BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN ANH TUẤN NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT LẤY THỂ THỦY
TINH ĐỤC VÀ ĐẶT THỂ THỦY TINH NHÂN
TẠO Ở MẮT CẬN THỊ NẶNG
Chuyên ngành: Nhãn khoa
Mã số: 3.01.46 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Vào hồi 14 giờ 00 ngày 06 tháng 09 năm 2006
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện quốc gia, Thư viện Đại
học Y Hà Nội, Thư viện Bệnh viện Mắt Trung ương, Thư viện thông
tin y học Trung ương.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH VÀ BÀI BÁO
ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1- Trần Anh Tuấn, Hà Huy Tiến, Võ Quang Nghiêm, (2003),
“Kết quả bước đầu trong nghiên cứu phẫu thuật đặt thể thủy
tinh nhân tạo ở mắt cận thị nặng”, Y học thành phố Hồ Chí
Minh, tập 7, phụ bản số 1, 110-114.
2- Trần Anh Tuấn, Hà Huy Tiến, Võ Quang Nghiêm, (2005),
“Biến chứng sau mổ lấy thể thủy tinh đục trên mắt cận thị
nặng bằng phương pháp nhũ tương hóa và đặt kính nội nhãn
hậu phòng”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 9, phụ bản số
1, 111-115. 1
MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN
1- Tính cấp thiết của đề tài luận án:
Tần suất cận thị nặng thay đổi tùy theo chủng tộc, khoảng 1-2%
dân số. Tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng cận thị nặng ảnh hưởng rất nhiều
đến khả năng sinh hoạt và làm việc của bệnh nhân.
Trên mắt cận thị nặng, đục thể thủy tinh xuất hiện sớ
2
2- Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp mới của luận án:
Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách tương
đối toàn diện về phẫu thuật lấy thể thủy tinh (TTT) đục và đặt thể
thủy tinh nhân tạo (TTTNT) ở mắt cận thị nặng, đặt biệt có áp dụng
kỹ thuật tiên tiến tán nhuyễn thể thủy tinh bằng sóng siêu âm
(phương pháp phaco) qua đường rạch nhỏ.
Công trình được thự
c hiện trong thời gian trên 3 năm nên các số
liệu về biến chứng muộn của phẫu thuật có giá trị khoa học.
Công trình đưa ra được một số kinh nghiệm về phẫu thuật lấy thể
thủy tinh đục trên mắt cận thị nặng, nhấn mạnh vai trò của công thức
SRK/T trong việc tính công suất thể thủy tinh nhân tạo cho mắt cận
nặng, kỹ thuật mở bao sau bằng laser YAG với đườ
ng kính lỗ mở
nhỏ, vai trò của điều trị bệnh lý võng mạc trước và sau phẫu thuật thể
thủy tinh là những vấn đề mà các nhà nhãn khoa ít để ý.
Các kết quả của luận án sẽ giúp các nhà nhãn khoa có thêm dữ liệu
để có chỉ định phẫu thuật lấy TTT đục hợp lý, có cơ sở để lựa chọn
phương pháp phẫu thuật cũng như lựa chọn công thức tính công suất
TTTNT thích hợ
p nhất. Đồng thời, với những kinh nghiệm mà luận
án đưa ra trong phẫu thuật lấy thể thủy tinh đục trên mắt cận thị nặng
sẽ giúp nâng cao kết quả phẫu thuật và hạn chế biến chứng cho bệnh
nhân.
3- Cấu trúc luận án:
Luận án dày 136 trang, bao gồm:
- Đặt vấn đề 2 trang.
- Tổng quan 33 trang.
- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 25 trang.
giậu, thoái hóa dạng đá, thoái hóa dạng lát đá (Pavimenteux), thoái
hóa sắc tố, teo biểu mô sắc tố.
+ Bong võng mạc trên mắt cận thị nặng.
1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH KHÚC XẠ CHO MẮT CẬN
THỊ NẶNG:
1.3.1. Phương pháp không phẫu thuật:
Đeo kính, thuốc.
1.3.2. Phương pháp phẫu thuật:
- Phẫu thuật giác mạc (GM): Rạch GM hình nan hoa, vòng trong
GM.
