăng trưởng
chậm chạp trên toàn thế giới và triển vọng cung được cải thiện. Giá niken giảm hơn ba
phần tư từ mức cao nhất năm 2007, một phần là do những khó khăn trong các lĩnh vực
sản xuất ô tô và xây dựng. Giá cả giảm dưới mức chi phí cận biên của các nhà sản xuất
22
chi phí cao, và một số nhà máy phải đóng cửa và các dự án mới phải hoãn lại hoặc
phải xem xét lại. Giá kẽm cũng giảm gần bằng niken tính theo tỉ lệ phần trăm. Giá chì
giảm hơn 60% khi tình hình cung ứng tăng lên. Giá của các loại kim loại này dự tính
sẽ giảm hơn nữa khi các nguồn cung mới tiếp tục được bổ sung.
Đồng là một trong số ít kim loại có giá vẫn duy trì ở mức cao trong suốt nửa đầu
năm 2008 mặc dù nhu cầu có giảm đi, lượng cung lớn giảm do tình trạng đình công ở
khu vực Mỹ Latinh và các nguồn cung mới chậm đi vào hoạt động so với tiến độ giữ
cho giá đồng duy trì ở mức cao. Tuy nhiên giá đồng đã sụt giảm vào nửa cuối của năm
2008 vào thời điểm khủng hoảng tài chính và của môi trường kinh tế toàn cầu yếu
kém. Nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc kém hơn trong năm 2008 và tốc độ xây
dựng nhà ở trên toàn thế giới chậm lại góp phần to lớn trong sự suy giảm nhu cầu này.
Tuy nhiên, giá cả vẫn duy trì ở mức cao hơn chi phí sản xuất và dự đoán sẽ tiếp tục
giảm mạnh tới năm 2010 khi các nguồn cung mới tiếp tục được bổ sung.
Nhôm – một trong những kim loại chính có giá không thay đổi trong suốt thời kỳ
gần đây do tăng năng suất ở Trung Quốc – trở nên đắt đỏ hơn trong giai đoạn hiện nay
do nhu cầu trên thế giới vẫn cao và chi phí điện tăng, đây là một nguồn đầu vào chính
trong quá trình sản xuất nhôm. Tương lai giá nhôm phụ thuộc lớn vào tốc độ đầu tư
vào các nguồn cung mới (đặc biệt ở Trung Quốc và Trung Đông), cũng như mức chi

EU là dầu diesel sinh học, có nguyên liệu từ dầu hạt cải, một loại dầu thay thế gần gũi
với dầu cọ và dầu nành.
Giá cao su cũng bắt đầu giảm nhẹ vào tháng 7 và tháng 8/2008, đây là một tín hiệu
không đáng ngạc nhiên bởi vì giá cao su giảm theo giá dầu thô (cao su tổng hợp làm từ
dầu hỏa). Các dấu hiệu giảm giá cũng nhận thấy ở ngành đồ uống, với giá ca-cao giảm
từ 3 USD/kg vào tháng 6/2008 xuống còn 2 USD/kg vào tháng 11. Các mặt hàng nông
sản khác, đặc biệt là nguyên liệu thô và một số loại thực phẩm chẳng hạn như chuối và
đường giảm giá ít hơn bởi vì giá của các mặt hàng này trước đó không tăng mạnh và
các mặt hàng này không liên quan nhiều tới giá năng lượng.
Giá phân bón tăng mạnh nhất trong số tất cả các hàng hóa trong năm 2008 với chỉ
số giá tăng 116% từ tháng 1 đến tháng 8/2008; giá tăng là do sự kết hợp nhu cầu tăng
mạnh (cùng với giá các mặt hàng nông sản trồng trọt tăng cao), năng lực sản xuất bổ
sung hạn chế, chi phí sản xuất cao hơn do giá năng lượng cao, và thuế xuất khẩu của
Trung Quốc để đảm bảo nguồn cung trong nước. Chẳng hạn như giá phân lân (DAP)
tăng gần 110% từ tháng 1 đến tháng 8/2008 trong khi giá phân u-rê tăng gấp đôi chỉ
trong 4 tháng (12/2007 đến 4/2008). Tuy nhiên, giá dầu thô và giá ngũ cốc giảm cùng
với lượng cầu ít đi đang có tác động tới giá phân bón. Chẳng hạn như phân u-rê giảm
xuống 250USD/tấn (mức thấp nhất trong vòng 2 năm) trong khi giá phân lân trung
bình đạt mức dưới 650USD/tấn tại thời điểm 20/11.