- Phẫu thuật tác động vào củng mạc (CM): Ghép CM bằng chất độn. 4
- Phẫu thuật can thiệp vào nội nhãn: Đặt TTTNT.
1.4. PHẪU THUẬT LẤY THỂ THỦY TINH ĐỤC VÀ ĐẶT THỂ
THỦY TINH NHÂN TẠO TRÊN MẮT CẬN THỊ NẶNG:
1.4.1. Các phương pháp phẫu thuật lấy thể thủy tinh đục và đặt
thể thủy tinh nhân tạo:
- Phương pháp lấy TTT trong bao và đặt TTTNT tiền phòng.
- Phương pháp lấy TTT ngoài bao bằng kỹ thuật rửa hút chất nhân và
đặt TTTNT hậu phòng.
- Phương pháp lấy TTT ngoài bao bằng phương pháp phaco và đặt
TTTNT hậu phòng.
1.4.2. Thể thủy tinh nhân tạo:
- Các chất liệu chế tạo thể thủy tinh nhân tạo: PMMA, acrylic và
silicon.
- Đo thông số để tính công suất thể
thủy tinh nhân tạo:
- Công thức tính công suất kính nội nhãn:
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn:
- Các bệnh nhân cận thị nặng có đục thể thủy tinh, điều trị tại khoa
Mắt bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ
tháng 11 năm 2000 đến tháng 1 năm 2005.
- Bệnh nhân bị bệnh cận thị nặng, tức là có độ khúc xạ trên – 6 D,
mắt có chiều dài trục nhãn cầu trên 26 mm kèm đục TTT.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh mắt, toàn thân ả
nh hưởng kết quả
phẫu thuật.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Can thiệp lâm sàng, tiến cứu, mô tả cắt dọc, tự đối chứng.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu:
Theo kết quả nghiên cứu của Lee K.H, Lee J.H có 95,8% bệnh
nhân cận thị nặng sau mổ lấy thể thủy tinh với phương pháp phaco và
đặt thể thủy tinh nhân nhân tạo có thị lực tăng trên 2 dòng.Trong
nghiên cứu này, chúng tôi xác định tỷ lệ 95% số mắt sau phẫu thuật
có cải thiện th
ị lực trên 2 dòng (không điều chỉnh kính) thì phương
pháp phẫu thuật này có hiệu quả.
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau: 6
2
2/
2
)1(
- Phân loại mức độ cứng nhân thể thủy tinh để chọn kỹ thuật phẫu
thuật: Theo 5 mức độ (I, II, III, IV, V).
- Phân loại hình thái đục TTT:
+ Đục nhân; + đục bao trước; + đục bao sau; + đục vỏ sau.
2.2.4.2. Qui trình phẫu thuật và thu thập số liệu trong phẫu thuật:
- Áp dụng phương pháp phaco với k
ỹ thuật “Chip & flip” cho nhân
cứng độ I, II, hoặc kỹ thuật “Stop & chop” cho nhân độ III.
- Áp dụng phương pháp phẫu thuật lấy thể thủy tinh ngoài bao cho
các trường hợp nhân cứng độ IV, V.
- Các biến cố của phẫu thuật:
Do đường rạch, xé bao trước liên tục, bao sau, thoát dịch kính, tổn
thương nội mô, tổn thương biểu mô thấy được.
2.2.4.3. Theo dõi, thu thập số liệu sau phẫu thuật.
2.2.4.4. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả phẫ
u thuật:
Đánh giá kết quả gần: 7
- Kết quả thị lực: Dựa theo bảng phân loại của tổ chức Y tế thế giới
(1997).
- Mức độ tăng thị lực sau phẫu thuật.
- Mức độ hồi phục sau phẫu thuật: Ổn định độ loạn thị sau phẫu
thuật.
Đánh giá kết quả xa:
- Kết quả thị lực.
- Biến chứng đục bao sau.
- Biến chứng bong võng mạc.
2.2.5- Phân tích và xử
Khác biệt 1,19 1,26 0,25
p 1-2
< 0,01 < 0,01 > 0,05
Mắt bệnh nhân nữ có công suất hội tụ lớn hơn mắt bệnh nhân nam
trung bình trên 1D, khác biệt có ý nghĩa (p<0,01).
3.2.4. Tình trạng đáy mắt:
Đa số mắt cận thị nặng (83,9%) ở độ tuổi trên 50 tuổi có thoái hóa
võng mạc do cận thị.
3.2.6. Tình trạng thị lực (LogMAR) của mắt nghiên cứu:
- Thị lực trung bình trước phẫu thuật:
Theo bảng thị lực LogMAR, thị lực trước phẫu thuậ
t là 1,14838 ±
0,03517 (đếm ngón tay 1 m) khi không có kính điều chỉnh và là
0,92287 ± 0,14057 (2-3/10) khi có kính điều chỉnh.
- Thị lực không kính và có kính điều chỉnh:
Bảng 3.6: Phân loại mức độ thị lực trước khi phẫu thuật
Mức thị lực TL không kính TL có kính
ĐNT < 3 m
70 mắt (92,1%) 7 mắt (11,7%)
ĐNT 3m → < 1/10 6 mắt (7,9%) 5 mắt (8,3%)
1/10 → < 3/10
Không có 20 mắt (32,3%)
3/10 → < 6/10 Không có 23 mắt (38,3%)
≥6/10
Không có 5 mắt (8,3%)
Tổng số (mắt) 76 60 9
Trước phẫu thuật, 92,1% mắt không điều chỉnh kính và 11,7% mắt
nghiên cứu (p>0,05).
- Công suất thể thủy tinh nhân tạo được dùng cho hai nhóm:
Khác biệt công suất thể thủy tinh nhân tạo là 1,2 D. Sự khác biệt
giữa hai nhóm có ý nghĩa (p<0,05). 10
3.3. KẾT QUẢ TRONG PHẪU THUẬT:
3.3.1. Phương pháp phẫu thuật:
Phương pháp lấy thể thủy tinh ngoài bao: Có 8 ca có mức độ cứng
nhân IV và V. (Kết quả của 8 ca này không tính trong phần kết quả
chung sau phẫu thuật, chỉ dùng để đánh giá về loạn thị và bong võng
mạc sau mổ).
Phương pháp phaco: 76 ca có mức độ nhân cứng độ I, II, III được
áp dụng phương pháp phaco, trong đó 22 ca (29%) áp dụng kỹ thuật
“Chip & flip” và 54 ca (71%) áp dụng kỹ thuật “Stop & chop”.
3.3.2. Đường rạch:
Tất cả 76 ca phẫ
u thuật bằng phương pháp phaco đều được thực
hiện với đường rạch giác mạc trực tiếp một mặt cắt (single plane)
phía thái dương. Không có trường hợp nào bị hở vết mổ, trong và sau
phẫu thuật không phải khâu thêm.
3.3.3. Xé bao trước liên tục:
Sử dụng chất nhầy là methylcellulose 1%, xé bao trước với đường
kính xé bao khoảng 4-5 mm. Không có trường hợp nào bị rách miệng
bao trước ra chu biên phải chuyển sang xé bao trước kiểu mở hộ
p.
3.3.4. Đặt thể thủy tinh nhân tạo:
Trong 76 ca sau phẫu thuật phaco, có 68 ca được đặt thể thủy tinh
nhân tạo có chất liệu làm bằng acrylic, 5 silicon, 3 PMMA. Trong 8
c tính công suất SRK/II là -1,9 D, ở mắt áp
dụng công thức SRK/T còn dưới -1 D, khác biệt có ý nghĩa ở 1, 3, 6,
12, 18 tháng sau phẫu thuật với p<0,05.
3.4.3. So sánh kết quả giữa phẫu thuật ngoài bao và phaco:
- Độ trụ (D) trung bình còn lại sau phẫu thuật: Độ kính trụ bổ sung
thêm cao ở mắt áp dụng phương pháp ngoài bao, trung bình -2D đến
-2,5D, mắt phẫu thuật với phương pháp phaco còn -1D đến -1,5D,
khác biệt -1.0D. Khác biệt có ý nghĩa với p<0,05 ở thời điểm 1, 3, 6,
12 tháng sau mổ.