Lĩnh vực cây trồng tương lai trong hứa hẹn nhiều triển vọng. Sản lượng ngũ cốc dự
đoán sẽ tăng khoảng 4% trong năm nay và sản lượng hạt có dầu dự tính sẽ tăng gấp hai
lần. Mặc dù sản lượng tăng sẽ làm tăng số lượng dữ trữ, việc tiếp tục tăng cầu về nhiên
liệu sinh học sẽ gây áp lực về hàng dự trữ trong kho. Ngô dùng để sản xuất ethanol ở
Mỹ dự tính sẽ tăng 33% sản lượng cây trồng năm 2008, chiếm gần bằng tất cả lượng
tăng lên trong sản lượng tiêu thụ ngô toàn cầu và làm cho sản lượng ngô dữ trữ toàn
cầu giảm. Ngược lại, khối lượng lớn sản lượng lúa mì và hạt có dầu tăng lên sẽ phần
nào giúp tái thiết kho dự trữ. Các kho dự trữ này vẫn duy trì ở mức thấp do các tiêu
chuẩn trước đây, tuy nhiên giá cả sẽ vẫn dễ bị ảnh hưởng do sự phá vỡ cung và sự tăng
lên của cầu.
Nói chung, giá ngũ cốc dự tính sẽ giảm khoảng 28% năm 2009 và giảm bớt 3% vào

những thiệt hại về thu nhập ở vòng đầu tiên vượt hơn 10% GDP. Giá kim loại giảm dự
báo sẽ làm giảm thu nhập hơn 2% GDP tại Chi lê, Mauritania, Mông Cổ, Papua New
Guinea, Suriname, và Zimbabwe. Các nước dựa nhiều vào xuất khẩu ngũ cốc sẽ gặp
nhiều khó khăn. Các nhà xuất khẩu như Achentina (ngô, đậu nành, lúa mì), Bolivia
(đậu nành), Gambia (lạc), Guinea-Bissau (lạc), Guyana (gạo) và Paraguay (đậu nành)
sẽ thiệt hại từ 1,6% đến 9% GDP, mặc dù đối với một số nước thiệt hại có thể giảm
nhẹ hơn nhờ giá dầu giảm.
Xét đến những tác động giảm giá hàng hóa tới giá hàng xuất khẩu và nhập khẩu,
hơn một nửa trong danh sách 162 nền kinh tế dự đoán sẽ tăng cường các điều khoản
thương mại, trong đó 24 nước sẽ đạt mức vượt trên 1,5% GDP. Khoảng một phần tư
các nước này, trong đó có hầu hết các nước xuất khẩu dầu, sẽ phải gánh chịu thiệt hại
thu nhập ở vòng đầu tiên vượt mức 1,5% GDP.
1.7. Những rủi ro và bất ổn chính
Sự đóng băng của các thị trường tín dụng, sự sụp đổ của các thị trường chứng
khoán, những biến động lớn của tỷ giá hối đoái và giá các nguyên vật liệu tăng cao
25
cũng như những phản ứng chính trị chưa từng có đã tạo nên một môi trường cực kỳ bất
ổn đối với những người tham gia thị trường cũng như những nhà dự báo.
Nhiều vấn đề có thể xảy ra đối với nền kinh tế thế giới vẫn còn hiện hữu trong bối
cảnh hiện nay, cho dù sự sụp đổ của tồi tệ của các thị trường có thể tránh được. Tăng
trưởng GDP toàn cầu năm 2009 có thể tối đa là 1,4%, tối thiểu là 0,4% (so với dự báo
0,9%).
Mức tin tưởng sẽ cao hơn đối với các dự báo cho năm 2010. So với sự phục hồi
được dự kiến trong các dự báo cơ sở, những kết quả đầu ra có lẽ sẽ vẫn khiêm tốn vì
sự hợp nhất trong lĩnh vực ngân hàng phản ứng như một lực hãm liên tục đối với sự
tăng trưởng nói chung và sự tăng trưởng tín dụng vẫn dẫm chân tại chỗ từ nhiều năm
nay. Cũng có thể những tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế
sẽ ít hơn, trong trường hợp này sự nới lỏng đáng kể của chính sách tiền tệ và biện pháp
thuế khoá quy mô rộng áp dụng cho cuộc khủng hoảng có thể sẽ dẫn tới sự phục hồi
ngoạn mục kinh tế năm 2010. Một kịch bản như vậy ẩn chứa rủi ro gia tăng lạm phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status