3.5. VỀ BIẾN CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT:
3.5.1. Biến chứng trong phẫu thuật:
- Xé bao trước liện tục: 100% không bị rách ra ngoài xích đạo thể
thủy tinh. 12
- Rách bao sau: 1 ca xảy ra với phương pháp phaco (1/76 ca), 1 ca
xảy ra với phương pháp ngoài bao (1/8 ca).
- Di lệch thể thủy tinh nhân tạo: Không có
- Hở vết mổ sau phẫu thuật phaco: Không có trường hợp nào phải
khâu vết mổ.
- Biến chứng khác trong phẫu thuật: Không có trường hợp nào bị
xuất huyết tống, tăng nhãn áp trong khi phẫu thuật.
3.5.2. Biến chứng sau phẫu thuật:
3.5.2.1. Biến chứng sớm của phẫu thuật:
- Biến chứng tạ
i giác mạc:
+ Bỏng vết mổ: 1 ca (1,31%), viêm giác mạc khía: 13 ca (17%),
trong đó có 7 ca không đo được thị lực ngày sau mổ vì giác mạc mờ,
- Biến chứng tại mống mắt-tiền phòng:
mối liên quan giữa chất liệu thể thủy tinh nhân tạo và mở bao sau
bằng laser YAG (Fisher’exac = 0,830, p>0,05).
- Liên quan giữa mở bao sau và tuổi: Trong số ca phải làm laser
YAG có 41,3% ca dưới 60 tuổi, 10% ca trên 60 tuổi. Có sự khác biệt
giữa hai nhóm tuổi, (χ
2
Yates = 8,84. p<0,01).
- Bong võng mạc:
+ Điều trị quang đông võng mạc dự phòng: Có 5 ca được làm quang
đông dự phòng.
+ Bong võng mạc sau phẫu thuật: Có một ca bị bong võng mạc có lỗ
rách sau phẫu thuật lấy thể thủy tinh ngoài bao. BVM xảy ra sau
phẫu thuật 3 năm, sau điều trị bằng laser YAG 30 tháng.
+ Bong võng mạc theo phương pháp phẫu thuật: Tỷ lệ bong võng
mạc đối với phương pháp phaco là 0% (0/76 ca), tỷ lệ BVM đối với
phẫu thuật ngoài bao là 12,5% (1/8 ca). Khác bi
ệt có ý nghĩa
(Pearson χ
2
= 8,5450, p=0,003).
+ Bong võng mạc theo phương pháp điều trị bằng laser mở bao sau:
Có 22/76 ca phẫu thuật bằng phương pháp tán nhuyễn thể thủy tinh
bằng siêu âm phải mở bao sau bằng laser YAG. Không có ca nào bị
bong võng mạc sau khi được mở bao sau bằng laser YAG. Có 1/4 ca
mở bao sau bằng laser YAG trong tổng số 8 ca mổ bằng phương
pháp ngoài bao bị bong võng mạc. Kết quả trên cho thấy mở bao sau
bằng laser YAG chưa thể xác định là yếu tố gây bong võng mạc
trong nghiên cứu này.
hơn công suất hội tụ của giác mạc mắt cận thị do trục, tuy nhiên sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Như vậy, ở mắt
cận thị không do trục, công suất h
ội tụ cao của giác mạc chỉ đóng vai
trò một phần trong việc tạo ảnh ở trước võng mạc. Đóng vai trò chính 15
trong việc tạo nên độ cận cao của mắt cận thị không do trục là sự biến
đổi khúc xạ của thể thủy tinh (cận thị do chỉ số khúc xạ thay đổi), đó là
những trường hợp đục nhân thể thủy tinh ở bệnh nhân trên 50 tuổi. Kết
quả 85,5% mắt cận thị nặng do trục cũng phù hợp với các nghiên cứu
khác là cận thị do trục chiếm khoảng 90% các ca cậ
n thị.
Về tình trạng thị lực của mắt được nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trước khi phẫu thuật
bệnh nhân có thị lực trung bình khi không có kính điều chỉnh là ĐNT
1 m, 100% bệnh nhân trước phẫu thuật có thị lực dưới 1/10. Với kính
điều chỉnh, thị lực trung bình là 2/10. Với mức độ thị lực như trên thì
nhu cầu được phẫu thuật là r
ất cao.
So sánh với các nghiên cứu khác: Nghiên cứu của Tosi G.M có thị
lực trước phẫu thuật với kính điều chỉnh là dưới 5/10 (100% mắt).
Nghiên cứu của Trần Thị Phương Thu trên bệnh nhân có tuổi trung
bình là 45,78 có thị lực trung bình trước phẫu thuật là ĐNT 2-3 m.
Trong khi đó nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi có tuổi trung
bình 56,63 tuổi, có thị lực không kính trung bình trước mổ là ĐNT 1
m. Thị lực có kính trước phẫu thuật của bệnh nhân trong nhóm
nghiên cứu của chúng tôi là 0,25 ± 0,19, tương tự với kết quả nghiên
cứu của Ravalico G có thị lực trung bình 0,2 ± 0,21 trước phẫu thuật
Kết quả trong nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa hai
nhóm bệnh nhân áp dụng công thức SRK/II và SRK/T về giải phẫu
và chức năng (thị lực) trước khi nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả thị
lực sau phẫu thuật, khi không có kính điều chỉnh thêm, thị lực trung
bình của nhóm đặt thể thủy tinh nhân tạo có công suất tính theo công
thức SRK/T luôn đạt trung bình 4-5/10, còn thị lự
c trung bình của
nhóm đặt kính áp dụng công thức SRK/II là 2/10. Chênh lệch khoảng
2 dòng ở 2 năm đầu, (p<0,05).
Độ kính cầu cần điều chỉnh sau phẫu thuật ở các mắt áp dụng công
thức tính công suất SRK/II khoảng -1,9 D, ở các ca áp dụng công
thức SRK/T còn khoảng dưới -1.0 D, sự khác biệt có ý nghĩa ở các
tháng 1, 3, 6, 12, 18 tháng sau phẫu thuật với p<0,05.
Bảng 4.2: So sánh với các nghiên cứu khác dùng công thức SRK/II
Nghiên cứu Số ca Công thức
dùng
Độ cầu còn lại
Kaluzny J
39 SRK/II -3,3 D
Brandser R 8 SRK/II -1,8 D
Trần Anh Tuấn 36 SRK/II -1,9 D
Trần Anh Tuấn 48 SRK/T -1,0 D 17
Mắt áp dụng công thức SRK/T cho thị lực không kính cao hơn và
độ kính cần điều chỉnh nhẹ hơn ở mắt áp dụng công thức SRK/II.
Về chất liệu thể thủy tinh nhân tạo sử dụng và ảnh hưởng tới đục bao
sau sau phẫu thuật: Tỷ lệ mở bao sau bằng laser YAG với mắt có đặt
TTTNT có chất liệu acrylic chỉ là 27,9%, ít hơn so với TTTNT
18
kỹ thuật xé bao bằng kẹp xé bao Ultrata có sử dụng chất nhầy
methylcellulose 1%. Kỹ thuật này rất an toàn so với kỹ thuật xé bao
bằng kim và dùng nước thay chất nhầy. Nghiên cứu xé bao trước
dùng kim và nước của Lê Phú và cs có tỷ lệ xé bao thành công là
78,86% (97/123 ca). Chất nhầy có tác dụng duy trì ổn định độ sâu
tiền phòng, ép bao trước xuống, bao sẽ không bị rách ra chu biên và
ta dễ dàng tạo được lỗ mở bao có đường kính như ý. Đường kính lỗ
xé bao trước (4-5 mm) nhỏ hơ
n đường kính phần quang học của thể
thủy tinh nhân tạo (6 mm) sẽ hạn chế tình trạng kẹt kính vào bao
trước, tránh di lệch kính và giảm tỷ lệ đục bao sau. Kết quả không có
trường hợp nào bị di lệch kính.
4.2.3. Bàn về kỹ thuật trong phaco:
76 mắt trong nghiên cứu này có mức độ đục nhân II và III, được
thực hiện lấy thể thủy tinh bằng phương pháp phaco với kỹ thuật
“Chip & flip” và “Stop & chop”. Với thờ
i gian phaco trung bình 1
phút cho một ca, chủ yếu dùng lực hút mạnh để hút chất nhân. Không
có biến cố trong thì phaco, chỉ có 1 ca bị rách bao sau trong thì rửa
hút chất vỏ nhân. Nghiên cứu của Trần Thị Phương Thu (2004) với
123 mắt mức độ đục II, III, IV cũng áp dụng kỹ thuật “Chip & flip”
và “Stop & chop”, không có biến cố trong phẫu thuật.
Chúng tôi nhận thấy phương pháp phaco áp dụng an toàn cho mắt
cận thị nặng đục thể thủy tinh độ I, II, III.
4.3. BÀN VỀ KẾT QUẢ THỊ LỰC SAU PHẪU THUẬT:
4.3.1. Về thị lực không có kính điều chỉnh sau phẫu thuật:
Thị lực trung bình trước phẫu thuật khi không có kính điều chỉnh là
ĐNT 1 m, sau phẫu thuật là 3-4/10. Thị lực sau phẫu thuật tăng so với
trước phẫu thuật trung bình 6 dòng (p<0,001). Trên 60% ca có thị lực từ
- Bỏng giác mạc: Chỉ có một trường hợp bỏng giác mạc trong khi
mổ, còn lại 75 trườ
ng hợp (98,6%) không có vấn đề này vì nhân thể
thủy tinh không quá cứng (chỉ áp dụng phương pháp phaco cho các
nhân có mức độ cứng I, II, III).
- Rách bao sau: Xảy ra trong thì rửa hút chất nhân. 1 ca trong phẫu
thuật phaco, 1 ca trong phẫu thuật ngoài bao. Theo Maloney W.F thì
biến chứng rách bao sau thường hay xảy ra trong thì rửa hút chất
nhân hơn là trong thì tán nhuyễn thể thủy tinh bằng siêu âm.
4.4.2. Biến chứng sau phẫu thuật
4.4.2.1. Biến chứng sớm: 20
- Tăng nhãn áp: Có 10 mắt trong số 76 mắt tán nhuyễn thể thủy tinh
bằng sóng siêu âm (13,3%) có tăng nhãn áp tạm thời 1 ngày sau mổ,
lý do là trong phẫu thuật này, vết mổ nhỏ và nhãn cầu kín kèm theo
còn sót lại chất nhầy sau thể thủy tinh nhân tạo là nguyên nhân làm
tăng nhãn áp. Hiện tượng này được khắc phục bằng dùng đầu rửa hút
luồn giữa mặt sau thể thủy tinh nhân tạo và bao sau để rửa sạch chất
nhầy. Theo Maloney W.F thì không cần phải rửa ch
ất nhầy nằm giữa
thể thủy tinh nhân tạo và bao sau. Tuy nhiên do các tác giả nước
ngoài thường dùng chất nhầy có gốc hyaluronate nên ít gây tăng nhãn
áp. Còn chất nhầy có gốc methylcellulose có đặc tính quánh và ít hòa
tan hơn, do đó phải rửa sạch để tránh tăng nhãn áp.
- Viêm giác mạc: Có 13 ca viêm giác mạc khía sau mổ, những trường
hợp này thường kèm theo tăng nhãn áp tạm thời, không có gì khác
biệt so với các ca hậu phẫu trên mắt bình thường.
- Viêm mống mắt: Có 2 trường hợ
ảm thị lực.
+ Về ảnh hưởng của tuổi đến mức độ đục bao sau: Tỷ lệ đục bao sau
gây giảm thị lực phải mở bao sau bằng laser YAG ở nhóm tuổi dưới
60 rất cao, 41,3% (19/46 ca) số ca dưới 60 tuổi phải mở bao sau bằng
laser YAG, trong khi tỷ lệ phải mở bao sau của nhóm bệnh nhân trên
60 tuổi chỉ là 10% (3/30 ca). Tuổi trẻ là một yếu tố làm đục bao sau
trầm trọng, gây ả
nh hưởng thị lực (χ
2
Yates=8,84 p<0,01).
+ Về liên quan giữa chất liệu TTTNT và mở bao sau bằng laser
YAG: Tỷ lệ phải mở bao là 27,9% (19/68 ca) với kính acrylic, 40%
(2/5 ca) với kính silicon, 33,3% (1/3 ca) với PMMA. Theo các tỷ lệ
này, ta thấy dường như kính có chất liệu bằng acrylic ít phải mở bao
sau bằng laser hơn kính có cấu tạo bằng silicon và PMMA. Tuy
nhiên sự khác biệt không có ý nghỉa thống kê giữa các nhóm kính về
vấn đề mở bao sau bằng laser (Fisher’exac=0,830, p>0,05). Các
nghiên cứu trên thế giới về phẫu thuật lấy TTT trên mắt c
ận thị nặng
đều cho rằng đục bao sau là biến chứng thường gặp:
Bảng 4.8: So sánh tỷ lệ mở bao bằng laser YAG với các NC khác
Nghiên cứu Số mắt Trục nhãn
cầu
Laser YAG
Alldrege C.D 80 ca 26,10 mm 30%
Fan D.S
118 30,13 25,4%
Lyle W.A 109 28,07 46,7%
Tosi G.M
73 30,22 16,4%
là những thoái hóa sắc tố và sẹo võng mạc nên võng mạc còn chắc
chắn. Nghiên cứu của Barraquer C (1994) cho thấy không có tương
quan gi
ữa bong võng mạc và rách bao sau trong khi phẫu thuật.
23
KẾT LUẬN
1- Đặc điểm phẫu thuật lấy thể thủy tinh đục và đặt thể thủy tinh
nhân tạo ở mắt cận thị nặng:
- Đặc điểm của đối tượng được phẫu thuật:
+ Đặc điểm bệnh nhân là những người tương đối trẻ (trung bình
57,22 tuổi), còn trong độ tuổi lao động. Cận thị nặng kèm theo đục
TTT xuất hi
ện sớm, ảnh hưởng nhiều đến thị giác, sinh hoạt và công
việc của bệnh nhân.
+ Đặc điểm mắt cận thị nặng, độ cận cao (trung bình -13,55D), có
nhiều tổn thương thoái hóa võng mạc (83,9%), sẹo võng mạc (15,8%)
gây giảm thị lực. Cấu trúc mắt có nhiều thay đổi như dây chằng treo
thể thủy tinh giãn, tiền phòng trở nên sâu hơn trong lúc phẫu thuật,
do đó các thao tác trong mắt trở nên khó hơn do phẫu trườ
ng bị lùi
sâu xuống. Khó khăn nhiều trong thì xé bao trước liên tục (CCC), dễ
rách bao sau khi thực hiện phaco và rửa hút chất vỏ nhân. Bao sau
TTT có xuất hiện đục sớm hơn người bình thường do yếu tố tuổi của
bệnh nhân và có thể do yếu tố cận thị nặng.
- Đặc điểm của phương pháp phẫu thuật:
Phương pháp phaco giúp hồi phục nhanh, ít có loạn thị sau phẫu
cho mắt cận thị vốn d
ĩ rất yếu, hạn chế biến cố trong phẫu thuật, giúp
hồi phục thị lực nhanh.
+ Kỹ thuật lấy thể thủy tinh ngoài bao áp dụng cho nhân cứng độ IV
và V cũng đem lại thị lực tốt như kỹ thuật phaco.
+ Thể thủy tinh nhân tạo nên đặt trong mọi trường hợp nhằm giúp ổn
định khối dịch kính phía sau, hạn chế tỷ lệ đục bao sau, điề
u chỉnh
được độ cận thị trong phẫu thuật. Áp dụng công thức SRK/T để tính
công suất thể thủy tinh nhân tạo đem lại độ chính xác cao hơn công
thức SRK/II trong trường hợp nhãn cầu có chiều dài trục lớn hơn 26
mm. Chất liệu thể thủy tinh nhân tạo nên dùng loại acrylic, nếu
không có thì có thể dùng silicon, hạn chế tối đa dùng PMMA.
+ Điều trị mở bao sau bằng laser YAG sớm ngay khi có giảm thị lực
b
ằng kỹ thuật mở bao với đường kính lỗ mở nhỏ.
- Chống chỉ định:
Không nên phẫu thuật lấy thể thủy tinh ở người trẻ tuổi nếu có TTT
chưa đục nhiều vì cần giữ lại lực điều tiết cho mắt. Mặt khác, phẫu
thuật ở nhóm bệnh nhân nam, trẻ tuổi có nguy cơ bong võng mạc và
tỷ lệ đục bao sau cao ở nhóm này.